TƯỞNG
NIỆM
HÒA THƯỢNG
THÍCH MẬT HIỂN
ĐỨC HẠNH

gười
Phật tử Việt Nam đang sống nơi đất khách, không
ai mà không nhớ thương quê hương tổ quốc. Nhớ hơn bao giờ hết là vào mùa Vu Lan
báo hiếu vì đang mang huyết thống tổ tiên Đạo pháp, thầy tổ trong thân tâm mình.
Thiên hạ bốn
phương thương nhớ bao nhiêu, riêng tôi nhớ thương nhiều lắm. Trong đó ngoài bổn
sư là Hòa Thượng Thích Trí Thủ, cha mẹ, quyến thuộc hai bên, tôi luôn không quên
hoài niệm đến các bậc danh tăng chư tôn đức Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức,
Tăng Ni của ba miền đang còn và đã viên tịch thật sâu đậm trong lòng tôi. Bởi vì
thời gian quá khứ khi tôi còn mặc áo xuất gia được quý ngài thương yêu lúc học
hành, khi thị giả,
dù chỉ một vài ngày hay một tuần đối với mỗi vị từ Sài Gòn ra, Huế vào, Bình
Định vô, Phú Yên đến Phật Học Viện Hải Đức, Già Lam, cũng đủ làm cho tôi ghi lại
đậm nét kỷ niệm lòng từ bi rộng lớn của từng vị đối với riêng tôi, nếu không nói
là những đức tính từ bi hỷ xả đặc biệt của quý ngài.
Vị Hòa Thượng
mà tôi không bao giờ quên, luôn ghi đậm vào tâm thức tôi nhiều kỷ niệm đặc biệt
nhất, đó là Hòa Thượng Thích Mật Hiển, còn gọi là Hòa Thượng Trúc Lâm hay ôn
Trúc Lâm.
Nói đến Hòa
Thượng Thích Mật Hiển – Trúc Lâm, hầu hết chư Tăng Ni các cấp, nhất là Tăng Ni
sinh và Phật tử toàn miền Nam Việt Nam trước 1975 nói chung, ở Huế nói riêng,
đều biết trực tiếp và gián tiếp đến uy danh, đạo đức đặc biệt của ôn Mật Hiển –
Trúc Lâm riêng đối với Tăng Ni sinh đang tu học
trong các
Phật Học Viện Báo Quốc, Diệu Đức ở Huế hơn là các nơi, đó là đạo đức giáo dục
Tăng Ni sinh của Hòa Thượng bằng thân giáo. Bởi vì các bậc xuất gia là trưởng tử
của Như Lai, cho nên cần được giáo dục thân tướng để được giống Như Lai.
Nói rõ hơn,
Hòa Thượng Mật Hiển chủ trương Tăng Ni sinh đang tu học trong các tu viện, Phật
Học Viện, là thời gian rèn luyện thân tâm được có ba nền giáo dục
“ý giáo, khẩu giáo, thân giáo”
để được xứng danh tăng tài Phật giáo ở tương lai. Cho nên ngài rất khắt khe đối
với Tăng Ni sinh về hai yếu tố
oai nghi
và
phục sức.
Về oai nghi,
ngài muốn Tăng Ni sinh phải chững chạc trong đi đứng, không thô tháo, lúc nào
cũng có trạng thái khiêm cung ái ngữ, lễ phép với chư tôn đức.
Về phục sức,
ngài muốn Tăng Ni sinh không nên ăn mặc có hình thức trau chuốt, lòe loẹt như
thế gian. Vì thế có mấy lần, ngài bắt gặp mấy chú học Tăng Phật Học Viện Báo
Quốc xuống phố Đông Ba bị Hòa Thượng gọi lại la rầy, khuyến cáo về chuyện mặc
quần trắng, đi sandal, đeo kính mát, đội bê-rê đen, áo nhật bình ủi láng. Sau
lời khuyến cáo, ôn dùng gậy phạt cho mỗi chú hai gậy
(chuyện xảy ra năm 1958).
Hôm sau, ngài đến Phật Học Viện Báo Quốc yêu cầu chư tôn đức trong ban giám hiệu
ghi vào nội quy không cho học Tăng phục sức theo hình thức thế gian.
