Trang Chính | Từ Đàm Hải Ngoại | Thiền Phái Trúc Lâm | Phật Pháp
Pháp Âm | |Tin Tức Phật Giáo | Tổng Vụ Cư Sĩ | Tin Tức Sinh Hoạt |  Nối kết |  Hình ảnh | Video
Thư tịch H.T. Trí Chơn | Thư tịch H.T. Tín Nghĩa | Những Bài Đoản Văn |  Vườn Thơ

Please press HOME to go back to the main web page

HOME

Tiểu Sử Hòa Thượng Thích Huyền Quang

Tiểu Sử Hòa Thượng Thích Huyền Quang

 

 

Tiểu Sử Ðại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang

Quang Minh,  Sưu tầm, Vietnamese and English versions

 

 

Thich Huyen Quang, Buddhist patriarch, was born on September 19, 1919.

He died on July 5, 2008, aged 87

 

 

 

Vietnamese version: 

 

Hòa Thượng Thích Huyền Quang sinh ngày 19 tháng 9 năm 1919, tại Bình Ðịnh, xuất thân từ một gia đình sống về nghề nông và tiểu thương. Ngài đã theo đuổi việc học liên tục từ lúc 6 tuổi cho đến 26 tuổi. Lúc nhỏ hấp thụ nền văn hóa Khổng Mạnh, cho đến năm 13 tuổi Ngài xuất gia. Ngài đã từng đi nhiều nơi và hiểu biết tường tận cả hai miền Trung và Nam Việt Nam.

 

Năm 1945, lúc 26 tuổi, sau khi hoàn tất chương trình tu học, Ngài tham gia và trở thành nhà lãnh đạo của Phong Trào Phật Giáo Cứu Quốc, đấu tranh chống Pháp tại vùng Bình Ðịnh và Liên Khu 5 (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh và Phú Yên). Trong cùng thời gian đó, Ngài cũng đấu tranh chống lại những người cộng sản, và đưa đến việc Ngài bị Việt Minh bắt giam từ năm 1952 đến năm 1954 (sau hiệp định Genève).

 

Sau biến cố 1963, Ngài trở thành người lãnh đạo số 2 trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, được hình thành vào năm 1964. Trong vòng 10 năm sau đó, Ngài giữ trách vụ Tổng Thư Ký Viện Hóa Ðạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Trong thời gian này, Ngài đã tham dự các cuộc hội thảo của Phật Giáo Quốc Tế được tổ chức khắp nơi trên thế giới (Tokyo 1970, Geneva 1973, Brussels 1974).

 

Tháng Tư năm 1975, Việt cộng cưỡng chiếm miền Nam làm thay đổi tất cả đất nước, Viện Hóa Ðạo cũng bị ảnh hưởng. Tháng 3 năm 1977, Ngài gửi một lá thư phản đối đến Thủ tướng Phạm Văn Ðồng, về 85 trường hợp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bị đàn áp. Vì thế, Ngài cùng với 5 vị lãnh đạo tinh thần khác bị bắt, với tội danh chống đối chính sách của chế độ hiện thời. Bị đem ra xét xử vào ngày 8 tháng 12 năm 1978, Ngài bị kết án treo 2 năm với tội "khích động chống lại nghĩa vụ quân sự và những bổn phận xã hội khác". Sau đó vì Ngài vẫn liên tục chống lại kế hoạch đồng hóa Giáo Hội theo chính sách của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, Ngài bị bắt trong vòng 24 tiếng đồng hồ vào tháng 10 năm 1981, kế đến là lần thứ ba, ngày 25 tháng 2 năm 1982, và bị quản thúc tại chùa Hội Phước, tỉnh Quảng Ngãi.

 

Trong cùng thời gian, Ngài được dư luận quốc tế biết đến khi hai nhân đã từng nhận giải Nobel Hòa Bình , Mairead Corrigan (1976) et Betty Williams (1976), đề nghị Ngài vào danh sách những người có thể được trao giải Nobel Hòa Bình. Từ năm 1992, tại nơi quản thúc, Ngài đã gửi đi hàng loạt văn thư phê phán chế độ Cộng Sản Việt Nam về cái mà họ gọi là "Ðổi Mới", khiến Ngài càng gặp nhiều khó khăn với chế độ.

