(*)
*)
Hòa thượng họ Nguyễn Duy húy là Quảng.
(*)
*)
Thọ sanh dưới triều Nguyễn, đời vua Duy Tân năm thứ ba, ngày 04 tháng 03 năm
1907 (tức nhằm ngày Nhâm Tý 20 tháng Giêng năm Đinh Mùi theo lịch vạn niên), tại
làng Gịa Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Một làng
chạy dọc theo dãy Trường Sơn và quốc lộ số Một, nhưng có một đồng ruộng phì
nhiêu nổi tiếng nhất ở Hương Thủy.
(*)
*)
Thân phụ là cụ Nguyễn Duy Bút, một bậc thâm nho lại có nghiên cứu về Phật học,
đạo đức, khi xả báo thân thọ 93 tuổi.
(*)
*)
Thân mẫu là bậc mẫu nghi hiền hòa, hiếu đạo. Nhờ phúc ấm ấy mà ngài đã sớm xuất
gia, tầm sư phỏng đạo.
(*)
*)
Lên năm tuổi, ngài được theo Nho học và Phật học với phụ thân.
Năm Giáp Dần (1914), được bảy tuổi liền đầu sư với tổ Giác Tiên tại Tổ đình Trúc
Lâm.
2.- Sự
Nghiệp Tu Học :
(*)
*)
Với bẩm chất thông minh, ngài học kinh điển rất nhậm lẹ. Thời công phu mà chúng
tăng thường tụng mỗi buổi sáng, ngài chỉ học trong một tuần là thuộc nằm lòng.
Sư phụ cũng hài lòng mà chúng lý ai ai cũng nể phục. Chuyên tinh học hành kinh,
luật và luận với sư phụ suốt bảy năm liền.
(*)
*)
Năm Tân Dậu (1921), nhơn cậu Hoàng Cả
(tức vua Khải Định khi chưa tức vị), lên
chùa lạy Phật và viếng cảnh, nhận thấy ngài thông minh đỉnh ngộ, cậu Hoàng Cả
bèn xin tổ Giác Tiên cho đưa vào hoàng cung để đào tạo thêm phần Nho học. Nhưng
vì quyết chí học đạo giải thoát, chí xuất trần quá mạnh, ngài chỉ ở trong hoàng
cung, nội phủ vỏn vẹn một năm rồi cũng xin trở lại chùa cùng sư phụ.
(*)
*)
Năm Nhâm Tuất (1922), lên 15 tuổi, được bổn sư cho đăng đàn thọ Sa di Thập giới
tại Đại giới đàn Từ Hiếu.
(*)
*)
Pháp danh :
Tâm Hương
(*)
*)
Pháp tự :
Mật Hiển
(*)
*)
Thuộc giòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 43.
(*)
*)
Với đạo hạnh và uy đức ấy, bổn sư cho ngài ra đảm nhiệm việc sơn môn để phát huy
đạo pháp trong thập niên đang chấn hưng Phật giáo tại miền Trung, mặc dầu trong
lúc này ngài chưa thọ Cụ túc giới.
(*)
*)
Năm Ất Sửu (1927), vừa tròn 20 tuổi, ngài thọ giáo Mật tông với một vị Pháp sư
người Tây Tạng tại nhà ông Lương Tế Xuyên, ở Quảng Nam
(bây giờ là tòa Hành
Chánh của thị xã Đà Nẵng). Theo học được hai năm, trong chuyến về thăm chùa và
sư phụ, ngài định muốn sang tận Trung hoa để học thêm Mật tông và có cơ hội
nghiên cứu thêm giáo lý Phật đà, thì Tổ bảo ở nhà để cùng sơn môn chung lo công
cuộc chấn hưng Phật giáo đang còn phôi thai, cán bộ thì hiếm hoi, cuối cùng ngài
đành phải vâng lời và ở nhà lo Phật sự.