Tất cả chư
tôn đức Tăng Ni nói chung ở Huế trong thời thập niên 1950-1960 đều được nghe
biết trực tiếp một cách hiện thực câu chuyện Hòa Thượng Mật Hiển khuyến cáo mấy
chú học Tăng Phật Học Viện Báo Quốc về cách phục sức mang hình thức thế gian như
vậy. Còn học Tăng Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang chúng tôi chỉ được nghe gián
tiếp do các học Tăng Báo Quốc sau khi được thuyên chuyển vào Hải Đức theo kế
hoạch hai Phật Học Viện được sáp nhập làm một vào năm 1959 kể lại.
Những học
Tăng Báo Quốc và Hải Đức ở chung với nhau, đến nay 2007, ai cũng trên 60 và 70
cổ lai hy, nhưng trên vận hành tu học, phụng sự Đạo Pháp trong các giáo hội Phật
giáo tại quốc nội và hải ngoại, vẫn tích cực hành Phật đạo đúng chánh pháp. Được
như vậy là nhờ thực hành theo lời dạy quý báu chứa đựng tình thương của Hòa
Thượng Thích Mật Hiển, ôn Trúc Lâm vẫn đang còn hiện hữu trong tâm hồn mỗi người
chúng tôi, dù cho còn cà sa hay hết cà sa. Con chấp tay kính cẩn lạy Giác linh
Hòa Thượng tam bái.
Xin ngài
chứng minh và hộ niệm cho con được chân cứng đá mềm trên con đường phụng sự Đạo
pháp và Dân tộc trên cơ sở văn hóa luôn được hanh thông.
Thật lòng mà
nói, thái độ nghiêm khắc của
Hòa Thượng Trúc Lâm Mật Hiển
đối với Tăng Ni sinh hồi xưa, chính là một trong những cách giáo dục Tăng Ni
sinh theo sở trường Bồ Tát nguyện của mỗi chư tôn đức thời đó, ai cũng mong muốn
Tăng Ni sinh phải có một đời sống Phật đạo đúng theo giới luật và nội quy để
trang nghiêm thân tâm mà thành chân nhân, danh tăng sau này mà thôi. Đó mới đích
thực là bậc Tăng bảo có
tâm đại từ rộng lớn đối
với hàng Tăng bảo hậu lai của mình phải giống như mình, là chân tu. Chứ không
thể nói bằng lời có tính cách làm quà được. Nếu không nói rằng, ai có được tấm
lòng từ cao rộng như Hòa Thượng Mật Hiển, chính là người bộ hành không cô đơn
đang đi giữa trường đời và đại chúng. Tức là thái độ rất nghiêm túc, nhưng tâm
hồn ngài rất
từ, bi, hỷ, xả
trong đối đãi với mọi người khi nói chuyện, lúc hàn huyên.
Đích thực,
Tết dương lịch 1960, sau đó cũng là Tết âm lịch, toàn thể học tăng Phật Học Viện
Hải Đức Nha Trang được Hòa Thượng giám viện Thích Trí Thủ cho về Huế ăn Tết một
lần cho biết cái lạnh cóng người như thế nào ! Vào
ngày mồng hai Tết, tất cả học tăng chúng tôi được Hòa Thượng Trí Thủ dẫn đi thăm
các danh lam cổ tự ở Huế, trong đó có chùa Trúc Lâm của ôn Mật Hiển. Tại đây
chúng tôi được ôn Trúc Lâm nói cho mấy lời giáo dục về tu học và sau đó ôn cho
ăn bánh chưng, mứt thật là hả hê. Vừa ăn vừa nghe ôn kể chuyện lúc ôn đi tu hồi
nhỏ thật khổ hạnh qua nhiều chặng chông gai, v.v… rất là vui và cảm động.
Đến năm 1965,
thời gian này tôi đang ở Già Lam, cũng là thời gian tôi thuộc về thị giả tổng
trừ bị, tức là khi nào có khách tăng Hòa Thượng, Thượng Tọa đến thăm và ở lại
Già Lam qua đêm, tôi là thị giả cho vị khách tăng ấy. Thế là tôi được làm thị
giả hầu Hòa Thượng Mật Hiển gần cả tuần, nhân dịp Hòa Thượng vào dự phiên họp
chánh đại diện tỉnh tại Viện Hóa Đạo.
