THẦY TÔI
Hoàng Nguyên Nhơn
ôi vào nhập Đạo và học Đạo với Thầy tôi khi đất nước đang
nghiệt ngã cả hai miền. Riêng bốn vùng Chiến thuật của miền
Nam, không ngày nào mà không có hoặc là binh
lính Chính quy, Địa phương quân hay Nghĩa quân không phơi xác. Đó là chưa kể đến
người dân vô tội, mà nhiều nhất là ở vùng giới tuyến hay vùng xôi đậu
(tức là vùng mà ban ngày là của Việt Nam Cộng Hòa, ban đêm là Du kích được mang tên là
Quân đội Giải phóng miền Nam).
Tôi còn nhớ rõ mồn một, một câu khi Hòa thượng Trí Quang trả lời với một giới
chức Hoa kỳ có thẩm quyền, người này cũng biết nói tiếng Việt. Ông ta khoe với
Hòa thượng rằng :
-.
Sau cuộc oanh kích mấy ngày đêm ở Bắc việt, chúng ta đã tiêu diệt một số
giặc thù. Vừa rồi đây, cũng tiêu diệt vùng cận sơn ở dãy Trường sơn gần ba trăm
giặc và tịch thu một số chiến tích.
Ông ta tưởng
rằng, ông khoe với Hòa thượng như thế là ngon lành và sẽ được Hòa trả lời một
câu khen thưởng nào đó. Tuy nhiên, Hòa thượng nói một cách chậm chạp và buồn :
-. Số giặc ấy, số tử vong ấy cũng là
người Việt Nam chúng tôi.
Vị giới chức chỉ
biết im lặng, sau đó nói thêm một vài câu giả lả rồi cáo lui. Lâu lâu, họ có cho
một cô gái Mỹ trẻ đẹp, thường mặc áo dài kiểu Việt Nam ;
hay lui tới với các chùa Từ Đàm, Linh Quang, Bảo Quốc và Trúc Lâm, ...
Cô ta đi tới đâu, cũng khoe rằng :
Tôi là phe của Ấn Quang. Và, cô tìm mọi cách gặp cho được Hòa thượng Trí
Quang hoặc Thầy tôi (Ôn Trúc
Lâm) để hầu chuyện.
Khi bắt đầu lớn
khôn, thì những buổi tiếp chuyện như thế, tôi là người đệ tử được ưu tiên hầu
nước quý Ngài, bất cứ chế độ nào, hoặc là chư Tôn đức hoặc Cư sĩ ;
ngoại trừ những năm thời Quân chủ phong kiến và tám năm ở Đà Nẵng.
Sau năm 1976,
tôi trở lại Trúc Lâm, cũng được Thầy tôi chọn những công việc hầu nước tương tự.
Dưới đây là
những câu chuyện mà tôi được tai nghe, mắt thấy ;
chứng kiến tận mắt hoặc đứng hầu trà sớm bên cạnh Sư phụ, những lúc Giáo
hội hay hoàn cảnh đất nước bị bom đạn, dân chúng tản cư lánh nạn, thì tôi lại kề
cận với Thầy tôi nhiều hơn, được tường tận những chuyện xưa tích cũ do Thầy tôi
truyền lại. Ở đây là một vài câu chuyện đáng nhớ và đáng được ghi lại để hậu bối
biết và suy gẫm cho chính mình khi gặp việc xấu tốt mà hành xử.
Trước khi đi vào
những phần chính thức, nhơn đây chúng tôi cũng ghi lại duyên khởi đầu tiên như
thế nào để có lớp Đại Học Phật Giáo Đầu Tiên Tại Tổ Đình Trúc Lâm.
Số là :
Sau khi Thiền sư Mật Khế, vị Đại đệ tử của Tổ, vì Phật sự và tham phương
cầu học, không gần gũi bên cạnh để trực tiếp dẫn dắt Đại chúng Trúc Lâm về phần
tu học.
Một hôm ba huynh
đệ : Mật Hiển, Mật Nguyện và Mật Thể
ngồi luận bàn một số kinh đã học. Đến nơi bí yếu thì không tìm ra được thâm áo
như sự mong muốn. Ba huynh đệ mới than :
-.
Ước chi lúc ni giá như có Thầy Mật Khế, thì chúng ta đỡ biết mấy. Bây chừ
tính răng, biết hỏi ai đây ?
Không ngờ câu
nói nầy lại lọt vào tai của Tổ tự bao giờ. Tổ đi đến và hỏi :
-.
Mấy chú muốn học há ?
Ba huynh đệ chưa
biết tính và trả lời cách nào, Tổ lại hỏi dồn tiếp :
-.
