Tưởng nhớ
Ôn Trúc Lâm
(Cố Hòa thượng MẬT HIỂN)
Phật tử
NGUYỄN ĐÌNH
NIÊN
(*)

ỷ
niệm giữa Ôn Trúc Lâm và tôi không có nhiều. Nhưng
hôm nay nhận lời mời viết về Ôn, tôi nhớ tới Bốn kỷ niệm ghi đậm trong
tâm khảm tôi. Tôi nhớ dân Huế thường có câu :
-.
“Ai có phước mới được Ôn Trúc đánh ;
ai có phước mới được Ôn Trúc Lâm chưởi.”.
Kỷ niệm thứ nhất như sau :
*.-
Hồi đó sau năm 1975, đường tàu xe rất khó khăn. Lúc đó Ôn Từ Đàm
(tức Cố Hòa
thượng Thiện Siêu) còn phải vất vả ra
vô Nha Trang - Huế, vì Ôn Từ Đàm chưa có hộ khẩu tại chùa Từ Đàm. Một buổi sáng,
nghe Ôn Từ Đàm về Huế, tôi lên hầu thăm Ôn. Tôi đương đứng hầu Ôn Từ Đàm tại
Thiền phòng Từ Đàm, thì Ôn Trúc Lâm bước vào. Ôn Trúc Lâm không nhìn tôi. Ôn chỉ
cười nói với Ôn Từ Đàm như sau :
-.
Sao hay vậy ? Về bằng thần
thông à ?
Ôn Từ Đàm mỉm cười không
nói gì . Tôi đảnh lễ hai Ôn và ra về, để hai Ôn đàm đạo với nhau. Bây giờ nhớ
lại chuyện ấy, tôi hối tiếc cho mình. Nếu tôi thông minh hơn một chút xíu, tôi
đã nhận ra được ý chỉ từ Ôn Trúc Lâm, qua câu nói đơn giản ấy.
Kỷ niệm thứ nhì như sau :
*.-
Hôm đó,
tôi không nhớ buổi sáng hay buổi chiều. Tôi và một người bạn của tôi ở lại lan
can chùa Báo Quốc. Bỗng nhiên, Ôn Trúc Lâm từ trong phòng bước ra, đi ngang qua
mặt tôi và bạn tôi. Ôn ngừng lại, đưa một nắm cho tôi và một nắm cho bạn tôi,
rồi Ôn tiếp tục bước đi. Tôi nhìn vào bàn tay mình thì thấy mấy hột đậu phụng
rang còn nguyên vỏ. Bạn tôi và tôi ăn mấy hột đậu phụng rang đó, với nỗi niềm
vui vẻ, hạnh phúc. Tôi không thấy Ôn là một vị Hòa thượng nghiêm khắc và thường
nói :
- “Đã Thầy tu thì đừng sợ chết,
nếu sợ chết thì đừng làm Thầy tu”
; và tôi không thấy Ôn lúc đó phong
thái là một ông già bình thường đương cho tôi và bạn tôi - hai cháu bé - mấy hột
đậu phụng rang.
Kỷ niệm thứ ba như sau :
*.-
Hôm đó là vào lúc 11 giờ trưa tại chùa Tường Vân. Hôm đó, tôi nhớ là Ôn
Minh Châu từ Sài Gòn ra Huế, chính thức nhận chức Trú trì Tổ đình Tường Vân. Có
rất đông quý Ôn và có rất đông tín đồ, Phật tử. Thầy Chơn Tế tất bật chạy tới
chạy lui. Trong số quý Ôn sáng đó tại chùa Tường Vân, tôi nhớ rõ có Thầy Đức Tâm
(chùa
Cồn Hến) và Ôn Trí Quảng
(tức là Ôn Từ
Ân). Rồi tôi thấy Ôn Trúc Lâm tới,
đùng đùng nổi giận, la rầy nhiều người. Tôi là tín đồ, nên cũng không rõ nội
tình lúc đó vì sao mọi người bị Ôn giận rầy !
Tôi thấy Thầy Đức Tâm vội vàng làm cái này, vội vàng làm cái khác. Nhưng
rồi buổi lễ cũng được cử hành, tuy có chậm hơn đôi chút. Tôi thấy Ôn Minh Châu
đảnh lễ quý Ôn đầu buổi lễ. Tôi cũng thấy Ôn Minh Châu đảnh lễ quý Ôn cuối buổi
lễ. Tôi hoàn toàn không ngạc nhiên khi thấy Ôn Trúc Lâm nổi giận trong buổi lễ
Ôn Minh Châu chính thức nhận chức Trú trì chùa Tường Vân, trưa hôm ấy.
Kỷ niệm thứ tư như sau :
*.-
Kỷ niệm
này có liên quan đến tôi, nên tôi nhớ rất rõ. Và, bây giờ ngồi viết đây, tôi vẫn
tưởng là như mới xảy ra hôm qua, hôm kia thôi.
