|
TIỂU SỬ SƯ BÀ
THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG
Điều
Ngự Tử TÍN NGHĨA
1. Bước Chân Trần Thế :
Thế danh :
Hồ Thị Hạnh,
Pháp danh
: Trừng Hảo,
(*)
Pháp tự :
Thích Nữ Diệu Không ,
Thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42
Sanh ngày 24 tháng 12 năm 1905 (theo
Âm lịch tức là ngày Đinh Dậu 28 tháng 11 năm Ất Tỵ).
Chánh quán làng An Truyền, xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.
Thân phụ là Đại thần Hồ Đắc Trung,
Thân mẫu là
cụ bà Châu Thị Ngọc Lương, người làng An Lai. Sư bà là em ruột của sư bà Diệu
Huệ.
Thiếu thời theo Nho học. Lớn lên theo Tây học. Bẩm chất thông minh.
Tính tình hiếu hòa, hiếu đạo. Mẫu người của bà vừa đạo đức, vừa văn nghệ. Thích
hoạt động nhất là về mặt từ thiện xã hội. Bà được thọ sanh trong một gia đình
danh giá vọng tộc, khoa bảng, nhưng uyên thâm về Phật học. Một gia đình đại phúc
đại quý, nên cụ Đại thần Hồ Đắc Trung đã tự vịnh gia đình của cụ qua bài thơ
sau:
Chồng vợ
nay đã đặng tám mươi,
Mười
con : bốn gái sáu con trai,
Trai đầu
khoa bảng quan nhị phẩm,
Gái thứ cung
phi đệ nhất giai.
Ba gái gả
nơi sang quý cả,
Năm trai
đều đậu đại khoa rồi.
Một nhà
hiếu đạo đều đầy đủ,
Trung phần
đây biết đố nhà ai ?
Năm 1929, bà vâng lời song thân kết duyên cùng với cụ Tham tá Cơ mật viện
Cao Xuân Xang (lúc nầy cụ
Cao Xuân Xang vừa góa vợ ba năm, để lại sáu con nhỏ).
Năm 1930, bà sinh hạ được một con trai là Cao Xuân Chuân. Cùng trong thời
gian nầy, chồng bà lại thất lộc. Tình nghĩa của bà chỉ vỏn vẹn có 11 tháng, thì
sống cảnh đơn chiếc.
Bà có một tư tưởng đặc biệt, khác hẳn với giới nữ lưu thường tình lúc bấy
giờ là : Một quận chúa trẻ, đẹp, học
thức, có tự do, thế mà bà thuận lấy một người chồng góa vợ với sáu đứa con dại,
lại mang bệnh lao phổi.
Mới 24 tuổi mà chấp nhận sống cuộc đời góa bụa với bảy đứa con
(đứa con đầu lòng của bà vợ trước
11 tuổi, đứa con nhỏ 3 tuổi cọng thêm đứa con mà bà mới sanh).
Bà thủ tiết thờ chồng nuôi con. Bà chịu đựng mọi thử
thách, nhất là về mặt tinh thần và tình cảm.
Những người bạn quen thân với bà Việt cũng như Pháp đều rất ngạc nhiên.
Họ cho là điều vô lý, khó hiểu. Cũng có một vài bà quá quen thân thường đến tâm
sự cùng bà thì được bà trả lời :
- Tinh thần phụ nữ Á đông là như vậy. Người phụ nữ Việt Nam, trước
một lời đã hứa thì không bao giờ thay đổi.
Bà đã hứa
với gia đình chồng là :
- Một đàn con bảy đứa, không mẹ, không cha. Chúng đã gọi mình bằng mẹ, thì không
thể nào không làm tròn trọng trách; vả lại, những gương nữ lưu Việt Nam đã để lại cho chúng ta soi là :
“Tiết Hạnh Khả Phong”,
thì chắc chắn chúng tôi phải học theo cho bằng được.
