Trầm tư về
MỘT CÁNH NHẠN
Đã Khuất
THÍCH TÍN ĐẠO

hế
rồi, Thầy kính yêu của chúng tôi đã trở về với bản tính vắng
lặng tuyệt đối của chân tâm, sau bao nhiêu năm hiện thân làm một
vị đạo sư đầy đủ phong vị của một đức Hộ pháp và Pháp sư đầy đạo
hạnh, sẵn sàng cứu giúp mọi hoàn cảnh khẩn cầu về tâm linh cũng
như về vật chất áo cơm vật dụng. Thế rồi Ngài ra đi, sự ra đi
miên viễn của các bậc thiền giả tôn sư không vướng bận quyến
luyến về tình cảm thân sơ hay xa hoa vật chất được an nhiên tự
tại trong một biểu tượng thật thi vị, phóng khoáng tự tại và
lãng mạn qua thi kệ nổi tiếng của Hương Hải Thiền Sư, và hình
ảnh này là nguồn cảm hứng để chúng tôi viết lên mấy dòng thô
thiển này để ngưỡng vọng bậc Ân Sư.
Nhạn quá trường
không,
鴈 過 長 空
Ảnh trầm
hàn thủy
影 沉 寒 水
Nhạn vô di tích chi ý
鴈
無
遺
跡
之
意
Thủy vô lưu ảnh chi tâm
水
無
留
影
之
心
Tạm dịch :
Nhạn bay lướt trên không,
Ảnh chìm trong đáy nước,
Nhạn không in dấu vết,
Nước chẳng bận lưu
hình.
Đây là phong thái hành xử tự tại của các bậc Thiền giả
Cao tăng sau mấy mươi năm hoằng hóa độ sanh công hạnh hoàn mãn,
họ rút về với sự vắng lặng tịch diệt an nhiên của Không tâm bản
giác.
Sư phụ chúng tôi
cũng thế, sự ra đi của Ngài thật nhẹ nhàng tình cờ, ngày 14
tháng tư, Ngài sức khỏe yếu, không đi bố tát được, sau đó chư
Tăng Thừa Thiên - Huế vân tập vấn an sức khỏe, Ngài cười hồn
nhiên trong dịp đàm đạo sau cùng ;
nụ cười của Ngài nếu ai có dịp đối diện hoặc được ban bố
thật an lạc, thật giải thoát và thật . . . có duyên, bởi vì Thầy
tôi nổi tiếng là nghiêm khắc nhất trong Tăng đoàn, trong Giáo
hội. Ngày đầu tiên của thời niên thiếu khi biết tôi có ý phát
tâm xuất gia, ba mẹ tôi đã đồng ý gởi vào Tu viện Trúc Lâm ở Cố
đô Huế, do Sư phụ tôi làm Viện chủ. Tôi với Hòa thượng Tín Nghĩa
có duyên cùng xuất gia một ngày và tình cảm huynh đệ của chúng
tôi vì thế càng gắn bó sâu sắc hơn.
Thú thật rằng tất cả chúng tôi không ai tránh khỏi những
trận
“thiền chưởng”
kinh hoàng của Sư phụ, dù mình có tạo lỗi lầm nghịch ngợm hay là
bị oan trái, một tên phạm lỗi là Ngài xách hèo tích trượng quơ
cả đám chạy tứ tán như nhóm Thiếu lâm sinh xuất chiêu võ thuật,
và cũng vì lý do đó mà chúng tôi luôn sách tấn, nhắc nhở nhau,
dĩ nhiên là tuổi nhỏ, không phải sợ Thầy buồn lòng, mà thật ra
để tránh ăn những cú đòn thiếu lâm nặng cân, tối tăm mặt mày.
Thật đúng với Pháp
hiệu mà Sư Tổ chúng tôi đã phú pháp cho ngài, vừa Mật ý và vừa
Hiển thị ; phong
cách của thầy tôi cũng vừa thâm sâu và hiển thị, đó là một trí
tuệ thông suốt mà cho dù cuộc đời tu hành và hoằng hóa của Ngài
kể từ thời Quân chủ phong kiến dưới triều vua Khải Định, Bảo
Đại, trải qua Đệ nhất, Đệ nhị Cộng hòa và tiếp đến dưới chế độ
Xã hội Chủ nghĩa, Ngài vẫn tự tại an nhiên đóng góp tích cực đạo
hạnh và phong cách cho một nổ lực xây dựng nền hòa bình quốc
thái dân an, không đi ngược lại truyền thống cội nguồn tâm linh
và lịch sử con Hồng cháu Lạc, để rồi qua các chế độ, các vị
quốc thủ và lãnh
đạo quốc gia phải tôn kính bái phục đức hạnh khiêm tốn mà
nghiêm trang, từ
tâm mà dõng trí, nhu hòa mà cương trực, và cũng thế đôi mắt, nụ
cười nhiều lúc độ lượng từ ái khoan dung như Phật Bà trầm tư, mà
có lúc tóe lửa xoáy buốt như Diệm Nhiên Đại Sỹ thống lãnh ba
quân . . .
Viết tới đây,
chúng tôi dừng lại ít phút, nhắp một tách trà, rít một khói
thuốc để trầm tư về một Cánh Nhạn đã vút qua vùng trời xa, một
ánh sao trời vụt tắt trong niềm tiếc thương vô bến hạn.
Phải khẳng định
rằng cho đến bây giờ, huynh đệ chúng tôi còn giữ được phong độ
Tăng thân và thành tựu Phật sự từ nhỏ đến lớn, từ gần tới xa, từ
thất bại đến kết quả, từ phiền não đến an lạc . . .
