|
TỪ ĐÀM HẢI NGOẠI :
ĐÓA SEN NỞ GIỮA
MẶT HỒ NHÂN GIAN
Tâm Huy
HUỲNH KIM QUANG
hư vị Tăng Sĩ Phật Giáo, những vị mà truyền thống Phật Giáo tôn xưng là Trưởng Tử
Như Lai, là Sứ Giả Như Lai, đi đến đâu đều không quên chí nguyện hoằng dương
Phật Pháp để làm lợi lạc cho tha nhân, dù trong hoàn cảnh nào, quốc độ nào.
Vào giữa thế kỷ 20, khi chế
độ Cộng sản tại Trung Hoa lục địa đem quân xâm chiếm Tây Tạng, đức Đạt Lai Lạt
Ma đời thứ 14 và chính phủ Tây Tạng đã phải từ bỏ quê hương, chấp nhận cuộc sống
lưu vong để tiếp tục vận động cho đất nước Tây Tạng tự trị của Ngài.
Tuy nhiên, nhờ làn sóng lưu vong của những vị Tăng Sĩ Tây Tạng mà ngày
nay sắc thái Phật Giáo Tây Tạng đã được phổ biến sâu rộng ở khắp các quốc gia Âu
Mỹ.
Việt
Nam, sau năm 1975, khi chế độ Cộng sản thống
trị cả nước, làn sóng người Việt rời bỏ quê hương ra đi, vì không thể sống trên
đất nước như nhà tù, ngày càng dâng cao.
Trong làn sóng người Việt lưu vong ấy có hình bóng các vị Tăng Sĩ Phật
Giáo Việt Nam, là những nạn nhân bi thảm nhất của chính sách đàn áp tôn giáo của
chính quyền Cộng sản. Nhưng, nhờ
làn sóng lưu vong của những vị Tăng Sĩ Việt Nam
mà ngày nay hình ảnh của Phật Giáo Việt
Nam
đã có mặt khắp nơi trên thế giới.
Một trong những hình ảnh biểu tượng của Phật Giáo Việt
Nam
ấy chính là ngôi Chùa Từ Đàm Hải Ngoại do Hòa Thượng Thích Tín Nghĩa kiến tạo
tại tiểu bang Texas,
Hoa Kỳ.
Sự
có mặt của một ngôi chùa hàm tàng nhiều ý nghĩa thâm thúy.
Chúng ta thường nghe nói ngôi chùa là ngôi Tam Bảo
(Phật, Pháp và Tăng),
vì nơi đó có sự hiện hữu của Phật, Pháp và Tăng.
Trong chùa nào cũng thờ hình, tượng hoặc biểu tượng của Phật, đó là thế
gian trụ trì Phật bảo. Trong chùa
nào cũng có kinh sách, có các thời khóa giảng giải Phật pháp, đó là thế gian trụ
trì Pháp bảo. Trong chùa nào mà
không có vị Tăng hay Ni trú trì, đó là thế gian trụ trì Tăng bảo.
Chùa còn là nơi thất chúng đệ tử Phật đến để tu tập, để làm hiển lộ Phật
tánh giác ngộ, Pháp tánh giải thoát và Tăng tánh thanh tịnh nơi tự tâm mình, đó
là tự tánh thường trụ Tam bảo.
Chùa cũng là trung tâm bảo tồn và phát huy hữu hiệu nhất nền văn hóa
truyền thống của dân tộc. Tại hải
ngoại, từ mấy thập niên qua, chùa là các trung tâm giáo dục tiếng Việt cho con
em của người Việt tỵ nạn, tức là nơi giữ gìn tiếng nói mẹ đẻ, giữ gìn truyền
thống văn hóa, đạo đức, luân lý, tín ngưỡng của dân tộc.