Dù là phụ
nữ, bà vẫn vừa giáo dục con cái vừa nghiêm nghị, vừa thương yêu. Bà tỏ ra rất
bình đẳng, không có sự phân biệt giữa con riêng, con chung. Vì thế, tất cả bảy
người con rất kính phục. Mọi người đều ca tụng bà, thì bà trả lời :
- Tôi gắng làm được như vậy là nhờ tinh thần vô ngã vị tha của Phật
giáo.
Tuy nữ giới, tinh thần vẫn tỏ ra như một nam nhi. Tinh thần dân tộc, đầu
óc canh tân xứ sở rất cao. Bà đã từng lập cửa hàng Nam Hóa ở cửa Thượng Tứ - Huế
để kêu gọi quần chúng bản tỉnh nên dùng đồ nội hóa. Bà đã lập hội đấu xảo tiểu
công nghệ cho giới phụ nữ ở số 2, đường Lê Lợi - Huế. Hội nầy gây ảnh hưởng rất
sâu rộng trong quần chúng địa phương một thời. Hội do bà Đàm Phương phụ trách.
Bà cũng tặng cho hội một bài thơ như sau :
Nữ công sang lập tại Thừa Thiên,
Kinh tế nâng cao bậc nữ quyền,
Gánh vác giang san thân gái Việt,
Duy trì nòi giống đất rồng tiên.
Công dung tinh tấn không lười biếng,
Ngôn hạnh đoan trang ấy chính chuyên.
Tất cả chị em nên gắng bước,
Noi gương Trưng, Triệu mãi lưu truyền.
Hằng ngày, bà thường hoạt động cho mặt xã hội từ thiện, công việc gia đình với
đàn con thơ dại ; nhưng, bà vẫn thường
lên chùa bái sám, học giáo lý Phật đà.
Khi đàn con khôn lớn, bà từ từ thoát ly cuộc sống hẹp hòi của gia đình để hướng
nẻo giải thoát. Bà giao phó công việc gia đình cho cô con gái thứ năm và bước
vào cửa thiền rất dõng mãnh. Nữ sĩ Đàm Phương có tặng một bài thơ để ca tụng
cuộc đời son sắc, đẹp đẽ của bà như sau :
Khoác áo nhu hòa thân
khoẻ không ?
Hiếu, Tình hai chữ trả đền xong,
Thở than, nuôi trẻ hai triêng
(*) nặng,
Mến đạo, thương đời một điểm trong.
Công quả đã tròn nơi Diệu Đức,
Phẩm tài chi kém bạn Phương Dung.
Nêu cao đuốc tuệ gương bồ liễu,
Như mảnh trăng tròn giữa biển đông.
(*)
Triêng
tức là gánh, theo thổ ngữ địa phương của
các tỉnh Bình Trị Thiên. Đòn Triêng tức đòn Gánh. Một Triêng tức là một Gánh.
2.
Bước Vào Thiền Môn :
Mùa Xuân năm Nhâm Thân (1932), sau khi trao gia thế lại cho đàn con và lên cầu
pháp với tổ Giác Tiên ở tổ đình Trúc Lâm. Lúc đầu ngài Phước Huệ chỉ dạy có mấy
vị : Mật Khế, Đôn Hậu, Vĩnh Thừa
(tức Ôn Châu Lâm), Mật Hiển, Mật Nguyện và Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám.
Bà có phước báo là được tham dự vào lớp học nầy.
Cuối năm 1932, bà lên chùa Khải Ân, làng Châu Ê, xã Thủy Bằng, quận Nam Hòa
(Chùa nầy do bà Hồ Thị
Chỉ, chánh thất của vua Khải Định và cũng là chị ruột của sư bà lập nên năm
1924),
để cọng trú với sư bà Thể Yến, Hướng Đạo
(tức sư bà Diệu Viên).
Tuy ở xa, bà vẫn theo lớp học ở Trúc Lâm.