đều nhờ năng lực nhiếp hóa của đôi mắt, của thiền khí
lừng lẫy của Ôn Trúc Lâm.
Chúng ta có thể nhìn Ngài qua nhiều lăng kính :
1.-
Về lĩnh vực Mật tông :
Ngài chuyên hành trì Ngũ bộ chú Lăng nghiêm để duy trì
định lực, điều này thể hiện qua ánh mắt sáng ngời trầm tĩnh, tạo
cho Ngài một tâm nguyện độc lập, tự chủ, vững chắc và kiên định,
không bao giờ chịu khuất phục trước sức mạnh hay cám dỗ của mọi
thứ ma quân. Ngài trì tụng chú Phổ am để bạt trừ ma khí oan
khiên, từ tâm tế độ cho hàng sinh linh. Ngài luôn nhiếp tâm Đại
bi thần chú, vận dụng định lực thiền khí cứu chữa cho các đệ tử
có đời sống tâm linh yếu kém, khiếp nhược. Nói chung, không phải
do phù phép hoang đường mà chính do năng lực tu trì giới định
tuệ mà Ngài vận dụng thần khí định lực chánh đại quang minh để
cứu giúp cho nhiều kẻ lâm vào tâm bệnh tuyệt vọng quay về an lạc
trong niềm tin Chánh pháp.
2.-
Về lĩnh vực Hiển thị :
Ngài vẫn theo các trường lớp Phật học Sơ đẳng, Trung Đẳng
và Đại học Phật giáo tại Tổ Đình Trúc Lâm, Tây Thiên - Huế. Sau
đó, đãm nhận chức vụ Giảng sư các trường Phật học, không chỉ ở
địa phương Thừa Thiên - Huế mà vào Giáo thọ cho các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long. Ngài còn là vị Pháp sư nổi tiếng trong
truyền thống giảng dạy và ứng phó đạo tràng. Bên cạnh đó, Ngài
còn được đãm trách
các chức vụ lãnh đạo cao cấp trong Giáo hội từ Trung ương đến
Địa phương ; Đầu
tiên là Trị sự Trưởng Tăng già Trung Việt, về sau vì oai phong
và đức độ, Ngài được cử làm bộ phận Kiểm soát và chỉ đạo Tăng sự
Giáo hội. Công việc hành hóa của Ngài không chỉ ở phạm vi quốc nội
mà còn tham gia các hội nghị, tham quan, nghiên cứu các nước Phật
giáo quốc tế như đi dự lễ Phật đản tại Đông Hồi năm
1956, sau đó thăm các nước Phật giáo như Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, Lào quốc, . . .
Ngài đã đóng góp ý kiến xây dựng hòa bình tại Đại hội Phật giáo Hòa bình Thế giới tổ chức
tại Nhật Bản năm 1959.
Đến năm 1963, Ngài
ủng hộ phong trào bảo vệ Phật giáo đang bị đàn áp qua đường lối
Bất bạo động của Hòa thượng Thích Trí Quang, đứng lên kêu gọi
mọi tầng lớp quần
chúng Phật tử đoàn kết, duy trì niềm tin Chánh pháp ;
bảo vệ Phật giáo dù phải hy sinh để yêu cầu chính quyền
Ngô Đình Diệm không được đối xử bất công đối với Phật giáo qua
Đạo dụ số 10 mà Phật giáo là nạn nhân, cần phải được hủy bỏ.
Bên cạnh những
Phật sự hiển thị như thế Ngài còn là vị Hòa thượng trong cấp
lãnh đạo tổ chức những Giới trường để tiếp dẫn hậu lai kể từ năm
1942, Ngài đã vận động chư Tôn thiền đức trong Sơn môn tổ chức
Đại giới đàn tại Tổ đình Thuyền Tôn - Huế ;
Ngài là vị Giảng sư mô phạm nổi tiếng là Giám luật cho
các Trường hạ và Tăng già.
Trong các Đại giới
đàn do Giáo hội tổ chức, Ngài thường được cung thỉnh lên ngôi vị
Tôn chứng hoặc là Giáo thọ A xà lê sư như :
Giới đàn Từ Hiếu (1965), Giới đàn Hải Đức, Nha Trang
(1968), chính người viết này đã được tắm gội giới pháp trong
nguồn pháp vũ kỳ này ;
giới đàn Vĩnh Gia, Đà Nẵng (1970), giới đàn Bảo Quốc –
Huế (1972 và 1975) . . .
Bên cạnh trách nhiệm Giám luật và Đặc ủy Tăng sự để nhiếp
hóa Tăng thân, Ngài còn quan tâm đến các lĩnh vực khác như :
3.-
Tổ chức Sinh hoạt Giáo hội Phật giáo :
-.
Thống nhiếp Chúng tăng :
Ổn định nề nếp cho một đời sống của tập thể Xuất gia
trang nghiêm thanh tịnh. Dù Ngài có bận những Phật sự cấp bách,
nhưng vẫn sẵn sàng
nhấn ga, thắng xe lại để
“bạt tai”
bất kỳ một tu sĩ trẻ nào thiếu phong cách và oai nghi tế hạnh mà
Ngài bắt gặp trên đường. Tự viện, Tịnh thất nào có vấn đề rắc
rối mà bước chân Ngài đến giải quyết là xong chuyện, dù khó khăn
đến đâu.
-.
