CHẤT LIỆU NUÔI DƯỠNG,TRỊ LIỆU VÀ CHUYỂN HÓA
Trích từ sách Hạnh phúc mộng và thực:
Giảng giải Kinh Tam-Di-Đề (Samiddhi Sutta)
Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
Thiền, nói cho đủ là thiền na (tiếng phạn là
dhyana), là phần thực tập nòng cốt của đạo Bụt. Thiền có mục đích giúp người
hành giả đạt tới một cái thấy sâu sắc về thực tại, cái thấy này có khả năng giải
phóng cho mình ra khỏi sợ hãi, lo âu, phiền muộn, chế tác chất liệu trí tuệ và
từ bi, nâng cao phẩm chất của sự sống, đem lại cho mình và cho kẻ khác nhiều
thảnh thơi và an lạc. Bản chất của thiền là niệm , định và tuệ
, ba nguồn năng lượng được chế tác trong khi thực tập. Ta thực tập thiền
không phải chỉ trong tư thế ngồi (thiền ngồi, tiếng Hán Việt: tọa thiền )
mà còn trong các tư thế khác như tư thế đi (thiền đi, tiếng Hán Việt: hành
thiền ) tư thế đứng, tư thế nằm, trong những lúc làm việc như giặt áo, bổ
củi, gánh nước, tưới rau hoặc lái xe. Bất cứ trong tư thế nào, bất cứ đang làm
gì và ở đâu mà trong thân tâm mình có được ba loại năng lượng ấy là mình đang
thực tập thiền. Sự thực tập này, nếu được chỉ dẫn đúng mức, có thể đem lại sự
thoải mái và an lạc ngay trong lúc thực tập. Thực tập thiền có tác dụng nuôi
dưỡng và trị liệu cho cả thân và tâm, đem lại nguồn vui sống cho người thực tập
và cho những người xung quanh. Không phải chỉ đi vào chùa hoặc thiền viện mới
thực tập được thiền. Sống trong xã hội, đi làm, chăm sóc gia đình, ta cũng có
thể tập thiền được.
Niệm :
Niệm là nguồn năng lượng
giúp ta ý thức được những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại, trong thân,
tâm ta và trong hoàn cảnh. Tiếng phạn là smrti . Nói cho đầy đủ là
chánh niệm ( samyaksmrti ). Những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện
tại trong lĩnh vực thân, tâm và hoàn cảnh thì nhiều lắm, ta không thể nhận diện
được tất cả một lượt. Nhưng ta có thể nhận diện những gì nổi bật nhất, hoặc nhận
diện những gì mà ta cần nhận diện nhất. Nếu ta để ý tới hơi thở vào và hơi thở
ra và nhận diện được đấy là hơi thở vào hoặc hơi thở ra, đó gọi là phép niệm
hơi thở . Nếu ta để ý tới bước chân và nhận diện được từng bước chân ta đặt
lên sàn nhà hoặc mặt đất, đó gọi là phép niệm bước chân . Ta có thể gọi
đó là chánh niệm về hơi thở hoặc chánh niệm về bước chân. Niệm bao giờ cũng là
niệm một cái gì, nghĩa là niệm luôn luôn có đối tượng của niệm.
Nếu ta đang giận mà ta có ý thức được là ta đang giận, đó gọi là niệm cơn
giận
.
Trong lúc ta thực tập như thế, có hai loại năng lượng đang biểu hiện trong ta:
năng lượng đầu là cái giận, năng lượng thứ hai là chánh niệm do ta chế tác bằng
bước chân hoặc bằng hơi thở chánh niệm. Năng lượng thứ hai nhận diện và ôm ấp
năng lượng thứ nhất.
Nếu sự thực tập kéo dài năm bảy phút thì năng lượng chánh niệm sẽ
đi vào trong năng lượng giận hờn, và sẽ có sự thuyên giảm và chuyển hóa. Năng
lượng niệm mang theo nó năng lượng định , (chú tâm) và năng lượng
này có thể làm phát sinh năng lượng tuệ (tuệ giác) có thể chuyển hóa được
cơn giận thành năng lượng của hiểu biết, chấp nhận, xót thương và hòa giải.
Trong đời sống hàng ngày tâm ta thường
có khuynh hướng nhớ tưởng về quá khứ hoặc lo lắng cho tương lai.