Năm 1933,
bà thành lập Ni viện ở Tổ đình Từ Đàm.
Năm 1934,
khởi công xây dựng Ni viện Diệu Đức, cơ sở nầy hoàn thành năm 1936.
Mặc dầu đã thọ Sa di thập giới, nhưng tổ Giác Tiên
vẫn chưa cho thế phát. Vì tổ muốn bà thực hành hạnh Bồ Tát. Bà giữ chức
Tổng thư ký hội Lạc Thiện. Hội nầy rất uy tín với
Nam
triều cũng như đối với chính phủ Pháp.
Bà rất tích cực trong công cuộc chấn hưng Phật giáo. Là cánh tay phải
ngoại hộ cho hội An Nam Phật Học. Bà đã từng đi khắp từ Bắc chí Nam để
vận động tài chánh. Ngoài đức hạnh, bà còn được thêm uy tín nhờ ảnh hưởng của
gia đình Hồ Đắc, nên một khi đi đến đâu bà nói chuyện hay vận động từ quan lại
đến thứ dân ai ai cũng đều hưởng ứng.
Hết lớp học
ở Trúc Lâm, bà vẫn theo học lớp ngoại trú ở Tây Thiên, cho dù công việc từ thiện
xã hội vô cùng bề bộn … Chính bà đã vâng lời Hòa thượng Phước Huệ để tìm cho
bằng được cuốn kinh Kim Cang dệt bằng tơ lụa từ thời
Tây Sơn. Đại đế Quang Trung đã viết lời bạt trong cuốn kinh nầy. Hiện bảo pháp
nầy được tôn thờ tại Tổ đình Trúc Lâm.
Năm 1938,
bà vào chùa Giác Linh, tỉnh Sa Đéc để lập trường đào tạo Ni giới. Đâu đó, bà
cung thỉnh Hòa thượng Mật Hiển vào giảng dạy một thời gian dài.
Năm 1944, bà chính thức được thế phát, thọ Tỳ kheo ni và Bồ tát giới tại
giới đàn Thuyền Tôn, Hòa thượng Giác Nhiên làm Đàn đầu Hòa thượng
(thọ giới
cùng một lần với Thiền sư Mật Thể).
Năm 1949, bà khai sáng Hồng Ân Ni tự, thuộc thôn Thuận Hòa, đồi Dương
Xuân Thượng, xã Thủy Xuân, huyện Hương Thủy, cách tổ đình Trúc Lâm 800 mét.
Đồng trú
với bà gồm có :
Sư cô Diệu
Quang, sau nầy là Trú trì chùa Khải Ân, Nam Hòa.
Sư cô Diệu
Minh, đồng sư và là bào muội của sư cô Diệu Quang. Cô Diệu Minh là vị Ni
giới đầu tiên được chính phủ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa cấp học bổng đi du học
tại Pháp. Thủ tục hồ sơ vừa xong, cô thọ bệnh và viên tịch.
Sư cô Từ
Nhơn, sư cô Diệu Vị và sư cô Diệu Hoa.
Năm 1952,
khởi xướng lập chùa Bảo Quang, chùa Bảo Thắng ở Đà Nẵng, Quảng Nam.
Năm 1953, xây dựng chùa Tịnh Nghiêm ở Quảng Ngãi.
Năm 1960,
xây dựng Ni viện Diệu Quang ở Nha trang để đào tạo Ni giới cho cả hai chương
trình nội và ngoại điển.
Năm 1961,
vào Gò Vấp lập chùa Dược Sư. Cũng trong năm nầy lập thêm chùa Từ Nghiêm ở Chợ
Lớn.