Tổ chức các Phật học viện :
Thường kết hợp với quý Hòa thượng Đôn Hậu, Hòa thượng Trí
Thủ, Hòa thượng Thiện Hòa, Hòa thượng Thiện
Hoa, Hòa thượng
Thiện Siêu, Hòa thượng Mật Nguyện,
Hòa thượng Đổng Minh, ... trong các công tác thành lập
các Phật học viện làm nơi đào tạo thế hệ Tăng Ni trẻ để tiếp dẫn
hậu lai.
-.
Giáo thọ sư các Phật học viện :
Giảng dạy Phật pháp cho Tăng ni sinh. Từ thơ ấu, chúng
tôi may mắn được Ngài tiếp độ vào hàng đệ tử, tuổi trẻ là
“tiểu hòa thượng”,
chúng tôi chỉ được gậm nhắm những cú đòn nặng cân, chưa một lần
Ngài dạy chúng tôi chữ Hán, học chữ Phạn, hay giảng cho nghe một
câu kinh, một bài kệ, mãi đến năm 1967 khi trúng tuyển vào khóa
Cao đẳng Chuyên khoa Liểu Quán tại Tổ đình Linh Quang - Huế ;
đầu 1967, chúng tôi mới thực sự gậm nhấm những bản kinh
chữ Hán mà Ngài đích thân giảng dạy. Ôi ! Tuyệt vời, nghĩa lý
tuyệt vời súc tích, các sư huynh của chúng tôi như Hòa thượng
Lưu Đoan, Lưu Thanh, Lưu Đức, Lưu Huy, Quang Tạng, Tín Nghĩa và
Tịnh Từ, Liêm Chính ...
cũng trúng tuyển và theo học khóa này.
4.-
Đường lối giáo dục :
Về lĩnh vực này thì quả thực là đặc biệt, lẽ ra phải đưa
lên hàng đầu, vì Sư phụ chúng tôi đã áp dụng phương pháp
“dĩ động trị động”
theo khí phách truyền thống hùng hồn như :
hầm hét, tống, đạp của truyền thống thiền tông khi ai đó
đến tham bái, thắc mắc, cầu học mà đầu óc nặng nề những chấp
trước mê muội. Có thể nói rằng Ngài đã áp dụng phương pháp Đối
cơ để nhiếp hóa kẻ sơ cơ mê vọng, vì đây là phương thức mẫu mực
riêng biệt độc đáo của Thiền tông, hàm súc tất cả khí phách hùng
hồn qua một cuộc đối thoại, vượt hẳn ra ngoài những suy diễn
luận lý, và ngay cả khái niệm, vọng tưởng, nghi tình... Trong đó
những cuộc đối thoại xảy ra giữa hai thầy trò :
Thiền sinh tham vấn và Thiền sư ứng đối. Đặc sắc của đáp
án chả ăn nhập gì với những băn khoăn, thắc mắc, mê chấp vọng
tưởng, trái lại, tống đẩy hành giả vào chân trời bàng hoàng đột
xuất, táng đởm kinh hồn, tối tăm mày mặt, . . . Nếu còn suy
nghĩ, luận lý, . . . thì lại càng bị phủ vây nhiều cú đòn ý
tưởng kinh thiên động địa, cho đến lúc phải trực ngộ tri kiến
qua thực nghiệm tâm linh để cho ý tưởng bùng vỡ mọi vọng tưởng
sai lầm cố chấp, tất nhiên bản thể chơn tâm tuệ giác tỏ rạng
thông suốt. Con đường thiền học này dĩ nhiên đã được xây dựng
theo tôn chỉ của Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma
(Bodhi Dharma)
“bất lập văn tự,
giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhơn tâm, kiến tánh thành
Phật”.
Như trên đã trình
bày, suốt bao nhiêu năm phát tâm xuất gia học đạo, chúng tôi
được thầy tôi giao phó công tác giáo dục gián tiếp qua các Sư
huynh như Lưu Ân, Lưu Đoan. Anh chàng Lưu Ân thì quá khắc khe và
uy hiếp, chúng tôi bị phủ đầu bằng những lời bắt nạt, oan trái
và chịu đựng, chính Sư huynh Lưu Đoan thì tận tâm chỉ dạy chữ
Hán và nền tảng luật tắc, công phu tu tập. Nói thế không có
nghĩa là Thầy tôi không quan tâm, trái lại phong cách giáo dục
của Ngài gián tiếp một cách tinh tế, uyển chuyển, sâu sắc và mỗi
lần trầm tư qua các nghĩa cử ;
chúng tôi hoài cảm Ân sư xúc động lặng người trong hạt lệ
nóng. Ví dụ, khi lên chánh điện tụng kinh, vì vội vàng cho kịp
khóa lễ, chúng tôi thẩy đôi dép ngoài thềm cửa, Ngài ngang qua
dừng lại vài giây, cúi xuống xếp đặt lại gọn gàng, thứ tự ngay
ngắn rồi lặng lẽ thung dung quay gót. Ban đêm bên ngọn đèn dầu
leo lét, chúng tôi ngồi học, nghe tiếng
“Oạc”
khạc ra từ cổ họng xa xa, chúng tôi nín lặng, nghe ngóng đợi
chờ, có thể để ứng phó với các trận đòn, nhưng không, ngang qua
Ngài dừng lại, chúng tôi vòng tay đứng dậy nghiêm trang, Ngài im
lặng cúi xuống nhìn trang sách coi thử học gì, đọc gì, sửa lại
tư thế cuốn sách ngay ngắn trước bàn học, rồi yên lặng trở về
phương trượng. Cũng phong cách này, khi thấy chúng tôi giăng mắc
những chiếc áo dài lôi thôi xốc xếch trên giá, Ngài ân cần bước
tới sửa lại thật ngay ngắn, thăng bằng, rồi mĩm cười quay nhìn
chúng tôi và lặng lẽ bước đi, làm cho ai nấy tái mặt, thở ra nhẹ
nhõm, hoàn hồn.