Thân ta có mặt nhưng tâm ta không có mặt. Chánh niệm là năng lượng giúp ta đưa
tâm về lại với thân để ta có mặt đích thực trong giờ phút hiện tại. Có
mặt như thế để có thể tiếp xúc với những nhiệm mầu của sự sống trong ta và chung
quanh ta. Theo tinh thần thiền, sự sống chỉ có mặt đích thực trong giây phút
hiện tại. Bụt dạy: "Quá khứ đã qua, tương lai chưa tới,
sự sống chỉ có thể được tiếp xúc trong giây phút hiện tại" (Kinh Bhaddekaratta,
Trung Bộ 131). Tiếp xúc được với những gì nhiệm mầu có mặt trong giây
phút hiện tại là để được nuôi dưỡng và trị liệu. Nếu năng lượng chánh niệm đã
trở nên vững vàng, ta có thể sử dụng nó để nhận diện và ôm ấp những nỗi khổ niềm
đau của ta (như giận thù, tuyệt vọng, tham đắm, bạo động, ghen tuông, v.v..) để
có thể chuyển hóa chúng từ từ. An trú được trong
hiện tại có thể đưa đến sự trị liệu mầu nhiệm: một phen an trú được trong hiện
tại là ta có thể vượt thoát ra ngoài những nanh vuốt của sự tiếc thương và vương
vấn về quá khứ hoặc những lo lắng và sợ hãi về tương lai, những năng lượng tiêu
cực thường đưa tới các chứng bệnh tâm thần.
Có bốn lĩnh vực làm đối tượng cho sự tu tập chánh
niệm: thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng tâm ý (danh từ chuyên môn là thân,
thọ, tâm, pháp, tứ niệm xứ ) (Kinh Niệm Xứ, Trung A Hàm 98).
Năng lượng chánh niệm khi nhận diện
thân thể (body) giúp ta trở về thân thể với niềm ưu ái: trong khi theo dõi
phép quán niệm hơi thở ta chiếu cố tới thân thể ta, giúp cho thân thể được buông
thư (danh từ chuyên môn: an tịnh thân hành), phép thực tập này rất hữu hiệu để
đối phó với sự căng thẳng của thần kinh và của cơ thể (stress).
Ta có thể
thực tập phép an tịnh thân hành trong tư thế nằm cũng như tư thế ngồi.
Sự thực tập này giúp cho cơ thể tự trị liệu lấy một cách tự nhiên (Kinh Quán
Niệm Hơi Thở, Trung Bộ, 118). Trong trường hợp ta đang chữa trị bằng thuốc men
thì phép an tịnh thân hành này có thể giúp cho ta bình phục mau chóng hơn, ít
nhất là ba lần.
Thực tập phép niệm thân ta cũng sẽ biết ăn uống và
tiêu thụ trong chánh niệm để đừng đưa vào cơ thể những thức ăn thức uống có độc
tố gây nên tật bệnh. Thực tập niệm thân còn giúp ta đi, đứng, hành xử và làm
việc một cách thảnh thơi và nâng cao phẩm chất của sự sống hàng ngày.
Sự thực tập chánh niệm hướng về cảm thọ
(feelings) giúp ta nhận diện những cảm thọ đang có mặt: cảm thọ dễ chịu (lạc
thọ), cảm thọ khó chịu (khổ thọ) và cảm thọ trung tính (xả thọ). Nếu đó là một
cảm thọ dễ chịu, ta biết được là cảm thọ đó phát xuất từ đâu và sẽ có tác dụng
lâu dài như thế nào vào thân tâm, tác dụng nuôi dưỡng hoặc tàn phá. Nếu đó là
một cảm thọ khó chịu, ta cũng biết được là nó đã phát xuất từ đâu, và năng lượng
chánh niệm sẽ làm dịu lại cảm thọ đó và cuối cùng với năng lượng định và tuệ ta
có thể chuyển hóa nó. Nếu cảm thọ ấy là trung tính thì với chánh niệm nó sẽ trở
thành một cảm thọ dễ chịu. Ví dụ: Khi nhức răng, ta có khổ thọ. Ta nghĩ nếu hết
nhức răng ta sẽ có lạc thọ. Nhưng thường thường trong giờ phút không nhức răng
mà ta chỉ có xả thọ. Ý thức về điều này, sẽ giúp ta chuyển xả thọ thành lạc thọ
(sensation du bien-être, the feeling of well-being).