Lớp Đại học Phật giáo đầu tiên được mở tại Trúc Lâm, sau đó dời qua Tổ đình Tây
Thiên, ngài đã theo học hết tất cả những chương trình một cách rốt ráo và trọn
vẹn. Bẩm chất thông minh nên ban Giảng huấn vô cùng thương mến. Đặc biệt Hòa
thượng Giám đốc Quốc sư Phước Huệ thường tấm tắc khen thầm trong lúc chấm bài
nộp quyển của ngài cũng như khi đang giảng dạy tại lớp.
(*)
*)
Hòa thượng Phước Huệ vì tuổi già sức yếu, vã lại, cán bộ của đạo lúc này cũng
tương đối vững mạnh, ngài trở về lại Tổ đình Thập Tháp (Bình Định). Trước khi
trở về, đức Từ Cung
(mẹ của vua Bảo Đại)
có thưa hỏi lên ngài Phước Huệ như sau
:
(*)
*)
-. “Sau khi Hòa thượng về rồi, chúng con muốn học thêm giáo lý, kinh điển thì
biết làm sao ?”.
(*)
*)
Hòa thượng hoan hỉ trả lời :
(*)
*)
-. “Sau này quý vị nào muốn học thêm kinh điển thì nên theo học với chú Hiển
(tức
Hòa thượng Thích Mật Hiển bây giờ).
(*)
*)
Cũng chính từ lời dạy ấy của Hòa thượng Phước Huệ, mà năm Đinh Sửu (1937), vua
Khải Định và đức Từ Cung đã cung thỉnh ngài về cung An Định ở An Cựu để hướng
dẫn kinh điển cho Nguyễn Phước tộc.
(*)
*)
Vì hoàn cảnh của đất nước trong thời tao loạn do thực dân Pháp chiếm giữ làm
thuộc địa, việc đi lại ngày càng thêm khó khăn, mọi sinh hoạt từ chốn thiền môn
ra đến dân dã cũng đều bị đình trệ.
(*)
*)
Năm Bính Tý (1936), vừa đúng 29 tuổi mới có Đại giới đàn mở tại Bình Định, ngài
được đăng đàn cầu thọ. Ngài thọ Tỳ kheo và Bồ tát giới do ngài Phước Huệ làm Đàn
đầu, đổ Thủ khoa, được chư vị Trưởng lão trong đàn giới truyền trao Y bát và
Tích trượng.
(*)
*)
Tổ Giác Tiên cũng truyền kệ phú pháp như sau :
(*)
*)
Tâm Hương (*) pháp giới huân,
心 香 法 界 薰
(*)
*)
Xứ xứ kết tường vân,
處
處 結 祥 雲
(*)
*)
Phú nhữ tâm hương tánh,
付 汝 心 香 性
(*)
*)
Cừ kim chánh thị quân.
渠 今 正 是 君
(*)
*)
(*)
Tâm Hương
là Pháp danh của ngài Mật Hiển. Căn cứ vào Pháp danh để Tổ đặt kệ
phú pháp.
3.- Ảnh Hưởng Của Ngài
Đối Với Đạo :
(*)
*)
Ngài là một trong bảy
vị giảng sư đầu tiên “Cốt Tủy Nghi Lễ Phật Giáo”.
(*)
*)
Năm Kỷ Mão (1939) được bộ Lễ và Sơn môn cung thỉnh chức vị Trú trì quốc tự Thánh
Duyên (tức chùa Túy Vân tại quận Vĩnh Lộc bây giờ).
(*)
*)
Năm Nhâm Ngọ (1942), ngài đứng ra vận động chư Tôn đức Tăng già để mở Đại giới
đàn tại Tổ đình Thuyền Tôn. Thiền sư Mật Thể và Sư bà Diệu Không đắc giới ở Đại
giới đàn này.
(*)
*)
Năm 1949-1951, vì nhu cầu hoằng truyền giới pháp, ngài phải vào tận Sa Đéc để
giảng dạy kinh điển cho Tăng Ni ở đây. Có đến 106 vị theo học với ngài trong
thời gian này. Trong số 106 vị ấy, có vị là cán bộ cao cấp của Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất bây giờ, và, Sư bà Thích nữ Viên Minh, đương kim Viện
chủ Hồng Ân Ni tự, cách Tổ đình Trúc Lâm 500m, cũng đã theo học khóa nầy.