Mãi đến khi trúng
tuyển vào khóa Cao đẳng Chuyên khoa Phật học tại chùa Linh Quang
năm 1967. Chúng tôi mới thực sự được sự dạy dỗ trực tiếp của
Thầy tôi.
Mình tự hãnh diện
về phong cách giáo dục hay thuyết giới của Sư phụ, trong sáng uy
nghiêm và dõng dạc, không những chúng tôi được học hỏi tiếp thu
qua kiến thức Phật pháp mà còn được hấp thụ phong thái, cung
cách của một nhà mô phạm đạo đức Phật giáo, thật là :
Ân giáo dưỡng một
đời nên huệ mạng,
Nghĩa Ân-Sư muôn
kiếp khó đáp đền !
5.-
Về thái độ, nhân cách :
5.1.- Bình dân, dễ
gần gũi :
Dù đã quen biết
hay xa lạ, lần đầu tiên gặp gỡ đối diện với Thầy tôi, ai cũng
phải công nhận rằng bản thân mình phải dè dặt, khép nép trước
phong thái uy nghiêm và cái nhìn như xoáy sâu vào tâm nguyện, và
sau khi tiếp xúc, trình bày lý do thăm viếng, vấn an hay cầu
thỉnh, câu nói ôn tồn từ ái của Thầy chúng tôi đầu tiên là :
“Lên lạy Phật đi,
cầu các Ngài gia hộ”,
thật là cao quý, bất cứ đệ tử nào thăm hỏi, vấn an, lời đầu Ngài
vẫn khuyên hướng về Tam Bảo ;
lính tráng, cán bộ chính quyền vào thăm cũng phải thực
hiện thủ tục tâm linh đầu tiên ấy, nếu tỏ thái độ khinh thường,
bướng bỉnh, cao ngạo, xồng xộc vào chỉ chỏ, ngắm nghía thì sẽ bị
tống đuổi ra khỏi cổng chùa, hoặc lãnh “một bạt tai” bức ngay quai nón. Tuy thế,
nếu ai biết khuôn phép lễ độ tôn sư trọng đạo, ân cần thưa thỉnh thì Ngài rất thân ái,
gần gũi như tình cha con, có thể ngồi đối diện tâm sự chuyện gần chuyện xa, việc đời việc đạo,
bất kỳ mọi lĩnh vực tôn giáo, lịch sử, văn hóa, tư tưởng khoa học, công nghệ, nông nghiệp, . . .
có thể đàm đạo suốt buổi, suốt ngày rất thoải mái, vui thích, nên người nghe đối diện khó có thể
xin phép từ tạ ra về.
Thầy tôi thường
tiêu khiển thú vui qua khói thuốc. Người ta thường bảo kẻ đam mê
thuốc lá như đam mê người tình, chỉ gắn bó hương vị của một loại
thuốc duy nhất, lắm khi có kẻ dám bỏ người yêu và trung thành
với thuốc lá, Thầy tôi lại khác. Ngài hút với tâm
“vô phân biệt”,
dù thuốc vấn nhà vườn, đến Basto ;
từ Ruby Queen đến Quân tiếp vụ ;
từ Dull Hill hay Salem ;
Capstan hay Ba số 5
(555).
Và, nhị vị Sư huynh hút thuốc vô địch thời đó là hai đại
ca Tín Nghĩa và Lưu Điền, không ai qua mặt. Tôi nhớ có một lần
khi Đại chúng ngồi cùng chung thọ trai với Thầy tôi, Tín Nghĩa
tỏ ra sành điệu móc túi lấy gói thuốc Ruby màu hồng gạch, mở
toẹc, bóc nắp chuyên nghiệp, kéo lên một điếu, cúi đầu, hai tay
dâng mời Thầy. Thầy tôi trước khi đưa tay nhấc một điếu thuốc
thì ánh mắt nhìn thẳng vào đại ca Tín Nghĩa, ai nấy hồi hộp,
tưởng là Ngài sẽ quở rầy ông Sa di mà bày đặt hút thuốc, ai ngờ
Ngài mĩm cười, rất thân ái, dễ thương, chúm chím bảo :
-.
“Ông cũng biết hút
thuốc à ?”.
Cả chúng nhẹ nhỏm
cười rộ, Tín Nghĩa đã quá, mặt hồng rực lên, mở Zippo cái cạch,
mồi thuốc cho Sư phụ và đốt khói cho mình. Nhưng mà bạn
coi chừng đấy, tính khí Thầy tôi thật bất thường, đang vui vẻ
nói cười thân ái đó, mà Ngài phát hiện ra một lỗi lầm nào của ai
đó, là quay lại
“bạt tai cái bốp”
ngay, ít ai mà chuẩn bị tư thế cho kịp, vì thế ngoại trừ khi
Ngài lái xe ra đi, còn nếu ngày nào có sự hiện diện của Ngài thì
tuyệt đối chúng tôi phải dè dặt, cảnh giác 24/24, và đây cũng là
thói quen để chúng tôi dễ dàng làm quen với không khí yên tĩnh,
nghiêm túc về cả ba nghiệp :
Thân, Khẩu và Ý suốt thời gian tu trì thời niên thiếu ở
Thiền viên Trúc Lâm - Huế.