Mấy chú có muốn học thiệt khôn ?
Cả
ba huynh đệ đồng chấp tay quỳ gối, đảnh lễ, Ngài Mật Hiển đại diện thưa :
-.
Thưa Thầy, chúng con muốn học, mà Thầy Mật Khế không có nhà, chừ chúng
con chưa biết tính ra răng cả.
Sau lời thưa
thỉnh ấy, Tổ hoan hỷ tự thân hành vào Tổ đình Thập Tháp Di Đà, Binh định để cung
thỉnh cho được Quốc sư Phước Huệ ra chủ giảng cho Tăng chúng Trúc Lâm. Và cũng
từ đó, thành lập lớp Đại học Phật giáo đầu tiên.
1.-
Thời Quân chủ :
1.1.- Được vào Hoàng cung để tham
học chữ Nho. Khi Thầy tôi vừa tròn 14 tuổi
(1921), cậu Hoàng Cả, tức Vua Khải Định
chưa đăng quan, thường hay lên Trúc Lâm tham vấn Phật pháp với Tổ Giác Tiên ;
cậu Hoàng Cả thấy Thầy tôi mặt mày thông minh đỉnh ngộ, tính tình chất
trực nên ngõ ý với Tổ cho đưa vào hoàng cung để đào tạo phần Nho học. Trong chốn
cung vàng điện ngọc như thế mà Thầy tôi chỉ tham học vỏn vẹn một năm rồi cũng
xin trở về lại chùa để tu học.
1.2.- Trong lúc Sơn môn đang
tìm một vị để lo Sớ giấy, công văn cho Hoàng tộc tại triều. Đức Hội chủ Thích
Tịnh Khiết lo ngại là khó khăn. Ngài dạy :
-.
Nếu làm không xong thì nhà vua sẽ xử phạt, Sơn môn sinh hoạt khó khăn.
Vì, bên cạnh Sơn môn, còn có môn phái Thuyền lữ nữa.
Thầy tôi thưa :
-.
Mình cứ mần đúng. Đừng phạm húy, là được. Tuy nói là nhà vua, nhưng cũng
là đàn bà.
Ôn Hội chủ bảo :
-.
Nói vậy không sợ đứt đầu ?
Thầy tôi :
-.
Nhà vua đàn bà, thì tui nói đàn bà, có gì sai trái mô ?
- Và, dù bất cứ chức tước chi đi nữa, kể cả bậc vua chúa, vương hầu,
khanh tướng thì cũng đều là con người cả. Nếu không tu thì chỉ là một cây
thịt biết nói năng, cuối cùng cũng đắm chìm trong dục lạc, một mai có chết đi
thì chỉ quanh quẩn trong lục đạo mà thôi. …
Không ngờ câu nói nầy lại
lọt vào triều đình và đến tai đức Từ Cung
(Mẫu thân của
vua Bảo Đại). Ngày nọ, đức Từ Cung xa
giá và tùy tùng lên tận Trúc Lâm và gặp Thầy tôi. Trong lúc trò chuyện. Đức Từ
Cung có hỏi :
-. Nghe nói: Thầy bảo nhà vua cũng là
đàn bà ?
Thầy tôi :
-.
Dạ thưa, Ngài là đàn bà thì tui nói đàn bà. Và, tui chỉ nói đúng với Phật
pháp, đúng với sự thật, với sự tu tập chân chính của người con Phật. Ngoài ra,
tui chẳng nói gì thêm.
Đức Từ Cung :
-. “Mặc dầu
tôi ở trong hoàng cung, nhưng, những gì Thầy nói, tôi đều nghe hết. Thầy cứ nói
và phải nói. Nếu không có Thầy, tôi sợ rằng trong lúc pháp nhược ma cường, đất
nước lâm cảnh bảo hộ sẽ có cảnh loạn Tăng …”
1.3.- Hòa thượng Quốc sư Phước Huệ vì tuổi già sức yếu, vả lại, cán bộ
của đạo lúc này cũng tương đối vững mạnh, ngài trở về lại Tổ đình Thập Tháp
(Bình Định).
Trước khi trở về, đức Từ Cung (mẹ của vua
Bảo Đại) có thưa hỏi lên ngài Phước Huệ như sau :
-.
“Sau khi Hòa thượng về rồi, chúng con muốn học thêm giáo lý, kinh điển
thì biết làm sao ?”.
Hòa thượng hoan hỉ trả lời :
-.
“Sau này quý vị nào muốn học thêm kinh điển thì nên theo học với chú Hiển.
