|
TIỂU SỬ TỔ GIÁC
TIÊN
Khai Sơn TỔ ÐÌNH TRÚC LÂM
TẠI CỐ ÐÔ HUẾ
Điều Ngự
Tử
TÍN NGHĨA
1.-
Thân thế :
Pháp danh :
Trừng Thành
Pháp tự :
Chí Thông,
Pháp hiệu :
Thích Giác Tiên.
Thuộc dòng Lâm Tế
Chánh Tông đời thứ 42
Thế danh : Ngài
họ Nguyễn Duy húy là Quyển.
Thọ sanh năm
Canh thìn, niên hiệu Tự Ðức đời thứ 33
(1879).
Chánh quán
làng Giạ Lệ Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Năm 1883,
lên bốn tuổi thì song thân đều mất. Ngài được ông bà bác đồng tộc đem về nuôi
dưỡng.
Nhờ bẩm chất
thông minh nên thân thuộc cho theo Nho học một thời gian. Nhận thấy giáo lý Phật
đà mới là con đường hướng đến cảnh giải thoát ;
từ đó, ngài xin với thân thuộc xuất gia đầu Phật.
Năm 1890,
được 11 tuổi, ngài cầu thọ giáo với tổ Tâm Tịnh.
2.-
Sự nghiệp tu học :
2
Ðầu
tiên, ngài lên tu học tại Tổ đình Từ Hiếu. Nơi đây, ngài Hải Thiệu đang là Trú
trì và ngài Tâm Tịnh làm Giám tự.
Năm 1883,
lên 14 tuổi, ngài được tổ Tâm Tịnh cho thọ Sa di Thập giới.
Năm Ðinh Mùi
(1907),
Hòa thượng Ðàn đầu Vĩnh Gia, tổ chức Ðại giới đàn tại chùa Phước Lâm, thị xã Ðà
Nẵng, tỉnh Quảng Nam. Ngài được bổn sư cho đăng đàn thọ Cụ túc giới và đỗ Thủ
khoa, đúng 28 tuổi.
Sau khi đắc
giới, ngài đang chuyên tinh hành trì giới luật và nghiên cứu những bộ kinh khó ;
đồng thời, hầu cận bên cạnh sư phụ, thì
ngài Hải Thiệu lại công cử đứng ra lo cho chùa Phổ Quang gần dốc Bến Ngự. Vì,
ngài Trú trì chùa Phổ Quang đã viên tịch và cúng dưòng chùa lại cho ngài Hải
Thiệu.
Cùng chung
lo Phật sự với ngài tại Phổ Quang có sư bà Diên Trường. Sư bà cũng thọ Ðại giới
cùng một lần với ngài ở Ðại giới đàn Vĩnh Gia
(Ðà Nẵng).
Vì sự huyên
náo của ngành hỏa xa ở trước cổng chùa Phổ Quang có ảnh hưỏng đến sự tu niệm của
Ngài cũng như của chúng lý ; năm Tân hợi
(1911), sư bà Diên Trường vào thôn Thuận Hòa, đồi Dương Xuân Thượng lập thảo am
để tịnh tu. Sư bà đã cung thỉnh ngài nhận ngôi Hóa chủ cho chùa.
Trước khi
nhận nhiệm vụ làm Tổ khai sơn, ngài đã cùng với Sư bà đi tham vấn đó đây, nhất
là vùng Yên Tử
(Bắc
Việt).
Khi đến Trúc
Lâm Yên Tử, ngài đã ở lại đây một thời gian ngắn. Ngài đã sưu tầm một số pháp
bảo ở Trúc Lâm và lấy làm mãn nguyện lắm.
Sau khi trở
lại Huế, ngài quyết định đặt tên chùa là Trúc Lâm với thâm ý của ngài là muốn
nối chí truyền thống Trúc Lâm tam tổ ở núi Yên Tử vậy.
Ngài là vị
đệ tử xuất sắc nhất của tổ Tâm Tịnh (Khai sơn Tổ
đình Tây Thiên Di Ðà).
Ngài
đã xứng đáng là vị Tổ khai sơn cũng như sự mong cầu và ngưỡng mộ của sư bà Diên
Trường nữa.
