|
TIỂU SỬ SƯ BÀ
THÍCH NỮ DIỆU HUỆ
Điều
Ngự Tử TÍN NGHĨA
1.- Những Ngày Ở Nhà :
Thế
danh : Hồ Thị Huyên,
Pháp
danh : Trừng Diên,
(1)
Pháp tự
: Diệu Huệ.
Thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ
42
Sanh năm Ất
Mùi (1895). Con thứ hai của cụ Khánh Mỹ Quận công Hồ Đắc Trung.
Chánh quán làng An Tuyền, xã Phú An,
huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình
quyền quý, nền nếp nho phong. Bà được theo đòi nghiên bút rất sớm, nên tinh
thông Nho học.
Năm Quý Sửu (1913), được 18 tuổi,
vâng lời song thân lập gia đình với cụ Lễ bộ Thượng thơ Ưng Úy. Sanh hạ một trai
là Nguyễn Phước Bửu Hội, sau nầy được gọi là nhà bác học Bửu Hội.
Năm Ất Hợi (1935), bà xin xuất gia
nhưng tổ Giác Tiên không đồng ý. Tổ bảo ở nhà để lo việc ngoại hộ cho Phật pháp
và tổ thọ ký cho giữ 10 giới với pháp tự là Diệu Huệ.
Tuy ở nhà, bà vẫn giữ trai giới tập
hạnh xuất gia. Hằng ngày bà chuyên lo tụng kinh bái sám, cầu mong được bổn sư
cho chính thức xuất gia càng sớm càng tốt. Bà cảm tác bài thơ như sau :
Thu Soi Bóng
Lác đác mùa thu mấy giọt sa,
Cụm đào soi bóng sánh cành hoa,
Trên đường tiến hóa con còn học,
Dưới gối thừa hoang mẹ chữa già.
Mến cảnh rừng thiền con bước tới,
Chán vòng hoạn lộ gở chưa ra.
Mặc ai danh lợi, ai bơi chải,
Một
mối tình chung ta với ta.
Cũng từ đó, bà tìm cách cưới hầu cho chồng để chuẩn bị
xuất gia.
2.- Những Ngày
Trong Đạo :
Năm Mậu Tý (1948)
(*),
bà cùng cụ Ưng Úy ra Bắc.
Năm Nhâm Thìn (1952) (*),
bà trở về Nam
rồi qua Pháp thăm con là Bửu Hội. Khi về nước, vì bà đã được chính thức xuất gia
sau khi đã hoàn thành một vài việc trong nhà cũng như việc ngoại hộ cho Phật
pháp ; bà xuất gia học Phật tại Ni viện
Hồng Ân, cách tổ đình Trúc Lâm 800 mét.
Năm Ất Mùi (1955), bà được thọ Tỳ kheo Ni giới tại giới đàn Bảo Quốc.
Năm Quý Mão (1963), chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, bà cùng sư bà
Diệu Không vào Nam để tổ chức biểu tình trước dinh Độc Lập để đòi quyền bình
đẳng tôn giáo.
Bà thừa lệnh đức Pháp chủ Thích Tịnh Khiết, ở lại luôn tại Sài Gòn. Bà đã tham
gia tất cả các cuộc biểu tình cũng như tuyệt thực. Bà đã xin phép được tự thiêu
để bảo vệ chánh pháp. Ý nguyện tự thiêu chưa thành thì chùa chiền bị phong tỏa,
Tăng Ni Tín đồ bị tấn công tới tấp. Bà cũng bị bắt cũng như tất cả quý Tăng Ni
Tín đồ Phật tử. Bà và đức Pháp chủ Tịnh Khiết bị giam lỏng tại bệnh viện Cộng
Hòa. Tuy vậy, bà cũng có dịp nói rõ sự thật cho phái đoàn Liên Hiệp Quốc, về
Thư từ
con (giữa
bà và giáo sư Bửu Hội).