Năm 1963,
tham gia phong trào tranh đấu Phật giáo để chống lại chính sách bất bình đẳng
tôn giáo của nhà Ngô. Trong cuộc họp để vạch một chương trình cụ thể cho cuộc
tranh đấu, bảo vệ chánh pháp, bà vào Sài Gòn cùng với Thượng tọa Thiện Minh để
kết hợp với Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo. Vừa đến Sài Gòn, bà liền tham gia
cuộc tuyệt thực ở chùa Ấn Quang. Sau khi Ủy ban Liên phái quyết định có thể phải
hy sinh thân mạng, bà xin tự thiêu trước. Trong lúc đang tịnh tâm bái sám để
chuẩn bị thiêu thân, Hòa thượng Quảng Đức đề nghị bà để cho Tăng phái lãnh trách
nhiệm trước. Vì ngài cũng tự nguyện thiêu thân. Ngài dạy bà như sau :
- “… Bảo vệ Chánh pháp là bổn phận và trách nhiệm chung của hàng đệ tử
Phật, dù xuất gia hay tại gia. Tuy nhiên, bà phải y theo Bát kỉnh pháp trước.
Ni chúng phải y theo Tăng chúng. Hãy đặt Đạo pháp lên trên tình cảm cá nhân. Tôi
biết bà rất lo cho Đạo, cho Dân tộc. Tâm bà rất tốt. Trong Ni chúng khó tìm ra
được một Diệu Không thứ hai. Bà còn phải ở lại cõi Ta Bà nầy mà hành Như Lai sự,
hành Bồ tát hạnh cũng không phải là nhỏ. Đạo pháp còn nhiều cam go. Giáo hội còn
phải cần nhiều cán bộ trung kiên như bà, …”
Mặc dầu lúc
mới nghe qua sự cản trở không cho bà được toại nguyện thiêu thân thể cầu nguyện
cho Đạo pháp được trường tồn, hưng thịnh thì bà cảm thấy buồn trong dạ ;
sau lời dẫn giải của Hòa thượng Quảng
Đức, bà cũng nhận thấy chí lý và tiếp tục tranh đấu theo đường lối Giáo hội
hướng dẫn.
Ngọn lửa Quảng Đức bùng cháy sáng trong vòng 15 phút thì bà ngất xỉu,
liền đưa bà về tĩnh dưỡng tại Ấn Quang.
Trước ngọn
lửa oai hùng đó, bà vô cùng xúc động và cảm phục. Thành tâm đãnh lễ và đề thơ
cúng dường :
Thầy ơi !
Con biết nói sao đây !
Lễ kỉnh
lòng đau trước Thánh thây,
Lửa cháy
lưng trời thân chẳng động,
Dầu loan
khắp đất ý không lay.
Tiêu diêu
Tịnh độ, Thầy theo Phật,
Lận đận
trần lao, con nhớ Thầy.
Tất cả Việt
Nam đoàn cảm tử,
Mấy ai tinh
tấn đặng như Thầy ?
Năm 1964, bà dựng chùa Diệu Giác ở Thủ Đức. Cũng trong năm nầy, Giáo hội
xây dựng Đại học đường Vạn Hạnh, bà cũng tích cực trong công tác nầy.
Năm
1965-1966, lại một lần nữa bà dấn thân cho cuộc tranh đấu đòi dân chủ dân quyền.
Pháp nạn 1966 của chế độ Nguyễn Văn Thiệu.
Năm 1967,
tạo lập Tịnh xá Kiều Đàm ở đường Công Lý - Sài Gòn. Công tác vừa yên, bà vội vã
về Huế để lo phần ngoại hộ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Thừa Thiên
- Huế mở lớp chuyên khoa Phật học nội trú Liễu Quán bốn năm.
Năm 1968,
vâng lời Giáo hội Thừa Thiên, đứng ra lo công tác xây cất Cô nhi viện Bảo Anh ở
Tây Lộc - Huế và Cô nhi viện Diệu Định ở Đà Nẵng, để có nơi nuôi dưỡng con em mồ
côi do cuộc chiến gây ra.