Với công
trình hành đạo của ngài như vậy, trong Việt Nam Sử luận của Giáo sư Nguyễn Lang
có đoạn viết :
“... Như ta đã biết, hội An nam Phật
học không những đã có được sự yểm trợ của hầu hết các phần tử trong sơn môn mà
còn có được sự cộng tác tích cực của những vị Tăng trẻ tuổi và có học của sơn
môn đào tạo nữa. Sự cộng tác nầy phần lớn nằm trong phạm vi hoằng pháp ;
giảng diễn cho tín đồ, trước thuật bài vở và kinh sách. Tuy nhiên, nhìn
hội An nam Phật học với những thành quả mà nó thu lượm được chỉ là nhìn thấy một
bông hoa nở trên một nhánh cây mà chưa nhìn thấy từ thân cái cây ấy.
Tuy nói rằng :
Phật giáo suy yếu, cần phải phục hưng, nhưng nếu căn bản và tiềm lực
không có thì sự phục hưng ấy sẽ trở nên rất khó khăn.
Sở dĩ ta có được một Mật Khế, một Tâm
Minh Lê Ðình Thám là nhờ có được Giác Tiên chẳng hạn thì ta thấy được Tâm Tịnh,
bổn sư của Ông, Huệ Pháp, Giáo thọ sư của Ông, Viên Thành là bạn thân của Ông.
...”
(Việt Nam Phật
Giáo Sử Luận, quyển 3, trang 112 và 113).
Ngài không
những chỉ đem hết tâm lực và tâm nguyện để lo cho Trúc Lâm trở thành một chốn
già lam đầy thiền vị như ý nguyện, mà ngài còn nhìn xa hơn nữa cho tiền
đồ của Ðạo pháp, bằng
cách biến Trúc Lâm trở thành nơi đào tạo Tăng tài, hoằng pháp lợi sanh và nhất
là quần chúng hóa Phật giáo ngày một hưng thịnh.
Với công
hạnh và đức độ, tổ Tâm Tịnh đã làm một bài kệ phú pháp cho ngài như sau :
Giác đạo kiếp
không tiên,
Không không bát nhã thuyền,
Quả nhân phù hạnh giải,
Xứ xứ tức an nhiên.
Dịch :
Ðường giác vượt hậu tiền,
Thuyến bát nhã không không,
Hạnh giải hợp nhân quả,
Ở đâu cũng thong dong.
Bài kệ trên
cũng phù hợp với sự chuyên tâm hành thiền của ngài. Hằng ngày ngài thường nghiên
cứu vào những câu thoại đầu để làm công án thiền như sau :
- “Chư pháp tùng bản lai,
Thường
tự tịch diệt tướng.”.
Dịch :
Các pháp vốn xưa nay,
Tự tướng thường vắng lặng.
Ngài ngồi
thiền định liên tiếp ba bốn giờ là chuyện thường. Có lúc ngài ngồi nhập định
luôn cả hai ngày. Xả định rồi, thấy thời gian như bóng câu qua cửa sổ, thân
người rồi cũng tự lụi tàn theo năm tháng ; ngài
tự nhủ : Nếu như không chịu tự tu
chứng lấy cho bản thân, không chịu hành trì giới luật, không chuyên tâm tu niệm
rồi một ngày nào đó rất gần, cái thân giả huyễn nầy cũng sẽ ra tro bụi, vô minh
rồi cũng sẽ đến với mình. Vĩnh kiếp luân hồi trong lục đạo. Ngài đã cảm nhận
được cơn vô thường của kiếp sống, nên sau khi xả thiền, ngài có làm bài thơ như
sau :
Giác mộng tàn tinh điểm bán không,
Trường thiên cô nhạn ảnh vô tung,
Sơ minh nguyệt sắc tà lan ý,
Tức nhập thiền tâm tiêu tức trung.
Dịch :
Tỉnh mộng tàn canh thấy cảnh không,
Dưới trời chim nhạn vốn không tông,
Vầng trăng chiếu rọi ngoài hiên vắng,
Thâm nhập thiền tâm, tiêu tức trung.
Dịch theo vần Lục bát :
Tàn canh thấy mộng trống không,
Dưới trời chim nhạn vốn không tông
(tích)
loài.
Vầng trăng chiếu
rọi hiên ngoài,
Thiền tâm chứng
nhập, trong ngoài tiêu tan.
3.-
Ảnh Hưởng Của Ngài Ðối Với Ðạo Pháp :
Trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Giáo sư Nguyễn Lang có
đoạn :
- “Thiền sư Giác Tiên có thể nói là
người khởi xướng công trình phục hưng Phật Giáo tại miền Trung. Giác Tiên Thiền
sư hướng đạo cho hội An Nam
Phật Học được bốn năm thì thị tịch.