Thực tập chánh niệm hướng về tâm ý giúp ta
nhận diện được tất cả các hiện tượng tâm ý thường phát hiện trong tâm thức như
vui, buồn, thương, ghét... Theo tâm lý học đạo Bụt, ta có 51 loại hiện tượng tâm
ý (gọi là tâm hành, cittasamskara), gồm có những tâm ý tích cực như thương mến,
bao dung, những tâm ý tiêu cực như giận hờn, tuyệt vọng, và những tâm ý bất định
như tư duy, hối tiếc.
Nhận diện là để tìm tới cội nguồn của những tâm hành
ấy để biết rõ bản chất chúng và để chuyển hóa chúng. Ví
dụ: chứng trầm cảm (depression). Nhận diện trầm cảm với năng lượng chánh niệm ta
có cơ hội nhìn thấu bản chất và cội nguồn của nó để biết được những nguyên do xa
gần đã làm cho nó có mặt. Với năng lượng của niệm, định và tuệ ta có thể khám
phá ra được bản chất của khối trầm cảm. Dùng chánh niệm để chăm sóc trầm cảm, để
đưa tâm ý tiếp xúc với những hiện tượng tươi mát có hiệu năng nuôi dưỡng và trị
liệu, ta có thể làm thư nhẹ chứng trầm cảm. Dùng chánh niệm để đừng sử dụng,
tiếp xúc và tiêu thụ những hình ảnh, âm thanh và ý tưởng có công dụng đưa tới
những sự căng thẳng, lo lắng và buồn phiền, không cho chứng trầm cảm được tiếp
tục nuôi dưỡng bởi những độc tố đó, ta có thể chuyển hóa được trầm cảm. Hiện
trên trế giới, nhất là ở Tây phương, đã có nhiều nơi áp dụng phép thực tập chánh
niệm để đối trị các chứng đau nhức, trầm cảm và giải tỏa tình trạng căng thẳng
trong thân tâm. Tại Trung Tâm Y học trường Đại Học Massachusetts chẳng
hạn, có giáo sư Jon Kabat-Zinn, một giáo sư y khoa giỏi về thiền chánh niệm,
đang điều khiển một chương trình trị liệu gọi là The Program of the Stress
Reduction Clinic , chữa trị cho các chứng đau nhức, stress và tật bệnh khá
hữu hiệu. Chương trình này sử dụng phép thiền chánh niệm. Tại các phân khoa Y
Học các trường đại học lớn như Harvard, UCLA, v.v.. cũng có những cơ sở nghiên
cứu và áp dụng thiền tập vào sự chữa trị tâm bệnh và thân bệnh.
Tại trường Đại Học Y Khoa Harvard có Viện
Tâm/Thân Y Khoa (Mind/Body Medical Institute) do giáo sư Herbert Benson sáng
lập và điều hành, cũng đang nghiên cứu, truyền dạy và áp dụng thiền trong việc
chữa trị. Viện này đã liên tục hoạt động từ 35 năm nay. Giáo sư Benson báo cáo:
Trong viện chúng tôi có nhiều nhà khoa học, y học, tâm lý học, giáo dục học và y
tá đã từng được đào tạo tới mức khá cao: các vị ấy sau khi hướng dẫn những cuộc
nghiên cứu tìm tòi và thực nghiệm trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã công nhận
rằng thiền tập có thể đem lại được rất nhiều mặt trị liệu. Chúng tôi đã phát
triển được những chương trình y tế có thể đem tới những phương thức chữa trị có
hiệu năng làm thuyên giảm những triệu chứng bệnh hoạn do sự căng thẳng tâm trí
tạo ra. Trên 30 năm qua, các phòng thí nghiệm của trường Đại Học Y Khoa Harvard
đã nghiên cứu một cách có hệ thống những lợi ích của sự hỗ tương ảnh hưởng giữa
thân và tâm. Những cuộc nghiên cứu ấy đã chứng nghiệm rằng mỗi khi ta lặp lại
liên tiếp nhiều lần một câu kinh, một câu thiền ngữ hay một âm thanh (linh chú,
dharani) để cho trạng thái tán loạn của tâm ý không thể xâm nhập thì trong những
lúc ấy sẽ có những biến chuyển sinh lý thuận lợi xẩy ra: những biến chuyển này
đi ngược nhiều với những biến chuyển đã từng mang lại sự căng thẳng tâm trí.
Những cuộc nghiên cứu ấy đã chứng minh rằng các biến chuyển do thiền tập đem lại
rất có lợi lạc bởi vì chúng có hiệu năng giúp cho sự chữa trị những triệu chứng
như huyết áp cao, nhịp đập trái tim không đều, các chứng đau nhức kinh niên,
chứng mất ngủ, chứng đánh mất khả năng sinh dục, những triệu chứng của bịnh ung
thư và còn nhiều triệu chứng khác nữa.