Năm 1970,
bà biến trụ sở nhà in Liên Hoa cũ thành Tịnh xá Kiều Đàm để cho Ni chúng học
hành, vì Ni chúng ngày một đông đúc.
Vừa tạm yên
công tác Cô nhi tử sĩ, cô ký nhi viện, bà liền lập chương trình đào tạo cán bộ y
tế cấp tốc để tiếp tay chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Những trạm y tế Hồng Ân,
Diệu Đế, Hòa Lương, ... đã giải quyết trực tiếp cho đồng bào địa phương và
cũng đã cũng đã gặt hái nhiều kết quả đáng kể.
Mặc dầu tuổi già sức yếu, bà không bao giờ chịu yên nghỉ. Tâm niệm của bà
là lấy đau khổ của chúng sanh làm phương châm tu niệm. Bà thường bảo với Ni
chúng :
- “Ngày nào tôi thấy dân chúng quê mình được an cư lạc nghiệp, có trình độ
học vấn cao thì tôi ngủ mới yên giấc, ăn mới ngon miệng.”.
Năm 1975, cùng chung số phận với quê hương, bà phải
đi đó đây để an ủi dân chúng. Không một Ni viện nào mà bà không phụ trách giảng
dạy và lo lắng về kinh tế.
Tuổi đời đã
trên 80 mà tinh thần vẫn minh mẫn. Công việc hành hoạt của bà chỉ có chư Bồ tát
mới biết được.
Năm 1986, tuy tuổi già sức yếu, bà vẫn đứng ra vận động và trực tiếp
trùng tu chùa Đông Thuyền. Chùa nầy được tạo lập dưới thời chúa Nguyễn.Gia Long
năm thứ hai, được trùng tu một lần cho đến nay. Ngài Tế Vĩ là vị sư đầu tiên làm
Trú trì. Hiện tháp và bia của ngài còn ở trong khuôn viên của chùa.
Cuộc đời của bà lợi tha hơn tự lợi. Vốn được thọ
sanh trong gia đình quyền quý, vọng tộc, khoa bảng danh giá ;
thế nhưng, bà vẫn giữ đức khiêm cung với
chư tôn thiền đức. Bà gìn giữ Bát Kỉnh Pháp đúng mức. Không những thế bà còn
kính trọng chư Tăng cho dù là các chú Sa di. Đức tánh mà bà thể hiện, chỉ có một
không hai và rất khó có ở các vị Tỳ kheo ni khác. Thật đúng với đạo hiệu Diệu
Không mà tổ Giác Tiên đã đặt cho bà. Quả thật xứng đáng là bậc mẫu từ của Ni
phái miền Trung và Việt Nam.
3. Phần Văn Hóa :
Bà chỉ là một nhà thơ hơn là nhà văn. Bà đã để lại những áng thơ hay
Đạo cũng như Đời.
Những đóng góp dịch thuật gồm :
- Kinh Lăng Già Tâm Ấn,
-
Đại Trí Độ Luận,
-
Thành Duy Thức Luận,
-
Kinh Duy Ma Cật,
- Và một số lớn bài thơ đủ thể loại, ...
Những loạt bài bà viết trong báo Phật giáo phần nhiều đều khuyến khích
giới phụ nữ Việt Nam
sống đúng Công Dung Ngôn Hạnh và giáo lý Phật đà để gia đình được hạnh phúc. Hai
tờ Viên Âm và Liên Hoa bà đều làm Quản lý từ đầu cho đến ngày đình bản.
Công việc
thì đa đoan, nhưng dung nghi lúc nào cũng thoát tục. Những ai đã được gặp bà một
lần thì không thể nào mà không kính mến, bái phục.
Để kết thúc một phần cuộc đời của sư bà Diệu Không, chúng ta hãy đọc bài
thơ sau đây để hiểu một phần nào trong sự liễu đạo của sư bà :
Ta bà, Tịnh độ ở đâu xa ?