5.2.- Nghiêm túc,
rõ ràng, thẳng thắn :
Ngài xuất thân
trong một gia đình có truyền thống Nho phong Khổng học, cọng
thêm sự đào luyện un đúc từ đạo đức phóng khoáng của Đại thừa
Phật giáo, nên đã tạo cho Ngài một phong thái nghiêm túc trung
trực, với lại, từ nhỏ đã được cậu Hoàng Cả
(tức vua Khải
Định khi chưa đăng quan)
đưa vào nội cung học tập giao lưu với hoàng thân, quốc thích và
cậu Hoàng Cả, nên cũng ảnh hưởng khí tượng đế vương trong bẫm
chất phong độ thâm trầm và phóng khoáng. Bản tính thẳng thắn,
không thiên vị, đặc biệt sẵn sàng ra tay đối ứng, la rầy, quở
phạt nhưng lại vô tâm, không để lòng oán giận trừng phạt ai bao
giờ, vì thế ai nấy đều dễ dàng gần gũi;
gần gũi mà tôn kính và ngưỡng mộ.
5.3.-
Đối xử vô tư, bình đẳng, phân minh :
Ngài có từ tâm độ
lượng, tuy nhiên nếu ai đã vi phạm lỗi lầm, thì Ngài thường áp
dụng phương pháp trừng trị chứ không dễ dàng tha thứ, đó cũng là
thái độ ứng xử nhiếp hóa những kẻ can cường ;
tâm niệm đối xử với đệ tử thì vô tư, dù cho con cháu họ
hàng ruột thịt giòng họ vào chùa xuất gia học đạo, Ngài không
phân biệt thân sơ, có khi còn rầy la quở phạt nặng nề, ai nấy
đều khâm phục đức tính thẳng thắn, phân minh. Theo truyền thống
truyền thừa, trước khi viên tịch, các vị Tôn sư thường vân tập
đồ chúng ân cần dạy bảo và phú chúc vai trò điều hành bổn tự,
tiếp dẫn hậu lai, nhưng tuyệt nhiên mỗi ngày huynh đệ chúng tôi
hầu cận bên giường bệnh mà chẳng bao giờ Ngài chỉ định chức sự
Trú trì, Viện chủ hay Tri sự cho huynh đệ nào, điều này chứng tỏ
Ngài muốn huynh đệ đồng tu khép mình trong tinh thần hòa hợp, và
tôn trọng đề cử trách nhiệm theo khả năng tôn ty trật tự, vấn đề
đó nếu ý thức cao thì thật là tuyệt vời phong thái thiền tông,
tuy nhiên cũng có thể sẽ có những dấu hiệu tiêu cực đáng tiếc đã
và đang xảy ra sau ngày Ngài khuất bóng. Dù sao cũng phải tôn
trọng ý nghĩa tâm tư đó qua hình ảnh
Nhạn vô di tích chi ý,
Thủy vô lưu ảnh chi
tâm !
5.4.-
Tinh thần từ bi, trí tuệ và dũng cảm :
Có lẽ Ngài đã có
một quá trình nghiên cứu, học tập và hành trì theo truyền thống
Mật tông, nên những biểu tượng hay hình ảnh Ngài thường tôn thờ,
chiêm ngưỡng là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Bồ tát Quán Thế Âm, Bồ
tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ tát Kim Cang Thủ và ngài Quán Âm Phổ Độ
Mẫu, . . . Nhận thức này phù hợp với quan điểm nêu trên, khi
chúng tôi đề cập đến lối tu hành trì Ngũ bộ chú của Ngài mà ở
đây xin trình bày giản lược để quý vị có thể tham cứu, hành trì
tu tập để xây dựng một năng lực chuyển hóa từ tâm. Ngũ bộ chú
gồm :
-.
Minh chú Sakya Muni Buddha :
Om
muni muni maha muniye svaha.
-.
Minh chú Quán Tự Tại Bồ tát :
Om
mani padme hum.
-.
Minh chú Văn Thù Sư Lợi Bồ tát :
Om
wagi shvari mum.
-.
Minh chú Kim Cang Thủ Bồ tát :
Om
vajra pari hum.
-.
Minh chú Quán Âm Phổ Độ Mẫu :
Om tara tuttara ture svaha.
Kẻ nào hành trì tinh tấn Ngũ bộ chú này phải quán lòng từ tâm,
để nuôi dưỡng tinh thần vị tha, phát khởi trí tuệ Bát Nhã
(Prãjna) và tự có một nội lực kiên cường. Minh chú đầu tiên để
nắm vững tinh thần giác ngộ, minh chú Quán Tự Tại hiện thân cho
tâm đại bi của mười phương chư Phật, minh chú Văn Thù Sư Lợi
hiện thân cho trí giác siêu việt của Phật đà, minh chú Kim Cang
Thủ hiện thân cho năng lực và hành động của Phật đà. Minh chú
Quán Thế Âm Phổ Độ Mẫu hiện thân cho nội khí thanh tịnh, là loại
năng lực trong cơ thể, đó là sức mạnh nội tâm, khiến tâm duyên
với cảnh, tác động thành hành động hiệu quả chơn chính. Rất tiếc
ở đây giới hạn một bài viết trầm tư về hình ảnh của bậc Tôn sư,
chúng tôi không dám đi sâu vào chi tiết của lĩnh vực này ; tuy
thế, cũng nên dẫn chứng lý do khiến Thầy chúng tôi có đầy đủ cả
ba năng lực từ, bi, trí tuệ và dũng cảm, nhờ vậy đã trên 70 tuổi
Ngài vẫn thung dung đơn thân độc mã lái chiếc xe hơi Toyota rong
chơi tự tại.