Giờ phút đầu
tiên thị giả cho ôn Trúc Lâm trong các việc pha trà, rót nước, dọn giường, dọn
cơm, mời xơi cơm, v.v… tôi cảm thấy sợ Ôn lắm do vì đã từng nghe ôn thường
khuyến cáo các Tăng Ni sinh trẻ, cộng thêm lúc bấy giờ lại nghe các chú Sa Di có
gốc Huế bảo tôi nên cẩn thận về oai nghi khi hầu ôn, chứ dễ bị ôn phạt cho mấy
gậy ! Ngược lại, sao tôi thấy ôn vui lắm, không thấy ôn khó tính gì cả.
Chẳng hạn mỗi
lần tôi nói lời :
-.
“Con kính mời Ôn xuống xơi cơm”,
Ôn trả lời :
-.
“Ừ, con đi mời các Ôn kia chưa, Ôn
sẽ xuống sau”.
Một sáng mai
nọ, tôi đang loay hoay gói lại mấy món quà bỏ vào va li trước khi ôn ra phi
trường về Huế, ôn đến đứng kề bên chỉ cho tôi bỏ thứ nào ở dưới, ở trên. Thấy
tôi xếp thật gọn gàng, Ôn khen :
-.
Giỏi lắm, con để y hậu ở dưới cùng, khăn và các thứ vệ sinh cá nhân ở bên
góc, trà và thuốc tây để trên hết, rứa là đúng cách. Chứ y hậu phủ lên trên trà,
trà nó hút hơi y hậu vào, uống nghe toàn mùi y hậu, ngon lắm đó, con !
Rồi Ôn cười,
ôn
nói tiếp :
-.
Khi mô có dịp ra Huế nhớ ghé Trúc Lâm, ôn đãi cho ăn rau lang luộc chấm
với tương đậu nành. Ôn vừa làm xong bốn lu tương đậu nành ngon lắm !
-.
Dạ thưa ôn, nếu có dịp nào ra Huế, con sẽ ghé thăm ôn.
Kể từ sau
giây phút nói lời hứa sẽ gặp ôn ở Huế cho đến chín năm sau
(1973)
tôi mới có dịp gặp lại ôn. Gặp ôn ngay tại chùa Trúc Lâm thật là tình cờ không
hẹn ước. Nhân duyên tình cờ ấy là do thầy Thích Như Mãn từ trường Bồ Đề Quảng
Ngãi ra thăm tôi ở Quảng Tín khi tôi phục vụ trong quân đội Miền
Nam
thuộc ngành tuyên úy Phật giáo. Trong lúc hàn huyên uống trà tại hậu cứ Trung
đoàn 5 Quảng Tín buổi tối mùa hạ 1973, thầy Như Mãn rủ tôi đi Huế. Tôi hưởng ứng
ngay. Thế là sáng ra, tôi giao cho thầy Như Mãn lái chiếc Jeep A2. Trước khi đi,
tôi hỏi thầy Như Mãn về an ninh lộ trình, thỉnh thoảng thầy Như Mãn niệm A Di Đà Phật, Nam
Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.
Đến Huế, trời
đang xế chiều, chúng tôi vào thăm thầy Nguyên Tịnh
(Lê Văn Kỳ)
tại Từ Đàm. Cả ba chúng tôi hàn huyên tâm sự trong không khí oi bức xứ Huế có
thêm gió Lào, nên đến khuya mới ngủ.
Sáng ra, tôi
và Như Mãn đến Trúc Lâm. Gặp ngay ôn đang đứng ở sân chùa ngắm những chậu hoa
thược dược. Mỗi đứa chúng tôi chấp tay xá ôn cong lưng xuống thật
đúng cách lễ bái, rồi tự giới thiệu về
mình cho ôn biết.
Ôn nhận ra
từng đứa một đầy đủ tên và pháp tự, cũng như một số kỷ niệm xưa đối với ôn.
Chúng tôi được ôn đưa vào nhà khách, ôn cho uống nước trà sen, nghe ôn kể chuyện
về Giáo hội, các chùa ở Huế trong mùa an cư thật là cư an đúng cách thiền môn,
không suy sót thứ nào cả, vân vân…
Rồi Ôn xoay
qua hỏi :
-.