Chùa đồng thời cũng là ngôi nhà Từ đường của dòng giống Lạc Hồng ở hải
ngoại, để mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi mùa xuân, hạ, thu, đông, mỗi dịp lễ lớn của
tổ tiên, mỗi kỳ đại lễ của Phật Giáo truyền thống, tất cả mọi người Việt ly
hương có nơi quay về, có nơi tụ hội, có nơi thờ cúng lễ lạy, tưởng niệm, tri ân
tiền nhân. Cũng xin đừng quên chùa
là mái ấm gia đình của người Việt lưu lạc tha hương, để những người con xa xứ có
nơi đoàn tụ, hàn huyên tâm sự, để những vị lão niên có dịp nhìn và cảm nghiệm
cảnh sum họp gia đình mà vơi đi phần nào nỗi cô đơn của tuổi bóng xế chiều tà
nơi đất khách quê người.
Vào những năm đầu thập niên
1980, khi người Việt định cư ở Hoa Kỳ chưa đông, nhất là tại tiểu bang Texas, số
người Việt định cư lại càng ít ỏi, mức sống và cơ nghiệp của cộng đồng người
Việt còn đang trong thời kỳ gầy dựng sơ khai, việc xây dựng một ngôi chùa là
điều không dễ dàng chút nào cả. Vậy
mà Hòa Thượng Thích Tìn Nghĩa vì lý tưởng kiến lập đạo tràng để hoằng pháp lợi
sinh đã dõng mãnh phát nguyện đến đây để tạo dựng cơ sở.
Từ lúc mua ngôi nhà nhỏ khiêm tốn để làm tạm nơi sinh hoạt cho quần chúng
Phật tử, cho đến khi hoàn thành ngôi Tam Bảo Từ Đàm Hải Ngoại như hiện nay là cả
một quá trình hy sinh gian khổ. Đối
với bao nhiêu tâm lực, trí lực, nguyện lực, sức lực và tài lực của Hòa Thượng
Trú Trì và chư Phật tử tại địa phương đã đổ xuống để ngôi Tam Bảo Từ Đàm Hải
Ngoại được dựng lên, người con Phật bốn phương có lẽ chỉ biết cúi đầu tùy hỷ
công đức và thành tâm chúc tụng một đóa sen đã nở trọn vẹn trên mặt hồ nhân gian.
“Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh bông trắng lại chen nhị
vàng,
Nhị vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”
Ở giữa nhân gian tràn ngập
bất an và khổ não vì tham lam, sân hận và si mê của chúng sinh, sự hiện hữu của
ngôi chùa là sự có mặt của đóa sen tỏa ngát hương thơm giữa đầm lầy.
Từ hình ảnh đến hương vị thanh khiết của đóa sen làm cho đầm lầy không
còn là nơi ô nhiễm phàm tục đáng ghét bỏ, mà là nơi chốn đáng được chiêm quan,
thưởng ngoạn. Cũng vậy, trong thế
giới khổ đau thường trực của con người, chùa là linh dược địa mà phàm nhân có
thể đến để chữa lành mọi bệnh trạng của thân tâm, có thể đến để thể nghiệm sự
mầu nhiệm của giáo pháp Phật đà làm chuyển hóa tận gốc rễ phiền não vô minh.
Từ Đàm là tên của một ngôi
chùa còn lưu lại nhiều dấu ấn lịch sử sáng chói của Phật Giáo Việt Nam
đương đại. Nơi ấy những biến cố
mang tính lịch sử đã từng diễn ra :
Đại Hội thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam vào năm 1951, đánh dấu một giai
đoạn khởi đầu đi vào cơ chế tổ chức thống nhất của Phật Giáo Việt Nam trước nhu
cầu cấp thiết của thời đại trong việc chấn hưng nền Phật Giáo nước nhà để thực
hiện công cuộc hoằng dương Chánh Pháp, phát huy toàn diện sức mạnh nội tại của
nền Phật Giáo quốc dân và góp phần vào việc kiến tạo nền độc lập, tự chủ, tự do
và phú cường cho đất nước. Từ
Đàm cũng là nơi khởi xướng công cuộc vận động lớn nhất của Phật Giáo Việt Nam
vào đầu thập niên 60 của thế kỷ trước để đòi hỏi quyền bình đẳng tôn giáo dưới
chế độ của nền Đệ nhất Cộng hòa miền Nam đang hung hãn lao vào con đường kỳ thị
và đàn áp quy mô nền Phật Giáo truyền thống của dân tộc Việt.