5.5.- Một tâm hồn
nghệ sĩ, mỹ thuật . . . :
Bên cạnh một định lực và trí tuệ sắc bén lắm lúc Thầy tôi lại
hiện thân một nhà mỹ thuật điêu khắc, rất có tâm hồn nghệ sĩ,
song song với một Thiền sư võ thuật Thiếu lâm tự.
Điều này không thể
dấu được qua cung cách, ánh mắt sáng ngời, dáng đi khoan thai,
đĩnh đạc vững chải và một khí sắc khiếp phục uy nghiêm. Trong
phương trượng vẫn còn lưu niệm mấy nhạc cụ của Thầy như :
Ống sáo, đàn bầu, đàn nhị, đàn Mandolin, Harmonica và có
lẽ không ai chê được tay trống cừ khôi tuyệt chiêu trong ban âm
nhạc cung đình của chốn đế đô. Có một buổi chiều, tôi len lén
thu một ống sáo trong tay áo rộng ra ngồi hóng mát và thổi theo
gió chiều trước suối xa chùa, ai ngờ gió chiều thoảng nhẹ âm
hưởng qua rèm phương trượng,
Ngài hỏi :
-. Ai chơi sáo ở
đâu cũng hay hay ?
Mấy thầy bảo :
-. Dạ bạch ôn, Tín
Đạo đó ạ.
Ngài cười :
-. Thế à, cũng khá
đấy.
Có lẽ đó cũng là
lời khen mà mình
(người viết bài
nầy)
cảm thấy sung sướng đến mấy tháng trời. Hẳn nhiên là Thầy tôi
không đủ năng khiếu để chơi được nhạc Tây, để đánh được những
bản nhạc Rock, Tango, Jazz hay sôi động như Twiss, . . . nhưng
đối với nền cổ nhạc Đông phương :
Công, liêu, họ, xự, xàn, xê, ... thì Ngài đam mê thật
nhiều qua cái đàn Nhị hay Mandoline. Thỉnh thoảng chúng tôi còn
lén nghe Ngài bấm rung dây đàn qua các bản nhạc thời tiền chiến
như : Hòn vọng phu,
Bà mẹ quê, Khối tình Trương Chi, Ngày trở về, . .
nghe thật bùi tai.
Về phương diện mỹ
thuật, Ngài không xuất thân từ trường lớp kiến trúc mỹ nghệ nào
nhưng với một khả năng thiên phú, bẩm sinh và con mắt trí tuệ,
Ngài tự sáng tác ra hòn non bộ với nhiều hình tượng độc đáo, đặc
biệt là bức tượng Bồ tát Quán Thế Âm cao gần hai mét từ tay Ngài
đã ngắm nghía đắp lên đặt ở gần cửa tam quan trước tiền đường
thật uy nghiêm lộng lẫy, bên cạnh là một chú Hồng hài nhi Đồng
tử với chiếc đầu ba chõm mũm mĩm dễ thương, chúm chân chấp tay
theo hầu bên cạnh Bồ tát. Các tượng nầy vẫn còn tôn trí bên
những thắng tích chung quanh sân chùa.
Ngoài ra, Sư phụ
chúng tôi lại còn là một nhân tài trong làng võ thuật truyền
thống Thiếu lâm tự, phát xuất từ Trung quốc nổi tiếng, không ai
ở Huế thời đó mà không biết điều này. Cứ nhìn đôi mắt, dáng đi
vững chải lanh lẹ, oai nghiêm của Ngài sẽ phát hiện ra ngay nếu
bạn tinh ý. Lãnh vực này tưởng e không cần trình bày chi tiết,
vì đó là năng lực phòng hộ và độ sanh của Thầy tôi.
5.6.-
Tính chất lãng mạn, hài hước :
Trong truyền thống
Thiền tông, đã xuất hiện nhiều Thiền sư thật nghệ sĩ, lãng mạn
và hài hước. Đời Trần, phái Trúc Lâm Tam Tổ có vị tổ thứ ba là
ngài Huyền Quang, đó là một Thiền sư, một nhà thơ lớn, một nghệ
sĩ, người xứ Bắc Giang ;
thuở nhỏ nhà nghèo, không ai muốn gã con gái, đến khi đỗ
Trạng nguyên
(mới 20 tuổi)
thì các đại thần, vua Trần Anh Tông muốn gã công chúa Liễu Nữ,
cháu của An Sinh Vương cho ông, ông từ chối để xuất gia tu hành,
thơ ông có đoạn hài hước như
Khó khăn thì chẳng
ai nhìn,
Đến khi Đỗ Trạng
tám nghìn nhơn duyên.
Ở đây, Ngài Trúc
Lâm Đại Thánh tự sau này không có những biểu hiện tình cảm như
ngài Huyền Quang, thì lại có những lúc vui vui, Ngài đã kể lại
những chuyện chọc ghẹo chú Tiểu nhỏ của các cung phi, mỹ nữ
triều vua Khải Định, đời Bảo Đại, làm Ngài ngượng nghịu mắc cở
rất dễ thương ;
cũng do giọng tụng kinh cầu hồn, thỉnh linh siêu độ của Ngài cao
vút, bay bỗng, lắm lúc còn châm chế mấy dạ khúc Nam ai, Nam bình
làm cho ai nấy quên mất lối về.