Thực tập chánh niệm hướng
về đối tượng tâm ý (đối tượng tâm ý: objects of mind) nghĩa là tất cả
những đối tượng của tri giác ta: núi, sông, cây, cỏ, người, vật, xã hội, v.v..)
ta có cơ hội nhìn sâu để thấy được tự tính vô thường và liên hệ sinh khởi và tồn
tại của mọi hiện tượng. Khi năng lượng của niệm,
định và tuệ đã hùng hậu, ta đạt tới một cái thấy sâu sắc về thực tại và ta đạt
tới tự do lớn, không còn vướng mắc vào sự sợ hãi, thèm khát, hận thù và tuyệt
vọng. Bụt và các vị hiền thánh đã đạt tới cái
thấy ấy cho nên họ có tự do lớn, gọi là giải thoát. Thực tập thiền, chúng ta
cũng đạt được tới tự do, và dù tự do của ta tuy chưa lớn, nhưng chúng ta cũng đã
tháo gỡ được rất nhiều tri giác sai lầm và thành kiến, do đó ta không còn đau
khổ nhiều như trước mà lại có thể có nhiều an lạc trong sự sống hiện tại.
Niệm (smrti), Định (samadhi) và Tuệ (prajna) là
những năng lượng chế tác ra do sự thực tập thiền. Thiền học đã có mặt tại Việt Nam từ đầu thế
kỷ thứ ba với thiền sư Tăng Hội (Thân phụ thầy là người nước Khương Cư (Sogdiane,
Bắc Ấn Độ) qua Giao Châu buôn bán, và thân mẫu thầy là người Việt). Thiền sư
Tăng Hội được đào tạo tại Giao Châu và đến năm 255 đã sang Bành Thành (Nam Kinh
bây giờ), kinh đô nước Đông Ngô, để truyền bá thiền học. Ông đến nước Ngô trước
ngày thầy Bồ Đề Đạt Ma tới nước Lương gần 300 năm. Nước ta từ xưa đến nay đã
từng có nhiều vị thiền sư nổi tiếng (xem sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của
Nguyễn Lang, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội.) Ngoài những thiền sư xuất gia ta
cũng lại đã có những thiền sư cư sĩ cự phách như Trần Cảnh (Trần Thái Tông, tác
giả sách Khóa Hư Lục) và Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Quốc Tung, anh cả của tướng
Trần Hưng Đạo) v.v.. Thiền đã là một viên đá nền tảng cho nền văn minh Việt
Nam. Văn chương, triết lý và nếp sống đạo đức
tâm linh người Việt chứa đựng rất nhiều yếu tố thiền.
Thực tập thiền giúp ta xóa bỏ thái độ cố chấp, giáo
điều, trở nên bao dung, độ lượng, biết hiểu, biết thương sâu sắc hơn và chuyển
hóa được nhiều đau khổ trong tâm như thèm khát, vướng mắc, kỳ thị, hận thù, nhỏ
nhen, ích kỷ, sợ hãi, tuyệt vọng... Người Tây phương từ cuối thế kỷ 20 đã
bắt đầu chú ý tới thiền và rất đông người, nhất là giới trẻ và giới trí thức, đã
tìm tới để học hỏi và thực tập thiền. Những tiện nghi
vật chất không đủ để làm ra hạnh phúc. Những sầu khổ ưu tư và thắc mắc của ta
chỉ có thể được giải đáp bằng một đời sống tâm linh. Đạo Bụt và sự thực tập
thiền hiện đang đáp ứng cho đông đảo quần chúng về những nhu yếu đó. Đạo Bụt có
khả năng đi đôi với tinh thần khoa học, hợp tác với khoa học trong lĩnh vực khám
phá những sự thực tâm linh, sinh học và vật lý học. Đạo Bụt rất chuộng thực
nghiệm và Bụt Thích Ca thường khuyên dạy đệ tử không nên mất thì giờ luận thuyết
về những chuyện siêu hình.
Các sách nên đọc: Sen Búp Từng Cánh Hé
(thiền tập có hướng dẫn) Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức, Con Đường Chuyển Hóa,
Từng Bước Chân An Lạc, Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Thiền Hành Yếu Chỉ, Trái Tim Của
Bụt, Đường Xưa Mây Trắng (nhà xuất bản Lá Bối, địa chỉ: 1037 E. Taylor, San
Jose, CA 95112, Hoa Kỳ.)