(trước
30 tháng Tư - 1975).
(*)
*)
Năm 1953 - 1955, Sơn môn Tăng già cung thỉnh ngài đảm nhận chức Tổng trị sự Tăng
già Trung Việt.
(*)
*)
Năm Bính Thân (1956), ngài đại diện Giáo hội và chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa đi dự
Đại lễ Phật đản tại Đông Hồi. Nhân dịp này, ngài đã được đi chiêm bái, thăm
viếng các Phật tích, chùa chiền, thắng cảnh của các nước Thái Lan, Tích Lan,
Miến Điện và Ai Lao … Khi trở về, ngài có thuật lại chuyến đi này bằng một tác
phẩm nhỏ Phật Đản Đông Hồi
(*)
*)
(Năm 1965, người viết có đọc được một lần, Tết Mậu Thân (1968), chùa chiền bị hư
hại, nên tác phẩm này cũng tan nát theo tủ kinh sách của người viết).
(*)
*)
Năm Kỷ Hợi (1959), Giáo hội và chính phủ cử đi dự Đại hội Hòa bình thế giới tại
Nhật Bản. Ở đây Ngài đã tham dự Đại lễ Phật đản, sau khi về nước Ngài có thuật
lại một bài viết ở Tập San Liên Hoa vào mùa Đản sanh 2503 -1959.
(Xin quý độc
giả đón đọc ở phần cuối của bài nầy).
(*)
*)
Kể từ năm 1962 trở về sau này, ngài là vị Đặc ủy Tăng sự của Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ngài cũng là vị Giám luật của Tăng Ni
bản tỉnh.
(*)
*)
Năm Quý Mão (1963), ngài là Trưởng ban tổ chức Đại lễ Phật Đản 2507 tại Thừa
Thiên. Cũng trong mùa Phật Đản lịch sử này đã mở ra một trang sử mới cho Phật
giáo là xóa tan Dụ số 10 mà nhà Ngô Đình đã lợi dụng để tận dụng trong thời gian
cầm quyền đàn áp Phật giáo cũng như các giáo phái và đảng phái chân chính khác.
(*)
*)
Sau ngày Cách mạng 01-11-1963 thành công, Giáo hội đi đến vấn đề thống nhất các
giáo phái Phật giáo ; Hòa thượng Đôn Hậu là Trưởng phái đoàn miền Vạn Hạnh, ngài
là Trưởng phái đoàn Thừa Thiên - Huế.
(*)
*)
Ngài cùng với quý Hòa thượng Thiện Hòa, Trí Thủ đứng ra thành lập Ban bảo trợ
cho các Phật học đường trên toàn miền Nam Việt Nam.
(*)
*)
Năm Ất Tỵ (1965), là Đệ tứ Tôn chứng sư Đại giới đàn Vạn Hạnh tại Tổ đình Từ
Hiếu
(*)
*)
(Hòa thượng Trí Chơn, Phó chủ tịch Giáo Hội PGVN Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ
đắc giới ở giới đàn này).
(*)
*)
Năm Đinh Mùi (1967), ngài cùng quý Hòa thượng Đôn Hậu, Mật Nguyện và Thiện Siêu
đứng ra mở lớp Chuyên khoa Phật học nội trú bốn năm tại Tổ đình Linh Quang
(*)
*)
(Ở hải ngoại hiện đang hành hóa Phật pháp có các vị như : Thượng tọa Thích Tín
Nghĩa khai sáng Tổ đình Từ Đàm Hải Ngoại tại Dallas, tiểu bang Texas, Thượng tọa
Thích Tịnh Từ khai sáng kiêm Viện trưởng Tu viện Kim Sơn, thành phố Watsonville,
tiểu bang California, Thượng tọa Thích Thiện Trì tọa chủ chùa Kim Quang tại
thành phố Sacto, CA, đều xuất thân từ khóa này).