Khi đặt tên ngôi chùa mà mình tạo dựng tại hải ngoại là Tổ Đình
Từ Đàm Hải Ngoại, hẳn rằng Hòa Thượng Thích Tín
Nghĩa cũng muốn nêu cao tinh thần và công đức xứng đáng của ngôi chùa Từ Đàm
lịch sử trong nước để nhắc nhở Phật tử hải ngoại không quên sứ mệnh lịch sử đối
với thời đại mình cho nền Phật Giáo Việt Nam trong cũng như ngoài nước.
Nhưng, đề cập đến quá trình phát triển sâu rộng của Phật Giáo Việt Nam trong
thời hiện đại chúng ta không thể không nói đến
Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Mật Hiển, Trú Trì Tổ Đình Trúc Lâm tại Huế,
vị Bổn Sư khả kính có ân đức sâu dày đã
giáo dưỡng Hòa Thượng Thích Tín Nghĩa từ lúc còn là một chú điệu cho đến khi
thành đạt sự nghiệp tiếp Tăng, độ chúng như ngày hôm nay.
Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Mật Hiển là đệ tử của Tổ Giác Tiên, vị khai
sơn Tổ Đình Trúc Lâm Đại Thánh tại Huế.
Tổ Giác Tiên cũng là vị khai sáng và chứng minh của Hội An
Nam
Phật Học tại Thừa Thiên vào đầu thập niên 1930.
Khởi đi
từ đó chương trình đào tạo Tăng tài đã được thực hiện có kế hoạch từ bậc Sơ đẳng,
Trung đẳng lên đến Đại học Phật Giáo, mà trong đó Trúc Lâm là một trong những cơ
sở học đường. Thành phần Giáo thọ
chính yếu gồm có Quốc sư Phước Huệ, Chùa Thập Tháp, Bình Định, Pháp sư Trí Độ và
Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám.
Hoàn tất lớp Đại Học Phật Giáo đầu tiên là chư vị Hòa Thượng Thích Đôn Hậu,
Thích Trí Thủ, Thích Mật Khế, Thích Mật Hiển, Thích Mật Nguyện, Thích Mật Thể,
v.v… Lớp Đại Học Phật Giáo sau đó là chư vị Hòa Thượng Thích Trí Quang, Thích
Thiện Siêu, Thích Thiện Minh, Thích Trí Nghiêm, Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Hòa,
Thích Thiện Hoa, Thích Trí Hữu, v.v… Đó là những bậc cao Tăng thời hiện đại của
Phật Giáo Việt Nam đã đóng góp xứng đáng công đức trong công cuộc chấn hưng và
phát triển nền Phật Giáo nước nhà trong suốt trên nửa thế kỷ qua.
Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Mật Hiển là sư đệ của Hòa Thượng Thích Mật
Khế và là sư huynh của nhị vị Hòa Thượng Thích Mật Thể và Thích Mật Nguyện.
Cố Đại lão Hòa Thượng Thích Mật Hiển là đống lương trong hàng Tăng bảo và
là Tòng lâm thạch trụ trong Phật Giáo Việt Nam
nói chung và Phật Giáo Huế nói riêng.
Người viết chưa có được phước duyên hầu cận bên Ôn Trúc Lâm
(tôn xưng đối
với chư vị tôn túc tại Huế), nhưng đã có được thiện duyên nhìn thấy
Ngài trong những năm đầu thập niên 80, lúc người viết ở tại Tu Viện Quảng Hương
Già Lam. Những năm ấy, khi Ôn Già
Lam còn tại thế, Ôn Trúc Lâm thỉnh thoảng, hoặc nhân dịp Phật sự tại Sài Gòn, có
vào Tu Viện Quảng Hương Già Lam thăm chơi đôi ba tuần.