Việc này là ở năm 1989
(Kỷ
tỵ). Nguyên tôi có một người em gái
bán hàng ở chợ Động Ba
(em tôi từ trần tháng 10-1990).
Em tôi có một cháu ngoại đầu lòng, tên Mão. Lúc ấy, bé Mão chưa tròn hai tuổi.
Bé Mão hay bị đau lặt vặt, lai ra. Có lần bé Mão bị ghẻ lở toàn thân, toàn thể
gia đình tôi hết sức lo lắng. Em gái tôi nghe các chị Phật tử bán hàng ở chợ
Đông Ba bảo rằng :
-.
“Ôn Trúc Lâm
chữa bệnh hay lắm. Rất nhiều người tới chữa. Ôn chữa bằng cách đánh vào người
bệnh. Sao chị không đem bé Mão lên Ôn chữa
cho.”
Hôm ấy, em gái tôi về năn
nỉ tôi :
-.
“Anh đi chùa
nhiều. Nhờ anh đem bé Mão lên Ôn Trúc Lâm chữa cho. May ra cháu lành bệnh.”.
Nễ lời em gái tôi, sáng hôm
sau, tức là sáng Chủ nhật ngày 6 tháng 8 năm 1989
(mùng 6 tháng
7 Kỷ tỵ), bé Mão được, Ba, Mẹ, Cậu và
tôi (ôn
cậu) đưa lên chùa Trúc Lâm. Cậu cháu
tôi lên Chùa rất sớm. Một lát sau, tôi thấy có một cặp vợ chồng trung niên, một
cô gái và hai người nữa cũng lên Chùa để xin Ôn chữa bệnh. Tất cả sáng đó có cả
thảy năm (5) người bệnh đến xin Ôn chữa bệnh. Các chú điệu ở Chùa Trúc Lâm lần
lượt hết người này tới người khác, ra bảo :
-.
“Các bác chữa bệnh thì về Bệnh viện Trung Ương chữa ;
chớ ở đây không chữa bệnh”.
Nhưng, chúng tôi nhất quyết
không chịu về. Kiên nhẫn. Chờ đợi Ôn. Một lát sau, từ Thiền phòng, chỗ chúng tôi
đương ngồi đợi. Sáng đó, Ôn mặc một cái áo dài lụa màu vàng mơ, mà dân Huế
thường gọi là
“màu mỡ gà”.
Ôn mặc cái quần cùng màu với cái áo dài. Vừa nhìn thấy Ôn bước ra, với đôi mắt
nghiêm nghị, sắc sảo như đôi mắt Tổ Lâm Tế
(tôi thấy ở
ảnh vẽ), tôi bỗng sinh lòng tôn kính
và yêu mến ; nhất là tôi tin tưởng
ai được Ôn chữa bệnh thì chắc chắn sẽ lành bệnh.
Cậu cháu tôi tới trước
nhất. Tôi nhường bốn người kia, để Ôn chữa trước. Người thứ nhất là vợ một ông
tài xế lái xe đoạn đường Huế - Lào.
Ôn hỏi liền :
-.
“Có Cọng Sản không ?”
Hai vợ chồng đều trả lời :
-.
“Dạ, không !”
Sau đó Ôn hỏi bệnh gì ?
Người vợ được người chồng
thay thế, trả lời :
-.
Bạch Ôn, vợ con đêm nào ngủ cũng bị ác mộng, thấy toàn mộng dữ.
Ôn liền tát vợ ông tài xế
mấy tát. Ôn bảo hai vợ chồng :
-.
Phải ăn ở ngay thật, thật thà, đừng dối gian. Đừng có lấy bớt xăng, mà
đem đi bán vân vân.
Thế là xong người bệnh thứ
nhất.
Người thứ hai là cô gái làm
xưởng đan len, may dệt. Ôn cũng hỏi như người thứ nhất :
-.
“Có Cọng sản không ?”
Cô gái :
-.
Bạch Ôn, dạ không.
Ôn hỏi bệnh gì ?
Làm nghề gì ? Cô gái đáp
xong, Ôn tát mấy tát và bảo
-.
Làm xưởng may dệt thì phải thật thà, không được lợi dụng sơ hở mà ăn cắp
len đan.
Thế là xong người bệnh thứ
hai.
Người bệnh thứ ba và thứ
tư, khai với Ôn bệnh gì, và Ôn chữa ra sao, tôi không nhớ rõ, nên không chép vào
đây.
Người bệnh thứ năm là bé
Mão, cháu ngoại đầu tiên của em gái tôi. Bé Mão chưa tròn hai tuổi ;
sáng đó, bé mặc bộ áo quần màu xanh da trời. Ôn hỏi bé bệnh gì ?
Mẹ của bé trả lời. Ôn nói :
-. Biết khổ như vậy răng còn sanh
ra mần chi?
Mẹ của bé Mão lễ phép, im
lặng. Ôn liền phun nước miếng lên mặt bé Mão. Thế là xong bệnh nhân cuối cùng.