(*)
*)
Năm Mậu Thân (1968), được Hội đồng viện Tăng Thống suy cử lên ngôi vị Hòa Thượng
để tán dương công hạnh tu niệm và hành đạo của ngài. Và, cũng trong năm này,
ngài là Giáo thọ A xà lê sư cho Đại giới đàn mở ra tại Phật học viện Hải Đức,
Nha trang.
(*)
*)
Năm Canh Tuất (1970), làm Giáo thọ A xà lê sư tại Đại giới đàn Vĩnh Gia, tổ chức
tại Phật học viện Phổ Đà, Đà Nẵng.
(*)
*)
Năm Nhâm Tý (1972), làm Giáo thọ A xà lê sư cho giới đàn Bảo Quốc.
Năm Quý Sửu (1973), ngài được suy cử vào Hội đồng viện Tăng Thống.
(*)
*)
Trong lúc này, Hòa thượng Mật Nguyện, pháp đệ của ngài vừa viên tịch, ngài lại
phải nhiếp hóa Tăng chúng của Linh Quang nữa.
(*)
*)
Cũng trong năm 1973, Hội đồng lưỡng viện cung thỉnh ngài vào ngôi vị Giám luật
cho Tăng tín đồ toàn quốc.
(*)
*)
Năm Ất Mão (1975), làm Giáo thọ A xà lê sư cho giới đàn Bảo Quốc.
(*)
*)
Hiện tại (kể từ năm 1978 đến ngày viên tịch), ngài là Phó Pháp chủ Giáo hội Phật
giáo Việt Nam.
(*)
*)
Tháng Tư - 1975, tinh thần dân chúng miền Nam Việt Nam, trong đó có Giáo hội
Phật giáo chịu không biết bao nhiêu là thống khổ dưới mọi hình thức ; đứng trước
mối gian nguy ấy, ngài phải đứng chịu mũi cắm sào để xử thế với thời cuộc. Không
những Ngài chỉ lo cho Đạo pháp mà còn lo cho cả Đại khối dân tộc nữa.
(*)
*)
Trong những biến chuyển của lịch sử Đạo cũng như Đời, kể từ Nhật, Pháp thuộc, Đệ
nhất, Đệ nhị Cộng Hòa và giai đoạn chuyển tiếp từ năm 1975 về sau này nữa, không
lúc nào mà Ngài không dấn thân để lèo lái vận mệnh Giáo hội từ Trung ương cho
đến địa phương.
(*)
*)
Hình ảnh của Ngài trong các Đại hội GHPGVNTN kỳ 5, kỳ 6, và kỳ 7; nếu không có
ngài trong Đại hội, thì chúng ta cũng thừa biết rằng :
Đại hội khó đi đến thành
công.
(*)
*)
(Những ai đã biết đến ngài, những ai đã từng thọ giáo với ngài hay đã từng tham
gia Giáo hội các cấp, có tham dự các Đại hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại
Trung ương thì rõ ràng nhất).
(*)
*)
Tiếng nói và hình ảnh của ngài cũng đủ để cho lòng người bớt tham, sân, và si.
Cuộc đời ngài là bóng mát từ bi. Đúng là bậc danh tăng, thiền đức. Xứng đáng với
các đức tính Đại hùng, Đại lực, Đại trí và Đại từ bi.
(*)
*)
Ngài thường dạy đồ chúng sống theo hạnh của ngài Bách Trượng thiền sư là :
(*)
*)
-. “Nhất nhật bất tác nhất nhật bất thực”.
Nghĩa là :
(*)
*)
-. Một ngày không làm là một ngày không được ăn.
(*)
*)
Đệ tử của ngài dù có theo tân học, nhưng vẫn sống đúng theo quy củ thiền môn như
ngài đã dạy. Đặc biệt Tổ đình Trúc Lâm sống theo nông thuyền dù bất cứ chế độ
nào.