Các đệ tử của Giác Tiên Thiền sư là
Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện và Mật Thể đều đóng những vai trò quan trọng trong
phong trào phục hưng Phật Giáo sau nầy, ...”
(Việt
nam Phật giáo Sử luận quyển 3, trang 85 và 86)
Năm Giáp tý
(1924), đời vua Ðồng Khánh thứ 9, ngài vân tập Ðại Tăng và tổ chức an cư kết hạ.
Năm Giáp ngọ
(*),
đời vua Khải Ðịnh thứ ba, ngài mở giới đàn ở chùa Từ Hiếu, cung thỉnh Hòa thượng
bổn sư là tổ Tâm Tịnh đăng đàn truyền giới.
Năm Ất sửu
(1925), đời vua Bảo Ðại thứ nhất, ngài được chiếu chỉ của triều đình mời làm Trú
trì Diệu Ðế quốc tự.
Năm Bính dần
(1926), ngài lo đại trùng tu Phật điện và Tăng xá của Trúc Lâm.
Năm Mậu thìn
(1928), ngài biến Trúc Lâm thành nơi đào tạo Tăng tài và cũng là khởi điểm đầu
tiên cho Ðại học Phật giáo tại Cố đô Huế nói riêng và miền Trung nói chung.
Năm Kỷ tỵ
(1929), ngài vào tận Tổ đình Thập Tháp Di Ðà để cung thỉnh Hòa thượng Phước Huệ
Quốc sư ra làm chủ giảng cho lớp Ðại học đầu tiên nầy.
Năm Canh ngọ (1930), ngài khuyến khích
và giúp đỡ cho Sư bà Diệu Hương mở Ni trường Diệu Ðức.
Năm Tân mùi (1931), ngài đứng ra vận
động thành lập hội An Nam Phật Học. Ngài một mình tự đi cung thỉnh chư vị Hòa
thượng, Thượng tọa có tài đức ra chung lo Phật pháp.
Năm Quý dậu (1933), ngài ủy thác cho
Thiền sư Mật Khế, vị đệ tử lớn và xuất sắc nhất của ngài mở một trường Tiểu học
Phật học tại chùa Vạn Phước, để cho lớp Sa di của các chùa có nơi đến học.
Năm Giáp
tuất (1934), ngài cùng với đệ tử Mật Khế tổ chức trường An Nam Phật Học tại Trúc
Lâm, thu nhận đúng 50 học tăng. Cuối năm nầy ngài quy tụ các học tăng có trình
độ khá cao về Trúc Lâm để mở trường Ðại học Phật giáo. Ðại học Phật giáo đầu
tiên có từ đó.
Ngoài vị đệ
tử lớn là thiền sư Mật Khế ra, ngài còn có một vị đệ tử lớn thọ tại gia Bồ tát
giới đã theo học với ngài từ năm 1928 là Bác sĩ Tâm Minh Lê Ðình Thám. Cụ Tâm
Minh vâng lời sư phụ để lo cho hội An Nam Phật Học, lo soạn thảo chương trình
giáo dục thanh thiếu nhi và kết hợp thành đoàn ngũ hóa quần chúng Phật tử có tu
học. Hạnh nguyện của ngài là làm thế nào đưa Phật giáo vào lòng dân tộc một cách
trong sáng và hữu hiệu. Tuy nhiên, việc làm vừa được một đoạn đường thì ngài thọ
bệnh.
Ngày mồng Hai (Tân sửu),
tháng Mười
(Kỷ hợi),
năm Bính tý (nhằm ngày
15 tháng 11 năm 1936), ngài cho vân tập Tăng chúng đứng chung
quanh giường để nghe ngài giảng kinh Pháp Bảo Ðàn. Hai hôm sau, khi ngài giảng
xong phẩm Bát Nhã, rồi ngài nhìn từng vị đệ tử một để truyền kệ.
Vào lúc 20giờ, ngày mồng Bốn (Ất mão),
tháng Mười cùng năm (tức ngày
17-11-1936), niên hiệu Bảo Ðại thứ 11, ngài im lặng và từ từ đi
vào cõi tịnh. Ngài thọ thế 57 tuổi.
Chư Tôn đức
Tăng già, quần chúng Phật tử và hội An Nam Phật Học tề tựu về Trúc Lâm Ðại Thánh
tự để lo lễ cúng dường cũng như phò nhục thân ngài nhập bảo tháp rất trọng thể.