 

Những lá thư này nêu rõ vị trí của Phật Giáo trong nền văn hóa Việt Nam, Giáo Hội được công nhận một cách hợp pháp, chính danh đối với các chùa chiền tại Việt Nam, và phủ nhận chủ nghĩa Cộng Sản như là một tư tưởng phù hợp cho người Việt Nam. Ngài có quyền lên tiếng như thế, vì trước khi qua đời, Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu đã chọn Hòa thượng Thích Huyền Quang là người kế vị lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, và Ngài đã lãnh trách vụ này trong buổi lễ an táng Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu vào tháng 4 năm 1992.

 

Ngày 29 tháng 12 năm 1994, lực lượng công an đến chùa Hội Phước, cưỡng đoạt tất cả văn thư và ấn tín của Giáo Hội, đưa Hòa Thượng Thích Huyền Quang đến địa điểm giam giữ mới, hoàn toàn cô lập với bên ngoài. Trong điều kiện tuổi tác cao cộng thêm bịnh cao áp huyết, việc trả tự do và chăm sóc sức khoẻ cho Ngài là một yêu cầu vô cùng cấp bách.

 

 

English version: 

 

The Supreme Patriarch of the Unified Buddhist Church of Vietnam (UBCV), Thich Huyen Quang, was a symbol of the fight for human rights and religious freedom. Campaigning against the religious controls imposed by his country’s communist governments, Quang achieved international renown in 1982 when two laureates nominated him for the Nobel Peace Prize.

 

Born Le Dinh Nhan in Binh Dinh province in southern Vietnam in 1920, Quang entered the monastic life aged 12. In 1945 he joined the movement resisting French colonial rule, but in 1951 he was jailed by Viet Minh revolutionaries for refusing to submit to communist control. Released in 1954, Quang was returned to prison in 1963 after challenging the US-backed South Vietnamese regime of the Catholic President, Ngo Dinh Diem, for its discrimination against Buddhists. Later that year he was appointed deputy leader of the newly formed UBCV.

 

When Vietnam came under communist rule in 1975, like many other religious groups the UBCV was subjugated by the government of the now unified state, and in 1977 Quang wrote to the Prime Minister, Pham Van Dong, detailing 85 specific instances of government repression. This led to his arrest, charged with opposition to government policy, together with five other prominent church leaders.

 

Brought to trial the following year, Quang received a two-year suspended jail sentence. His crimes were “agitating against the military service law and other social duties” and “sabotaging the people’s solidarity bloc, counter-revolutionary propaganda and exploiting religion to undermine security and order”.

 

In 1981 Quang was arrested again, for his refusal to sanction the incorporation of the UBCV into the official Vietnam Buddhist Church (VBC) that would allow the state to exercise greater control. The following year Quang was exiled to a pagoda in central Vietnam’s Quang Ngai province, where he was kept under constant surveillance.

 

Quang became head of the UBCV in 1992, and in 1993 he issued a “Buddhist Proposal for Democracy and Human Rights”, proposing not only religious freedom, but also free elections in a multi-party system. In particular, he called for the abolition of Article 4 of the constitution, which enshrined the political monopoly of the Communist Party. The following year security forces visited his pagoda, confiscating all his official papers and the seal of the UBCV. Quang was subsequently transferred to a new location where he was kept in total isolation.

 

This predicament did not go unnoticed; in 1998 Nobel Peace Prize laureates, including the Dalai Lama, publicly called for his release.

 

Although he remained steadfast in his opposition to the Government, there were signs of improving relations in 2003 when Quang met the then Prime Minister, Phan Van Khai, in Hanoi. However, in October that year Quang was confined to the Nguyen Thieu monastery in Binh Dinh and cut off from other UBCV leaders. This new crackdown was in response to a meeting held by the UBCV to elect a new church leadership. Quang was also accused of possessing official papers containing national secrets.

 

This marked a watershed for Quang. In 2007 he refused on principle to attend a congress of the VBC in Hanoi and declined to participate in the International Day of Vesak Buddhist celebrations hosted by the Vietnamese Government in May. In the same year the Paris-based International Buddhist Bureau accused the police of Binh Dinh province of preventing Quang from attending a hospital check-up, although this was denied by a spokesman.

 

 

 

 


Please press HOME to go back to the main web page

HOME


TỔ ĐÌNH TỪ ĐÀM HẢI NGOẠI
615 N. Gilbert Rd., Irving, Texas 75061-6240, Tel.: (972) 986-1019, Fax: (972) 790-5855  *USA*
Email: tudamhaingoai@yahoo.com  -  Website:  www.todinhtudamhaingoai.net