(*)
*)
Những ai đã được tôi luyện ở chốn già lam Trúc Lâm, ít ra cũng có được một số
kiến thức căn bản về Phật pháp, đạo hạnh để tự tu niệm và hành trì.
(*)
*)
Hiện thân của ngài cùng với cảnh trí thiền viện Trúc Lâm, thật xứng đáng :
(*)
*)
(*)
*)
-.
“Y Bát mai sau, truyền gốc đạo,
(*)
*)
(*)
*)
-.
Tre già, măng mọc ngắm càng xinh …”
(*)
*(Đoàn Lục Quán)
(*)
*)
Cuộc đời ngài luôn luôn gắn liền với Đạo pháp và Dân tộc. Không lúc nào mà ngài
không lo nghĩ và để tâm cho Tăng Ni và quần chúng Phật tử cũng như đồng bào.
(*)
*)
Bẩm tính cương trực, vừa mật cũng vừa hiển, phù hợp với đạo hiệu của Ngài. Sư bà
Diệu Không đã tặng ngài một bài thơ đúng với Pháp hiệu, bẩm tánh và hạnh nguyện
của ngài như sau :
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
Hòa thượng kim triêu ngoại thất tuần,
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
Hoa niên xuất tục thậm gian truân,
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
Trực tâm nhất niệm kinh thường diễn,
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
Phật tánh viên dung luận quán quân.
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
MẬT tại ý trung vô trú trước,
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
HIỂN ư tướng ngoại hữu nghiêm huân,
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
Đồng trần ly nhiễm nan tư nghị,
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
Huấn thị ban truyền đại chúng tuân.
(*)
*)
(*)
*)
v(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
Diệu Không - Giáp Dần - 1975
(*)
*)
Và cụ Đoàn Lục Quán cũng biết về hạnh nguyện và bẩm tánh của ngài nên cũng đề
thơ tặng như sau :
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
Mật Hiển thanh niên tánh hiếu kỳ,
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
Thâm uyên nguyệt tại thiểu nhân tri,
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
Đáo giả ân cần chơn Phật tử,
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
Lai sanh đương kế cửu liên trì.
Đoàn Lục Quán
(*)
*)
Trước cảnh Đạo pháp đang gặp phải lắm đau thương, Dân tộc thì lâm vào cảnh lầm
than khốn khổ ; Tăng Ni thì bị đày xa xứ, kẻ thì tù tội không có ngày về, hằng
ngày Ngài cứ than dài thở vắn cho tình đời nghĩa đạo. Một ngày như mọi ngày, với
tuổi đời ngoài tám mươi mà vẫn kéo bộ cái thân già ốm yếu ra tận văn phòng Giáo
hội để làm điểm tựa và niềm tin cho Tăng Ni tín đồ bản tỉnh,
nhất là lớp Tăng Ni
trẻ tuổi có tâm đạo nhiệt thành, một lòng dĩ chí phụng đạo.
(*)
*)
4.- Những Ngày Cuối Cùng :
(*)
*)
Đầu Xuân năm Nhâm Thân (1992), ngài như có linh cảm cho sự ra đi của mình, nên
trong ngày húy nhật của đấng thân sinh, ngài đã về quê thăm viếng mộ phần của Tổ
tiên lần cuối cùng những nấm mồ quý kính.
(*)
*)
Cũng trong dịp tết Nhâm thân này, chư Thượng Tọa, Đại Đức
Tăng Ni trong Ban Trị sự đã đến Tổ đình Trúc Lâm để đảnh lễ và chúc thọ ngài.