Chỉ tại lòng ta niệm chánh tà,
Chánh niệm trang nghiêm thành Tịnh độ,
Tà tâm vận chuyển ấy Ta bà.
Vô Tâm, chánh Trí là Tâm Phật,
Hữu Ý, mê Tình, ấy Tánh Ma.
Tà, Chánh đều vong, vô lậu giới,
Ta bà, Tịnh độ ở Tâm ta.
Đức Phật thường dạy: Hữu hình hữu hoại. Cái thân
giả huyễn rồi cũng phải ly tan. Chỉ có pháp thân mới là cứu cánh. Trên 90 năm
trụ thế, Sư bà đã dấn thân cho Đạo cũng như Đời. Chỗ nào có phiền não, có khổ
đau là có sự hiện diện của Sư bà để an ủi, vỗ về và giúp đỡ cả hai mặt tinh thần
lẫn vật chất.
Tấm thân của Sư bà như một cây khô đã đến lúc
phải mục nát. Sư bà cũng
theo quy luật nầy. Trước ngày Sư bà viên tịch một ngày, bút giả có gọi điện
thoại về vấn an. qua điện thoại, tôi và Thượng tọa Thích Tánh Thiệt
(tọa chủ chùa Thiện Minh ở thành phố Lyon, Pháp quốc
qua thăm viếng Từ Đàm Hải Ngoại)
cùng hỏi han sức khoẻ Sư bà.
Chúng tôi thưa :
-.
Hai chúng con Tín Nghĩa và Tánh Thiệt gọi điện thoại về vấn an Sư bà đây
.
Sư bà ừ. Chúng tôi thưa hỏi tiếp :
-. Sư bà
khoẻ không ?
Sư bà đáp :
-. Khoẻ.
Chúng tôi cùng thưa :
-. Năm
nay Sư bà bao nhiêu tuổi rồi ?
Sư bà đáp :
-. Chín
mươi ba.
Chúng tôi cùng cười to và Sư bà cùng cười qua điện thoại trở lại rất vui
vẻ. Chúng tôi không thấy hơi thở và cũng không cảm nhận là Sư bà yếu đuối
gì cả. Thế nhưng, hai hôm sau, chúng tôi cùng gọi về và Ni chúng Hồng Ân
cho hay Sư bà đã viên tịch vào ngày 23 tháng Tám năm Đinh Sửu
(nhằm ngày 22 tháng 08
năm 1997).
Hưởng thọ 93 tuổi, 65 năm ở chùa và được 53 hạ lạp. Tang lễ của Sư bà được tổ
chức trọng thể và trang nghiêm.
Tỉnh Giáo hội Thừa Thiên đứng ra lo tang lễ. Chư Tăng Ni và Tín đồ khắp
nơi về dự đám tang và tiễn đưa nhục thân của Sư bà nhập bảo tháp rất đông đúc
Tháp của Sư bà được xây cất trên một đồi thông đẹp đối diện với Ni tự Hồng Ân,
cách cánh đồng nhỏ. Ngọn đồi này là đất đai của thân tộc Hồ Đắc.
Khi người viết đang ở hải
ngoại, Sư bà lên thượng thọ bát tuần, chúng tôi có đặt tặng Sư bà câu đối nhờ
quý Ni sư Minh Đức, Minh Tú, Minh Nhựt, Minh Hằng ở chùa Đức Sơn và Hòa Lương
nhờ người viết lại và đọc Sư bà nghe khi Đại chúng Ni giới chúc thọ Sư bà như
sau :
*.- Diệu hữu chơn không vi thường diệu,
*.-
Không đàm bí điển tổng
giai Không.

Chú thích :
(*)
Khi Sư bà chưa Xuất gia, quy y với ngài Lương Duyên ở
Từ Hiếu, nên Sư bà có chữ Trừng đồng hàng với tổ Giác Tiên. Khi phát tâm xuất
gia là học trò của Tổ.
Please press HOME
to go back to the main web page
HOME
|