Tôi nhớ Ngài
thường dạy ban đêm khi âm vang của Đại hồng chung gióng lên, thì
phải ổn định tâm thức, tọa thiền hay tham học ngay ngắn, nếu nằm
ngữa biếng nhác thì kiếp sau sẽ đầu thai làm con rắn, cứ bò mãi
không ngồi dậy được.
Khi Sư ông vui vẻ,
có người thưa :
Bạch Ôn, nếu mà nằm thì sẽ thành con rắn, còn cứ ngồi hoài thì
hóa kiếp làm con cóc sao ?
Mà con rắn thì thường hã họng nuốt chững chon nhái, con
cóc, con nghĩ rằng e mình nên nằm thoải mái có lợi thế hơn ?
Sư ông im lặng,
đưa mắt từ ái nhìn về phía người hỏi, miệng chúm chím cười như
hoa hàm tiếu, rất nên duyên.
Có những sớm sớm,
chiều chiều, khi tâm hồn thanh thảnh, Sư ông đội nón lá rộng
vành, áo nhật bình màu lam, lững ngang đầu gối, xách ba-toong ra
chơi chung quanh xóm, thăm viếng một cụ già bệnh hay vấn an hỏi
han vài ba gia đình gặp chuyện đau buồn, khó khăn, dáng dấp đi
đứng chững chạc như một chúa tể sơn lâm, hay võ lâm xuống núi.
5.7.-
Xây dựng hòa bình :
Cuộc đời Ngài xuất thân và lớn lên trong những giai đoạn
gay cấn của lịch sử, nhất là vào thời điểm thực dân Pháp đã tràn
vào đặt nền đô hộ làm đảo lộn các triều đình vua chúa nhà
Nguyễn, rồi các phong trào Cách mạng Việt
Nam nổi lên tranh đấu giành độc lập cho nước nhà, các xu
hướng chính trị mâu thuẩn thanh toán nhau đẩm máu,
làm cho đời sống dân lành khổ đau điêu đứng. Ngài đã
chứng kiến nhiều cảnh thương tâm, nên ý thức về hòa bình an lạc
luôn luôn là nhân tố, Ngài muốn xây dựng hạnh phúc cho nhân sinh
; vì thế, Ngài đã
từng khuyên các đệ tử sống trong tinh
thần tương ái, hòa
hợp, và Ngài cũng đã từng đi tham dự các Đại hội Phật giáo Quốc
tế để bàn thảo và kêu gọi hòa bình.
5.8.- Tinh thần vô
úy :
Qua những phân tích trên, chúng ta có thể nhận ra được
một tinh thần khí phách hùng hồn của một bậc Chân nhân, Thiền sư
ngộ đạo, bước ra ngoài vòng lẩn quẩn của ý niệm tử sinh. Đặc
biệt trong lịch sử đời ngài, còn ghi lại lời gầm của Sư tử hống
phát ra từ kim khẩu của Ngài :
-. “Đã làm thầy tu
thì không sợ chết, nếu sợ chết thì đừng làm thầy tu.”.
Ôi !
Thật là dũng mãnh và khí phách phi thường của một bậc
chân tu, liễu ngộ cái khiếp nhược của kẻ mềm yếu trước cái thế
lực hăm dọa, đàn áp mà tự đặt cho mình một khí tượng oai hùng
vững chãi của con người vô úy tử sinh.
5.9.-
Trao truyền nhân cách, xây dựng đạo hạnh :
Những ngày đầu phát tâm vào
“lò luyện thép”
Trúc Lâm, chúng tôi ai nấy đều phải chuẩn bị tư thế xoay chuyển
tâm tính mình thuộc về cả ba lãnh vực :
Hành động, ý nghĩa và ngôn ngữ, không được cười giỡn, nói
đùa to tiếng, đi đứng nhẹ nhàng như gió thoảng, tâm hồn luôn lạc
quan vui vẻ. Ngoài ra, có những lúc Thầy tôi dạy những bài học
về nhân sinh cây cỏ mà có bao giờ tâm hồn của một chú tiểu nhỏ
có thể ý thức ra được đâu.
Ví dụ, có
một lần, Thầy bảo tôi lấy con dao nhỏ để chiết những chậu hoa
lan Tố tâm, bởi vì lan được trồng lâu năm trong chậu kiểng,
thành thử cắt tỉa ra rất khó khăn, thầy giữ phần gốc, nhấn mũi
dao tẻ hai, tẻ ba và bảo tôi nhấc ra từng tép nhỏ, những rễ lâu
năm cứ chằng chịt đeo bám chặt vào nhau, khó gỡ, tôi nhấc mạnh
tay, cả bụi lan thình lình tách rời hai mãnh không được như ý,
Thầy tôi nhìn qua, tôi hoảng hốt cúi đầu quờ quạng mấy cọng rễ
và lá rơi tung tóe hòa quyện đất khô.
Ngài bảo :
-.
Nhẹ tay chứ, bộ cây cỏ không biết đau à !
Ông làm cho nó khiếp hãi, hoảng hốt như thế thì dù có
chăm bón, săn sóc cưng quý tới đâu cũng không thể phát triển lên
được.
Chính những mẫu
chuyện nhỏ nhặt, vụn vặt đã cho thấy được thái độ giáo dục
chuyển hóa của Thầy tôi có một sức mạnh thôi thúc và thu hút
chúng tôi để tìm về nguồn cội của vũ trụ vạn pháp và tâm linh.