Trong hai thầy, thầy mô đi tuyên úy mà có xe đó ?
-. Dạ thưa con. Còn Như Mãn đã giải
ngủ rồi. Tôi buột miệng hỏi ôn,
Ôn có ghét tuyên úy không ?
-. Hừ, tại răng ghét ? Nếu ai ghét thì chưa hiểu câu “Tương thử thâm tâm
phụng trần sát, thị tắt danh vi báo Phật ân…” cho nên bên kia có quý ngài
Thích Trí Độ, Thích Thiện Hào… Còn bên ni có quý thầy tuyên úy. Ở đâu có hữu
tình chúng sanh, là ở đó có Bồ Tát hiện hữu.
Thấy đồng hồ
trên vách ở phòng khách chùa đã gần đến giờ Quá Đường, chúng tôi nhã ý xin phép
ôn về. Ôn nói lời hối tiếc rằng : không
được ở lại ăn cơm với ôn. Rồi ôn căn dặn nhớ trở lại kỳ tới để cuộc hàn huyên
lâu hơn, vui hơn. Tôi xa ôn kể từ giây phút tạm biệt đó cho đến mười bảy năm sau,
tôi mới gặp lại ôn lần chót vào năm 1989 tại tu viện Quảng Hương Già Lam nhân
chuyến từ Đà Lạt về Sài Gòn làm hồ sơ HO đi định cư Hoa Kỳ.
Tôi về thăm
các pháp hữu huynh đệ Già Lam đang còn Cà sa vào cuối thu 1989, được pháp huynh
Đức Chơn
cho biết có Hòa Thượng Mật Hiển vào Sài Gòn chữa bệnh, ngài đang ở trên tịnh
thất lầu hai. Tôi mừng thầm trong lòng, vội lên ngay, bước vào phòng nhỏ có tủ
thờ tổ và bộ trường kỷ năm xưa còn lóng lánh hoa văn xa cừ, nơi mà tôi đã lắm
lần lau quét. Thấy ôn đang nằm trên ghế phô tơi, tôi sụp lạy ôn ba lạy, rồi đứng
yên nghẹn ngào, đưa tay quẹt nước mắt. Ôn cũng đứng lên trong yên lặng.
Sau một vài
giây xúc động, tôi cảm thấy có thể nói được, tôi mở lời :
-.
Kính bạch ôn, con Đức Hạnh đây, Ôn còn nhớ con không vậy, hồi xưa con làm
thị giả ôn tại đây khi Hòa Thượng Trí Thủ con còn sống, rồi có lần con và Như
Mãn ra Huế thăm ôn tại Trúc Lâm năm 1973 đó, Ôn đã nhớ chưa ?
Hòa Thượng
Mật Hiển gật gật đầu, cùng lúc ngài qua ngồi bên bàn, vừa đưa tay lấy bình nước
vừa nói :
-. Ừ
hè ! Rồi
rồi, ôn nhớ rồi !
Rót xong hai
tách nước trà, ôn đưa tôi một chén, còn một nằm yên trong khay, ôn nói tiếp :
-.
Mà răng thân con sao khác hơn xưa nhiều vậy, bộ có đi cải tạo hả ?
-.
Dạ bạch ôn có !
-.
Mấy năm, con ?
-. Dạ mười hai năm ba tháng.
-. Ôi chao, răng mà lâu dữ rứa hè !
Tôi không nói
gì thêm, chỉ hỏi thăm ôn :
-.
Con nghe thầy Đức Chơn nói ôn vào Sài Gòn chữa bệnh, ôn bệnh chi vậy ?
-. Sanh, lão, bệnh, tử mà !
Ôn bị yếu phổi và thấp khớp. Chữa tới đâu hay đó, được chi thì được,
chẳng lẽ không chữa.
-. Dạ thưa ôn, mười mấy năm qua,
đời sống tâm linh và Đạo pháp Phật sự tại Trúc Lâm của ôn có thay đổi gì không ?
-.