Khác hẳn những năm trước, năm nay, ngài đã dạy Tăng chúng Trúc Lâm lạy đáp lễ
Ban Trị sự, rồi ngài ân cần khuyên nhủ với giọng nghiêm và buồn làm sao, như là
những lời di huấn tối hậu :
(*)
*)
“… Tôi cám ơn quý Thầy. Trong năm
qua, quý Thầy đã cùng tôi chung lo việc Giáo hội, tuy có nhiều cực nhọc, song
cũng có nhiều kết quả tốt. Tôi thiết tha mong mỏi quý Thầy hãy thương mến, hòa
hợp với nhau để chung lo Phật sự ; thấy thành công quý Thầy đừng kiêu hãnh, thấy
khó khăn cũng đừng nản lòng. Hãy lấy xả lợi làm vinh hoa, lấy khó khăn làm sự
tác thành. Có như vậy, quý Thầy mới thành tựu đạo nghiệp chí thượng, ngõ hầu báo
đáp được thâm ân Phật Tổ và không bội phản hạnh nguyện nhập thế, xuất trần của
mình …”
(*)
*)
Sau đó, Ngài lần lượt đi thăm các bậc Tôn túc trong Giáo
hội, chiêm bái các Tổ đình, khuyên dạy và nhắc nhủ chư Tăng Ni và đồ chúng cố
gắng tinh cần tu học, phục vụ chánh pháp, lợi lạc quần sanh.
(*)
*)
Ngài vừa đứng ra nhận lãnh trách nhiệm Trưởng ban tổ chức
tang lễ cho cố Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Chánh thư ký xử lý viện Tăng
Thống mới viên tịch trong ngày 23 tháng 04 năm 1992 ; tang lễ vừa xong, Ngài thọ
bệnh.
(*)
*)
Ngày 15-05-1992 (tức ngày 13
tháng Tư năm Nhâm Thân), Giáo hội Thừa Thiên cử một Ban Đại diện gồm
chư Tôn túc trong Giáo hội vào vấn an ngài và cũng để trình ngài hay là : Giáo
hội sẽ trang trọng cử hành Đại lễ Phật đản 2536 tại Từ Đàm đúng vào lúc 9 giờ
sáng ngày Rằm ; đồng thời thỉnh ngài chứng minh tinh thần cho ngày đại lễ.
(*)
*)
Hàng Giáo phẩm trong Giáo hội đứng chung quanh ngài, thưa
hỏi :
(*)
*)
-. Ôn có mệt lắm không ?
Ngài trả lời :
(*)
*)
-. Tôi tuy trong người có mệt,
nhưng, các Thầy cứ yên tâm lo lễ Phật Đản, xong lễ tôi mới đi.
(*)
*)
Thật là một lời dạy vô cùng quý giá, ngài đã biết trước giờ
viên tịch, chọn ngày Phật Đản và đợi cho lễ Phóng sanh đăng trên dòng Hương
Giang hoàn tất, kết thúc chương trình tuần lễ Đản Sanh của đấng Từ Phụ Thích Ca
Mâu Ni.
(*)
*)
Đúng vào lúc 21 giờ 40’, ngày Rằm tháng Tư năm Nhâm Thân
(tức Chủ nhật, ngày 17 tháng 05 năm 1992),
ngài xả báo thân để về cõi tịnh giữa tiếng tụng kinh niệm Phật của Hòa thượng
Thiện Siêu và đông đủ chư Tăng Ni trong Ban trị sự cùng môn đồ tứ chúng. Ngài
hầu Phật đúng ngày trăng tròn đức Phật thị hiện Đản Sanh.
Lễ nhập tháp vào ngày 22 tháng Tư, (tức Chủ nhật, ngày
24 tháng 05 năm 1992).
(*)
*)
Ngài thọ thế 86 tuổi. Suốt 79 năm liền ngài ở tại Trúc Lâm
Đại Thánh tự, hạ lạp 57 tuổi đạo.
(*)
*)
Tóm lại, cuộc đời của Hòa thượng Thích Mật Hiển đối với đạo
là :
Một cuốn Trường hàng Tỳ ni Nhật dụng .
Đối với dân tộc là một trang sử vàng son cho những ai muốn làm Cách mạng, nhất
là cách mạng bản thân.
(*)
*)
Mặc dầu ngài đã chọn con đường đi và ở đúng với Phật pháp
là :
(*)
*)
-. “Sanh nhi bất sanh,
tích Thế tôn Sa la song thọ thị hiện Niết bàn,
(*)
*)
Tử nhi bất tử, tằng Đạt
mạ chích lý Tây quy”.