Lúc đó, tôi liền quỳ xuống,
lạy Ôn ba lạy, và nói :
-.
Thưa Ôn xin Ôn chữa Thiền bệnh cho con.
Tức khắc, Ôn liền tát tôi
mấy tát tai và bảo :
-.
Mi là ma quỷ phương nào mà dám tới đây giỡn mặt với tao.
Tôi đáp :
-.
Thưa Ôn, con không phải ma quỷ.
Ôn hỏi :
-.
Ở ngoài đời mi làm nghề gì ?
Tôi thưa :
-.
Thưa Ôn, con làm Giáo sư Văn chương.
Ôn hỏi :
-.
Mi dạy cái gì ?
Tôi đáp :
-.
Thưa Ôn, con dạy Phật pháp. Tất cả các pháp đều là Phật pháp.
Ôn hỏi :
-.
Thầy của mi là ai ?
Tôi thưa :
-.
Thưa Ôn, thầy của con là Ôn Từ Đàm.
Ôn liền tát liên tiếp mấy
tát. Ôn bảo :
-.
Ôn Từ Đàm lên đây tao cũng tát.
Tôi im lặng. Ôn lại hỏi :
-.
Thầy của mi là ai ?
Tôi liền đáp :
-.
Thưa Ôn. Tu hành đến cấp bậc như Ôn, mà không biết Thầy là ai, thì Ôn làm
sao giáo hóa đại chúng ?
Ôn liền tát
thêm Hai cái tát, và bảo tôi :
-.
Thôi lên lạy Phật đi !
Tôi lên điện
thờ lạy Phật và lạy Tổ xong, liền trở lại chỗ Ôn ngồi. Tôi kiếm cái quạt. Tôi
đứng sau lưng Ôn, quạt hầu Ôn. Từ lúc ấy. Ôn gọi tôi là
“anh” chứ không gọi
“mi” ;
Ôn nói chuyện ôn hòa, bình thường, với tôi một lúc khá lâu. Sau đó, đột
nhiên Ôn hỏi :
-.
Thằng bé áo xanh đâu rồi ?
Mẹ bé Mão bồng bé tới Ôn.
Ôn liền phun nước miếng vào mặt bé Mão mấy lần nữa.
Ôn tiễn tôi và các cháu ra
tận cổng chùa. Khi đi ngang qua bàn thờ Hộ pháp, Ôn dặn tôi :
-.
Phải có tấm lòng hộ pháp.
Ôn đưa cậu cháu tôi ra tận
cổng chùa. Tôi phải thưa Ôn :
-.
Thưa Ôn, Ôn vô kẻo bị nắng. Tín đồ họ đương chờ Ôn.
(Lúc
Ôn tát tôi và tôi thưa Ôn, tôi thấy có vợ chồng ông Châu Trọng Ngô, cùng một
Việt kiều ở Pháp về và rất nhiều tín đồ khác, đứng theo hình vòng cung, cách chỗ
Ôn ngồi và tôi đứng 2mét, để chờ cúng dường Ôn).
Sáng hôm sau, tôi lên hầu
thăm Ôn Từ Đàm. Ôn Từ Đàm bảo tôi :
-.
Ôn Trúc Lâm có nói với tôi rằng anh có tới Ôn ...
(Ôn Từ
Đàm mĩm cười).
Sau buổi ấy, tôi vẫn còn
ngu muội. Còn bé Mão thì không còn đau ốm gì nữa ;
và, ngày nay đã là một thanh niên cao lớn, đẹp trai, khỏe mạnh.
Sáng Chủ nhật, ngày 24 tháng 5 năm
1992 tức là ngày 22 tháng Tư năm Nhâm thân -
tại chùa Trúc Lâm - lúc kim quan Ôn đưa
ra ngang phòng khách (chỗ Ôn đã tát tai
tôi nhiều tát), tôi không
kềm chế được nước mắt, và tôi đã bật khóc. Đến hôm nay, khi viết mấy dòng này,
hình ảnh yêu kính của Ôn vẫn còn nhớ rõ ràng trước mắt tôi.
*
* *
Tôi xin thành tâm trích mấy
câu của Cố Hòa thượng Từ Đàm khắc trên bia ở Bảo tháp Ôn Trúc Lâm, Huế :
-. “Hòa thượng nhứt sinh bình dị,
tâm chí chánh trực, ẩn mật hành trì, Thiền tịnh Mật việt xuất dung thường, quyền
thật hỗ dụng, ngôn hành nan lương”
để
tưởng niệm Ôn Trúc Lâm - Cố Hòa Thượng thượng Mật hạ Hiển, với tất cả tấm lòng
ghi ơn và tôn kính của chúng tôi.
Huế mùa An cư Phật lịch 2551 –
2007
Quảng Đạt
NGUYỄN ĐÌNH NIÊN
kính viết
(*)
Cựu Giáo sư Đại học Văn khoa Huế
(xem tiếp)