6.-
Về tư tưởng, quan điểm :
Qua các dẫn chứng
trên, đã nhận thức ra rằng Sư ông đã xuất thân và trưởng thành
học tập tiếp thu nền giáo dục thời quân chủ phong kiến, trải qua
các chế độ cọng hòa và xã hội chủ nghĩa, nhưng nền tảng căn bản
con người đó là thái độ dân chủ độc lập và khuynh hướng tự do
bác ái nhân sinh được đề cao, không bao giờ cúi đầu khuất phục
trước các thế lực mua chuộc đàn áp. Ngài đã thể hiện một tinh
thần vô úy trước mọi trở lực của hoàn cảnh dù biết rằng có thể
nguy khốn tới đâu. Ý tưởng này tôi đã trùng hợp với ý kiến của
ngài Thích Tịnh Từ trong một tác phẩm hồi ký cuộc chiến tranh
đầy máu và nước mắt
rất khốc liệt năm Mậu thận (1968), khi tất cả các Tăng Ni ẩn
tránh bom đạn dưới các hầm hố ở chùa Trúc Lâm mà Ngài vẫn thản
nhiên đi lui đi tới trên thềm nhà, kiểm tra còn ai chưa ẩn núp.
Đoạn này ngài Tịnh Từ đã vận dụng ngòi bút tài tình như một cảnh
sống động mà tôi đã đọc được mùa hè 2006 nhân chuyến công du
sang Âu Châu và khi ghé lại Tây Đức, ở vùng Rodgau, thành phố
Frankfurt, thì một đệ tử 25 năm trước của tôi đã tham vấn với
tôi như là một nhân chứng lịch sử. Tôi cám ơn Tiểu Mai Diệu Danh
và ngài Tịnh Từ vô biên khi gợi lên cho tôi ý tưởng này.
Trong Tam tạng
kinh điển, tác phẩm mà Thầy tôi tâm đắc nhất là tác phẩm nào ?
Xin thưa, Pháp Bảo Đàn Kinh. Có ai thắc mắc về ý tưởng
này, dĩ nhiên khi Sư Tổ chúng tôi đang giảng dạy bộ kinh đó thì
Tổ viên tịch, và Thầy tôi muốn cho các thế hệ sau này tiếp nối
sứ mạng tu tập chuyển tiếp truyền thống Thiền tông, đặt nền tảng
tư tưởng ngài Bodhi Dharma, qua Lục Tổ và trải rộng sau này. Mỗi
năm ngày giổ Tổ
(Giác Tiên, Khai
sơn Trúc Lâm Đại Thánh tự)
vào đầu tháng mười âm lịch, Thầy tôi và đồng chúng xông ngát
trầm hương trước Tổ đường, kính cẩn lật tụng trang kinh xưa, đấy
cũng là tư tưởng Tôn Sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn, cho dù
Tổ sư hay Sư phụ chúng tôi cuối cùng cũng xả bỏ xác thân hữu hạn
lại cho cõi thế và hóa thân thành bóng nhạn thênh thang giữa
khoảng trời cao rộng tự tại giải thoát không lưu lại một dấu vết
nào qua pháp tướng.
Ngoài ra, Ngài còn
hình ảnh của một thi nhân, rất có năng khiếu văn học, âm nhạc và
thi ca ; chúng ta
thử thưởng thức vài ý thơ ngắn ngủi mới nhận ra được nét độc đáo
cao vút ở trong ý tưởng thi ca :
Nhìn trăng trực nhận thể viên thông,
Vạn pháp không ngoài lý diệu không,
Ai dám bảo rằng :
không với có ?
Có không, không có . . . bởi người trông.
Hòa thượng Thích
Mật Hiển
Tiếc một điều,
ngày xưa chúng tôi có diễm phúc được thọ giáo làm đệ tử và học
tập đức hạnh Ngài, mà đầu óc thơ ngây bé bỏng không đủ sức chứa,
ngày nay cảm vọng sâu sắc thì cánh nhạn đã tung trời. Những oan
nghiệt của vòng lẩn quẩn sinh lão bệnh tử đã chập chờn và đồng
hành với Ngài suốt dài cuộc thế và đến lúc bóng chiều tắt nắng
thì tứ đại trả về cho bốn cụm uyên nguyên.
Biết là
cánh nhạn đã nhẹ nhàng thanh thản về nẽo xa xa mờ khuất trong
cõi ngút ngàn của bản thể không tâm, dù một cánh sao trời đã
khuất dạng, tuy thế mỗi năm khi đốt tâm hương tưởng niệm ân Ngài,
chúng con lại bàng hoàng tiếc thương ngưỡng vọng. Xin mượn một
dòng thi kệ ngắn mà chúng tôi đã cảm khái ngây ngất khi tưởng
niệm về các bậc Tôn Sư đã vắng bóng vì cuộc tử sinh, nhưng công
hạnh thiên thu còn âm hưởng :
真 性
虛 含
祕 華
雕 伶
猶 為 死
Chơn tánh hư hàm,
Bí
thảo
(*)
điêu
linh
do
vị tử,
禪 幾
妙 悟
曇 華
落 去
有 餘
香
Thiền cơ diệu ngộ,
Đàm hoa
lạc
khứ
hữu
dư
hương.

Đệ tử
THÍCH TÍN ĐẠO
Kính bái,
Ghi chú :
(*)
Bí thảo tức là cỏ Bí Sô (Bhikkhu,
chỉ cho vị Tỳ kheo, người Tu sĩ Phật giáo)
(xem tiếp)
Please press HOME
to go back to the main web page
HOME