(*)
*)
Và cũng thuận thế gian :
(*)
*)
Sanh viết ký như tử viết
quy,
nghĩa là :
(*)
*)
Sống gởi thác về.
(*)
*)
Nhưng than ôi ! Là con người, là chúng sanh thì không ai mà
không đau lòng xót dạ, không ai mà không khỏi ngậm ngùi rơi lệ vì :
(*)
*)
Trước cảnh dầu sôi lửa bỏng về thời cuộc của Dân tộc và Đạo
pháp trong hiện tại, thì Ngài từ giả tất cả.
(*)
*)
Sự ra đi của ngài là một mất mát lớn lao không những chỉ
cho Giáo hội mà còn chung cho cả đại khối dân tộc, đặc biệt là miền Trung và Cố
đô Huế.
(*)
*)
Rất khó mà có được một vị thứ hai như ngài có cùng một tấm
thân, một bẩm tính vừa nhu, vừa cương vừa hiển lại vừa mật để đứng ra lo giềng
mối, kỷ cương cho lớp Tăng Ni hậu tấn ; làm trụ côt chính để gánh vác hai mặt
Đời và Đạo.
(*)
*)
Mặc dầu ngài đã rủ áo, buông tay đi vào cõi vô sanh diệt ;
nhưng đạo phong, âm ba của ngài vẫn còn vang vọng mãi mãi trong lòng Tăng Ni và
Tín đồ Phật giáo cũng như quê hương cẩm tú Việt Nam. Hậu bối và là đệ tử của
ngài (người viết và là đệ tử trực tiếp của Ngài)
xin mạo muội cúng dường câu đối :
(*)
*)
*.- MẬT
(*) tại ý trung, thiền đăng
tục diệm ư chánh nhơn, tác tòng lâm chi mô phạm,
(*)
*)
+.- 密 在 意 中, 禪 燈 續 燄 於 正 因, 作 叢 林 之 模
範.
(*)
*)
*.-
HIỂN
(*) ư tướng ngoại, tổ ấn cao
quang ư thục quả, vi tứ chúng chi chiêm y.
(*)
*)
+.- 顯 於 相 外, 祖 印 高 光 於 續 果, 為 四 眾 之 瞻
依.
(*)
*)
(*) Hai
chữ đầu viết hoa là Pháp hiệu của ngài, là bổn sư của người viết.
(*)
*)
Trong tang lễ của cố Đại lão Hòa thượng chư Tăng Ni và Phật
tử toàn quốc về tham dự cúng dường cả hàng trăm bức liễng, đối và vòng hoa. Đại
để là những câu được rút ra từ kinh Phật.
(*)
*)
Tuy thế, cũng có một số câu hoặc bài thơ đặc biệt nói lên
sự thương tiếc và uy đức tu niệm cao diệu của ngài.
(*)
*)
Thầy Tâm Chơn, hậu duệ của ngài Hồng Khê cúng dường câu đối
:
(*)
*)
(*)
*)
*.-
MẬT hạnh dụng thần lợi nhân
lợi vật ly trước tướng,
(*)
*)
(*)
*)
*.-
HIỂN công viên tựu đương quán
đương chỉ ứng thiền cơ .
(*)
*)
Chư Tăng và Phật tử chùa Hải Quang, Sài Gòn cúng dường bức
liễng bốn chữ
(*)
*)
-. Tạc Dạ Chi Mai
(*)
*)
Trường Cao cấp Phật học cúng bốn chữ :
(*)
*)
-. Phật Pháp Đống Lương
(*)
*)
Khuôn Giáo hội Lương Quán cúng bốn chữ :
(*)
*)
-. Sơn Hà Bi Lệ .
Ngài Thích Thiện Trí và chúng Hiếu Quang cúng dường câu :
(*)
*)
*.-
Chiên đàn hương phong ly đẳng Chúng,
(*)
*)
*.-
Trúc Lâm hoa vũ ức cao Tăng.