Bức thư của bà làm chấn động trong cả ngoài nước. Vì thời
gian đó, ông Bửu Hội đã bị chính quyền nhà Ngô mua chuộc. Ông Bửu Hội vì không
rõ hư thực ra sao nên đã lên án Phật giáo theo luận điệu của nhà Ngô.
(Vì,
như vậy là ông Bửu Hội chỉ biết quyền lợi riêng chứ không nghĩ gì về Phật pháp
cũng như quyền lợi của quần chúng).
Bà rất thông Hán tự từ thuở nhỏ nên đọc và học nhiều bộ Kinh Đại thừa rất
cao siêu, đồng thời, bà đã được hiểu rõ một phần lớn về thâm áo những gì trong
kinh đã dạy. Sau những lần tụng kinh bái sám, trì niệm kinh chú xong, bà thường
cảm tác thành thơ Bài thơ Khán Kinh
của bà như sau :
Vô tâm vô pháp liễu vô sanh,
Tâm pháp nhơn duyên vọng tưởng sanh,
Kiến tướng hằng khai minh giác tánh,
Vô tâm vô pháp liễu vô sanh.
Cuối năm Ất Tỵ (1965), bà mơ thấy Địa Tạng Vương Bồ tát
về đem bà đi; bà phát tâm trì tụng kinh Địa Tạng và nhờ sư huynh Mật Hiển chú
nguyện đúc một pho tượng Địa Tạng. Khi tượng đã đúc xong, bà ngồi trước tôn
tượng để chiêm bái và lấy làm hoan hỷ lắm; đồng thời bà vui vẻ nói :
- Thế là đủ. Bây giờ, bất cứ
giờ nào con theo ngài cũng được.
Ngày 11 tháng 12 năm ấy, bà lâm bệnh.
Ngày 14, sư huynh Mật Nguyện cho đón bà từ Ni viện Diệu Đức ra tổ đình Linh
Quang.
Ngày 16, bà thưa với sư huynh Mật Nguyện để cung thỉnh Hòa thượng Thuyền Tôn và
sư huynh Mật Hiển cùng chư Đại đức Tăng Ni hộ niệm cho bà.
Chư Tăng Ni đông đủ, bà hỏi :
- Đã đến giờ Ngọ chưa ?
Quý sư cô đến bên cạnh thưa :
- Dạ, vừa đúng .
Bà nằm nghiên
người, miệng niệm Phật và từ từ trút hơi thở cuối cùng một cách nhẹ nhàng .
Trong
lúc nầy cả gian phòng hòa đồng :
- Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật,
để hộ niệm và phò chơn linh
của bà đi vào cõi tịnh.
Dù xuất gia hay tại gia, cuộc đời của
bà luôn luôn tận tụy với Phật pháp.
Tháp bà được xây cất về phía Tây của
khuôn viên chùa Trúc Lâm.
Trước
tháp bà, thiền sư Bích Phong chùa Quy Thiện có tặng câu đối:
*.-
Chánh đạo kiêm triêu quy tảo địa,
*.-
Phùng
vinh chỉ nhật tiến trầm lung .

Ghi chú:
(1) Trước khi Sư bà xuất gia dầu sư với tổ Giác
Tiên, bà đã thọ tam quy ngũ giới với Thiền sư Lương Duyên ở tổ đình Từ hiếu, nên
Sư bà đã có đồng chữ Trừng với Tổ.
(*)
Sư bà Thích Nữ Diệu Huệ được tổ giác Tiên cho Pháp tự như xuất gia, nhưng phải ở
nhà lo phần ngoại hộ cho Phật pháp. Tổ tịch từ lâu mà bà mới được chính thức là
tu sĩ và Y chỉ theo hai vị sư huynh là ngài Mật Hiển và ngài Mật Nguyên. Sư bà
là chị ruột của sư bà Diệu Không, nên khi xuất gia, nhập chúng tại chùa Hồng Ân
do sư bà Diệu Không khai sáng và được bảo bọc về mọi mặt. Bà có công lớn một
phần nào trong những ngày pháp nạn 1963.
Please press HOME
to go back to the main web page
HOME
|