Ngài viên
tịch trong lúc đang đãm nhiệm trách vụ Trú trì hai chùa Trúc Lâm và Diệu Ðế và
Chứng minh Ðại đạo sư cho hội An Nam Phật Học.
Trước sự
thương kính của hội, Hội đã thành tâm cúng dường câu đối như sau :
*.-
Trúc Lâm không quãi tam canh nguyệt,
*.-
Diệu Ðế tri văn ngũ dạ chung.
Ðại diện hội
Phật giáo Bắc kỳ cúng dường hai câu :
*.-
Vân
nạp Bắc lai, đàm luận di tuần kham Giác chỉ,
*.-
Trúc lâm Nam vọng, vãng sanh hà
xứ mích Tiên tung.
Trước tháp
ngài, cụ Tâm Minh Lê Ðình Thám có cúng dường hai câu để ghi nhớ và vâng chỉ di
huấn của Tổ trên con đường chấn hưng, phục vụ Phật pháp, như sau :
*.-
Quán tướng nguyên vọng, quán tánh
nguyên chơn, viên giác diệu tâm ninh hữu ngã,
*.-
Chúc
pháp linh truyền, chúc sanh linh độ, thừa đương di huấn khởi vô nhơn.
Nghĩa là :
*.-
Quán sắc tướng vốn
vọng, quán thể tánh vốn chơn, viên giác diệu tâm đâu còn ngã,
*.-
Chúc chánh pháp khiến
truyền, chúc chúng sanh khiến độ, thừa đương di huấn vẫn còn có người.
Ngài đã đi vào cõi tịnh, nhưng
âm ba và uy đức của ngài vẫn còn nối tiếp mãi mãi. Nhìn những vị đệ tử xuất gia
lẫn tại gia và hậu duệ của ngài còn gánh vác việc Giáo hội thì đủ rõ.
Không những
ngài là vị xuất trần thượng sĩ, ngài còn là một thi sĩ đã để lại những áng thơ
hay, những di bút xuất thần mà các tổ đình Tường Vân, Từ Quang, Tra Am, v.. v...
vẫn còn tôn thờ trong hậu tổ hay nơi chánh điện. Bên cạnh đó, mỗi lần Giáo hội
tại cố đô Huế hữu sự vẫn còn tưởng niệm đến danh hiệu ngài.
Những vị đệ tử xuất gia của ngài gồm có :
Mật Tín, Mật
Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Nhơn, Mật Thể, Diệu Huệ và Diệu Không.
Tại gia thì
có : Ðại thần Hồ Ðắc Trung, bác sĩ Tâm
Minh Lê Ðình Thám
(Linh hồn của tổ chức Gia đình
Phật tử miền Trung và Việt nam)
và bác
sĩ Trương Xướng.
Ghi chú:
(*)
Trong bài
minh của Ngài thì cụ Thượng thơ Lê Nhữ Lâm phụng soạn đề là
:
Khải Ðịnh Giáp ngọ niên, tập thiền môn pháp lữ, kiến Giới đàn Từ Hiếu tự,
thỉnh Tâm Tịnh Hòa thượng truyền thọ Tỳ ni. ...
Nghĩa là :
Năm Giáp ngọ, đời vua Khải Ðịnh, ngài mở Giới đàn tại chùa
Từ Hiếu, cung thỉnh Hòa thượng Tâm Tịnh truyền trao giới pháp.
Theo vấn đề tra
cứu lịch Vạn niên thì : Từ năm 1906 đến
năm 1930, không có năm nào là Giáp ngọ hết ;
chỉ có : Bính ngọ (1906),
Mậu ngọ (1918) và Canh ngọ (1930). Chỉ có năm Giáp ngọ đời vua Thành Thái thứ
sáu, thì Ngài mới xuất gia. Vậy thì, lòng bài minh là năm Mậu ngọ (1918) thì
không phù hợp. Có lẻ là năm Canh ngọ (1930). ???
Y sử, đối
chiếu cũng có một vài chỗ chưa ổn. Người viết tra lục, đưa ra đây một vài dữ
kiện để sau nầy những nhà chép sử Phật giáo lưu ý cho.