(*)
*)
Hòa thượng Thích Trí Quang dạy :
(*)
*)
-.
Mật hạnh của ngài, chúng ta không thể tư nghì, mà chỉ có Phật và Bồ Tát mới hiểu
được nên Hòa thượng cúng dường câu :
(*)
*)
“ Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di
Đà Phật ”.
(*)
*)
Đặc biệt Thượng tọa Viên Minh và môn đồ chùa Huyền Không
cùng quý vị ký tên đã cúng điếu cũng như khóc thương về ngài bằng những vần thơ
:
(*)
*)
Thiên cổ lung linh ngọn
nến hồng,
(*)
*)
Người đi sương nước lệ
ngàn không,
(*)
*)
Kim Cương, bút phất tờ
mây trắng,
(*)
*)
Viên Giác, trăng treo vạt
áo sồng.
(*)
*)
Bỏ bến, thung dung thuyền
mật độ,
(*)
*)
Vào đời, thanh thản gót
chơn tông,
(*)
*)
Thiên nhiên, khí tiết
bừng trăm trượng,
(*)
*)
Hạo hạo, nghi dung ngút
vạn tòng.
(*)
*)
Hiên lặng, cỏ rền – thơ
nở chữ,
(*)
*)
Tháp nghèo, sỏi đá - đạo
đơm bông,
(*)
*)
Trường giang, nhạn quá
tâm lưu phụng,
(*)
*)
Rừng Trúc, non linh tuệ
nhật đồng.
(*)
*)
Mùa Phật Đản 2536 – chùa Huyền
Không cẩn bút.
(*)
*)
Bài dưới đây không nhận được quý danh với bài thơ :
Hương Từ Rừng Trúc
(*)
*)
(*)
*)
Đầu đà giới hạnh nghiêm thông,
(*)
*)
(*)
*)
Đạo phong cao ngất, trăng rằm
trời thu.
(*)
*)
(*)
*)
Viên dung Phước Huệ song tu,
(*)
*)
(*)
*)
Ngàn năm còn thoảng Hương Từ Trúc
Lâm.
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
Khóc Thầy
(*)
*)
(*)
*)
Nhớ thương, thương nhớ nỗi đầy
vơi,
(*)
*)
(*)
*)
Rừng Trúc từ nay vắng bóng Người,
(*)
*)
(*)
*)
Tiếng ngọc Niết Bàn là ngọn sóng,
(*)
*)
(*)
*)
Trang kinh Bát Nhã sạch hiên đời.
(*)
*)
(*)
*)
An nhiên my khép bờ hư ảo,
(*)
*)
(*)
*)
Thanh tịnh trăng chìm cánh viễn
khơi.
(*)
*)
(*)
*)
Dâng nén trầm hương dâng khói tỏa,
(*)
*)
(*)
*)
Nhớ thương, thương nhớ nỗi đầy
vơi.
(*)
*)
(*)
*)
Ngọc Quế
*
*
*
(*)
*)
(*)
*)
(*)
*)
Tiễn Biệt
(*)
*)
(*)
*)
Vầng trăng soi sáng dặm trường,
(*)
*)
(*)
*)
Người đi để lại tình thương vô bờ.
(*)
*)
(*)
*)
Mây sầu giăng kín hồn thơ,
(*)
*)
(*)
*)
Trúc Lâm vắng bóng Ôn, chừ buồn
tênh.
(*)
*)
(*)
*)
Trăm năm giấc mộng vô tình,
(*)
*)
(*)
*)
Người đi, con ngỗ dáng hình còn
đây.
(*)
*)
(*)
*)
Cuộc đời đạo hạnh cao dày,
(*)
*)
(*)
*)
Uy nghiêm phước tướng, tỏa đầy
thiền môn. Tuệ Tâm
(*)
*)
Từ nơi vùng
trời xa thẳm, cách quê hương mến yêu bằng nửa quả đất, vọng về Tổ đình Trúc Lâm
dâng nén tâm hương và cúng dường một vài tâm sự lên Sư Ph