Một vài năm đầu, ít Phật tử về chùa, nhưng sau đó về lại đông đủ, vẫn
hành trì giới luật nghiêm minh, tụng kinh trì chú, niệm Phật nhiều hơn xưa vì
không đi đâu xa, thỉnh thoảng ra Báo Quốc, Từ Đàm, Linh Mụ v.v… để thăm quý ôn.
Lúc đó có người đến ép ôn làm việc này, việc nọ, nhưng ôn trả lời dứt khoát
không thể làm được vì những việc ấy sẽ gây phiền não cho ôn, làm cho tâm ôn bất
an. Thỉnh thoảng, Ôn cũng đi họp vài lần lấy lệ. Cuối cùng, sau này họ quay về
Đạo Phật, đến Trúc Lâm lễ Phật.
Qua lời Hòa
Thượng Mật Hiển nói trên, ta thấy rằng Hòa Thượng là một vị Tăng bảo có đức tính
khẳng khái và cương trực đối với những ai xét thấy cần khẳng khái, cương trực,
ngài thực hiện ngay đức tính nhân bản ấy, chứ không phải đụng ai cũng sử dụng
đức tính cương trực trong đối đãi, đâu !
Nói xong tư
tưởng cương trực đối với số người trong mùa xuân đầy bể dâu xa xưa ấy, Ôn nín
thinh, bưng tách nước trà lên, hớp một ngụm, để xuống khay, Ôn tiếp tục im lặng
trong giây lát, đoạn Ôn nhìn tôi hỏi
-.
Nghe nói người cải tạo về được đi định cư ở Mỹ, con được đi không ?
-.
Dạ thưa có, con đang làm hồ sơ HO.
-.
Cải tạo về, con ở mô ?
-. Dạ thưa, con ở Đà Lạt
-. Đời sống vật chất có dễ thở
không ?
-. Dạ, cũng tạm được chút chút.
Cuối cùng Hòa
Thượng Mật Hiển nói lời khuyên :
-. Tăng Ni và Phật tử Việt
Nam
đang có mặt cùng khắp các nước Âu Mỹ, nhất là ở Mỹ nhiều hơn đâu hết. Qua đó,
ngoài công việc mưu sinh cho gia đình, con nhớ sử dụng vốn liếng Phật pháp sẵn
có của con được bao nhiêu hay bấy nhiêu, mà đem ra tiếp tay với chư Tăng Ni, trí
thức Phật tử các cấp trong công cuộc gieo trồng các chủng tử Bồ Đề, văn hóa Phật
giáo Việt Nam vào những mảnh đất tâm linh của các thế hệ trẻ Phật tử được ăn sâu,
cắm rễ, để khỏi bị vong bản Đạo pháp và dân tộc Việt. Đó là vai trò và bổn phận
hộ pháp của người con Phật xuất gia và tại gia.
Trước khi con lên đường qua xứ Mỹ,
Ôn không có gì để cho con, Ôn chỉ có món quà tinh thần ấy, gởi con để làm hành
trang giải thoát trên bước đường tiếp tục tu học và phụng sự Đạo pháp ở xứ người.
Ôn nguyện cầu Tam Bảo trong mười phương thường gia hộ cho con và gia đình luôn
an lạc và hạnh phúc trong ánh hào quang chư Phật, Bồ Tát và chư Tổ.
Sau lời
khuyên của ôn Mật Hiển, tôi chấp tay xin hứa thực hành lời giáo chỉ và cảm ơn Ôn,
kính chúc Ôn luôn an lạc, Phật Đạo mau viên thành, rồi xá Ôn ba bái.
Ôn tiễn chân
tôi ra khỏi cửa, tôi quay lui xá Ôn lần chót. Kể từ giây phút ấy, tôi cảm thấy
không bao giờ được gặp Ôn nữa.
ĐỨC HẠNH
Cựu Tăng
sinh Phật Học Viện Hải Đức – Già Lam Sài Gòn
Viết tại
Am Đường Chiều (Sun Set Trail) San Diego,
California
Mùa Vu Lan Đinh Hợi – PL 2551 (2007)
Đây là Ngôi chùa TRÚC LÂM Đại Thánh cũ, Ôn đã trọn đời xây dựng, nay thì không
còn nữa
(đã được trùng tu theo kiểu mới)
;
còn chăng chỉ còn lại tấm hình lưu niệm này mà thôi.
(xem tiếp)