*
*
*
DỊCH ÂM BÀI MINH
(tức là bài
Bia văn bằng Hán tự nói về tiểu sử và hạnh nguyện của Tổ)
Ghi chú :
Bài Minh nầy trong tác
phẩm Trúc Lâm Thiền Phái Tại Huế là có chữ Nho, có phiên âm, có dịch nghĩa hẵn
hoi. Ở đây chúng tôi chỉ ghi lại phần phiên âm và dịch nghĩa mà thôi.).
御
製 妙 諦 寺 住 持, 臨 濟 四 十 二 世 開 山 竹 林 大 聖 寺覺 先 和 尚 之 塔
開 山 竹 林 大 聖 寺, 創 立 安 南 佛 學 會, 證 明 大 導 師 澄 誠 至 通覺 先 和 尚 誌 銘
覺
先
和
尚
臨
濟
正
宗
四
十
二
世
之
大
師
也
.
師
本
姓
阮,
原
籍
承
天
府
香
水
縣
野
黎
上
社,
以
嗣
德
三
十
三
庚
辰
落
塵
.
成
泰
六
年
甲
午
(*)
枯
特
雙
喪,
師
感
世
事
無
常,
因
暏
報
國
寺
戒
壇
飄
然,
有
出
塵
之
志,
遂
招
慈
孝
寺
禮
心
淨
和
尚
奚
即
雜
薙
染,
根
性
通
利,
經
律
諳
詳.
屢
欲
楊
春
山
結
菴
專
修
而
未
竟.
Phiên âm :
Ngự chế Diệu Ðế tự Trú trì, Lâm
tế tứ thập nhị thế, Khai sơn Trúc Lâm Ðại thánh tự Giác Tiên Hòa thượng chi tháp.
Khai sơn
Trúc Lâm Ðại thánh tự, sáng lập An Nam Phật Học hội, chứng minh Ðại đạo sư Trừng
Thành Chí Thông Giác Tiên Hòa thượng chí minh.
Giác Tiên
Hòa thượng, Lâm tế chánh tông tứ thập nhị thế chi đại sư giả. Sư bản tánh nguyên
tịch, Thừa Thiên phủ, Hương Thủy huyện, Dã Lê Thượng xã, dĩ Tự Ðức thập tam Canh
thìn lạc trần.
Thành Thái
lục niên Giáp ngọ (*),
thị khô tử tán sư, cảm thế sự vô thường, nhân đô Báo Quốc tự giới đàn, phiêu
nhiên hữu xuất trần chi chí.
Toại chiêu Từ Hiếu tự, lễ Tâm Tịnh Hòa thượng, viện tức thế
nhiễm. Căn tánh thông lợi, kinh luật am tường, lũ dục Dương Xuân sơn kết am vị
tự tu chi vị cánh.
Dịch
nghĩa :
Bia ký tạm dịch :
Bài minh khắc nơi tháp của Hòa thượng Giác Tiên, pháp danh
Trừng Thành, thụy hiệu Chí Thông, thuộc giòng Lâm Tế chánh tông dời thứ 42.
Nguyên Trú trì Ngự chế Diệu Ðế, khai sơn chùa Trúc Lâm Ðại Thánh, sáng lập hội
An Nam
Phật Học và Chứng minh Ðại đạo sư cho hội ấy.
Ðại sư nguyên người Giạ Lê Thượng, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên. Sinh năm
Canh thìn niên hiệu Tự Ðức thứ 33.
Năm Giáp ngọ (*),
niên hiệu Thành Thái thứ sáu, nhân đám tang thầy mà cảm nhận về tánh chất vô
thường của cuộc đời ; thêm vào đó, nhờ
xem Giới đàn ở chùa Báo Quốc cố đô Huế, nên bỗng nhiên khơi dậy chí nguyện xuất
trần (đi tu). Ngài đến chùa Từ Hiếu đảnh lễ Hòa
thượng Tâm Tịnh và xin xuống tóc xuất gia.
Ngài là người căn tánh thông lợi, khá am tường về kinh luật đã nhiều lần muốn
dựng am ở núi Dương Xuân để tịnh tu, nhưng không thành.
Âm hán :
比
丘
尼
胡
氏,
法
名
清
妗,
號
延
長
嘉
其
志,
為
建
竹
林
寺,
請
師
為
開
山
座
主.
於
是
禪
心
圓
頓,
法
語
弘
開.
嗣
遇
廣
南
省
福
林
寺
永
嘉
和
尚
開
大
戒
壇
,
師
登
壇
受
具
足,
時
年
僅
二
十
八.
繼
而
集
眾
講
學
于
天
興
|