Hình ảnh của Ôn Trúc Lâm còn lại trong đáy sâu tâm thức của người viết là
phong cách oai vệ, nghiêm cẩn của một bậc tôn sư trong hàng ngủ Chúng Trung Tôn,
cặp mắt mở lớn và sáng quắc với nhãn thần cực mạnh như tia sáng rực ngời từ trí
tuệ mẫn duệ phát ra. Lần cuối cùng
người viết còn cơ duyên gặp trò của người cư sĩ và đặc biệt của tuổi trẻ trong
việc xây dựng và Ôn Trúc Lâm là vào khoảng gần giữa năm 1984 trong lễ tang của
Ôn Thanh Trí tại Tổ Đình Báo Quốc, Huế.
Dù chưa hữu duyên để được
đến Từ Đàm Hải Ngoại, người viết vẫn thường được nhiều vị Tăng, Ni và cư sĩ nhắc
đến ngôi Già Lam Phạm Vũ này với những lời tán dương hoan hỷ.
Ngược lại, người viết đã có được cơ duyên quý báu để biết đến Hòa Thượng
Thích Tín Nghĩa từ những năm đầu thập niên 90 khi ngài sang California làm Phật sự.
Với đức tính hài hòa, từ tốn, vui vẻ, lân mẫn và đầy đạo tình, Hòa Thượng
Thích Tín Nghĩa thường gây nhiều thiện cảm và dễ thân cận đối với những người
gặp mặt, dù là lần đầu. Đó là
cảm nhận mà người viết có được đối với Hòa Thượng Thích Tín Nghĩa trong lần gặp
mặt đầu tiên tại Phật Học Viện Quốc Tế.
Sau đó, mỗi lần gặp mặt, Hòa Thượng đều ân cần thăm hỏi từ sức khỏe đến
công việc làm ăn sinh sống. Trong
xã hội mà con người phải chạy đua theo thời gian, công việc và những phương tiện
của đời sống, hầu hết người ta đều chỉ biết chào hỏi nhau bằng những lời xã giao
đã trở thành công thức máy móc, rất hiếm khi chúng ta cảm nhận được một tâm hồn
lắng đọng dừng lại, bình an và thong thả để thật sự quan tâm đến người mình gặp,
qua cung cách thăm hỏi hàm súc một tấm lòng lân mẫn, thiết tha và chân thật.
Hòa Thượng Thích Tín Nghĩa là một trong số những người hiếm hoi ấy mà
người viết đã từng gặp. Trên bình
diện quan kiến đối với hiện thực cũng như tương lai của Phật Giáo Việt Nam, Hòa
Thượng là vị Tăng sĩ thấy được một cách thực tế vai phát triển vững mạnh nền
Phật Giáo Việt Nam tại xứ người.
Chính vì vậy, trong vai trò là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Cư Sĩ của
GHPGVNTNHNHK, Hòa Thượng đã đứng ra tổ chức Đại Hội Cư Sĩ tại Chùa Từ Đàm Hải
Ngoại vào tháng 4 năm 2003 để hội thảo những vấn đề trọng đại mà tổ chức Giáo
Hội có thể làm được để nâng cao phẩm chất tu học cho người cư sĩ, cũng như người
cư sĩ có thể đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển nền Phật Giáo Việt
Nam. Hòa Thượng cũng là vị Tăng sĩ
đặc biệt quan tâm đến giới trẻ từ bấy lâu nay, nhất là giới trẻ trong tổ chức
Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại hải ngoại.
Đây là điều rất quan trọng, vì nếu không quan tâm đúng mức, không có giải
pháp thiết thực để nuôi dưỡng và đào tạo con em trong việc tiếp nối truyền thống
Phật Giáo của thế hệ cha anh thì tương lai của Phật Giáo Việt Nam tại hải ngoại
sẽ không mấy được sáng sủa.
Với kiến quan và hạnh
nguyện ấy của Hòa Thượng Thích Tín Nghĩa, Từ Đàm Hải Ngoại nhất định đang là và
sẽ là nơi góp phần hữu hiệu trong sứ mệnh bảo tồn và phát huy những giá trị đặc
thù của nền văn hóa dân tộc và Phật Giáo Việt
Nam
trên đất nước Hoa Kỳ.
Kính bút
Tâm Huy
HUỲNH KIM QUANG
*****
(xem tiếp)
Please press HOME
to go back to the main web page
HOME
|