Cũng chính từ lời dạy ấy của
Hòa thượng Phước Huệ, mà năm Đinh Sửu (1937), vua Khải Định và đức Từ Cung đã
cung thỉnh Thầy tôi về cung An Định ở An Cựu để hướng dẫn kinh điển cho Nguyễn
Phước tộc.
1.4,-
Sơn môn và Thuyền lữ :
*.-
Trong thời gian chấn hưng Phật giáo miền Trung, thì tại Cố đô Huế có hai
lớp Tăng sĩ. Một lớp chư Tôn đức tôn trọng giới luật và có nền nếp của Tăng đoàn
được gọi là Sơn môn. Một lớp khác, có gia đình và dưới sự hướng dẫn của Ông Mười
Ba, được gọi là Thuyền lữ.
Khi Sơn môn đã được thống
hợp có kỷ cương, mỗi nửa tháng có Bố tát, tụng giới hẳn hoi. Chương trình sinh
hoạt của Sơn môn cũng có những chức vụ. Biểu tượng ngôi vị Hội chủ là Ôn Tịnh
Khiết, biểu tượng của Tăng đoàn là ngôi vị Tăng sự, có Ôn Mật Hiển.
Vào một buổi họp đặc biệt
của Sơn môn, chư Tăng câu hội đông đủ, duy chỉ có thiếu Ôn Phước Huệ, chùa Hải
Đức. Chư Sơn đã cho một vài vị vào thưa thỉnh đôi ba phen mời Ôn ra dự họp, Ôn
cũng không ra. Cuối cùng Ôn Tịnh Khiết
(Tường Vân)
và Ôn Giác Nhiên
(Thuyền Tôn)
nhìn nhau rồi cùng nói
-.
Chỉ có thầy Trúc Lâm
(tức Ôn Mật Hiển).
Thầy tôi thưa :
-.
Chư Sơn sai thì tui phải đi.
Rồi Thầy tôi đem theo hai vị
Tăng trẻ, đồng thời, mang tích trượng, đem luôn hai cây gậy và một sợi dây dừa.
Hai vị đi theo Thầy tôi vào tận chùa Hải Đức, cách Từ Đàm độ 500 mét hơn.
Vào đến chùa, Thầy tôi gõ
cửa bước vào liêu của Ôn Hải đức, tay chống tích trượng, quỳ xuống thưa:
-.
Tăng sai chúng tui vào đưa Thầy (ôn Hải
Đức) ra với
Chư
Sơn.
Ôn Hải Đức nhìn thấy tích
trượng, còn có thêm hai cây gậy và một sợi dây, Ôn lật đật đứng dậy bảo :
-.
Từ từ rồi tui ra ngay. Làm
chi mà đem gậy gộc, dây nhợ vào ?
Cuối cùng, bốn vị cùng ra
với Chư Sơn tại Từ Đàm.
*.-
Ôn Đức Tâm
kể : “Có
một lần các thầy lớn trong Tổng Hội Phật giáo Thừa Thiên Huế họp bàn Phật sự tối
ư khẩn trọng tại chùa Từ Đàm, có liên quan đến việc tay chân ông Cẩn và chính
quyền ông Ngô Đình Diệm ra tay đàn áp, thủ tiêu nhiều cư sĩ cán bộ Phật giáo
miền Trung và khắp cả nước. Buổi họp cần sự chứng minh của hai đại lão Hòa
thượng Thích Giác Nhiên và Thích Giác Nguyên, tọa chủ chùa Thuyền Tôn và chùa
Tây Thiên. Song hôm đó hai ngài vắng mặt, lấy lý do là không khỏe. Các thầy đại
diện trong tổng hội vào mời đến hai lần, nhưng hai Ôn cũng không chịu đi.
Cuối cùng Ôn Trúc Lâm liền lấy danh nghĩa Tăng sai, cầm tích trượng vào
thỉnh vấn hai Ngài. Khi hay Ôn Trúc Lâm đến, hai Ôn Thuyền Tôn và Tây Thiên lật
đật bỏ dỡ bàn cờ, vội vàng mặc áo tràng đi ra chùa Từ Đàm dự hội, không giám
chậm trễ …” (Tịnh Từ thuật lại)
1.5.- Sự liên hệ giữa Thầy
tôi và Đại lão Hòa thượng Tương Ưng, Trú trì Tổ đình Từ Quang, gần chùa Kim
Tiên. Tưởng cũng nên biết một vài nét đơn thuần về ngài Tương Ưng. Hòa thượng
thế danh là Nguyễn Duy Phú, sinh năm Nhâm tý - 1912 ;
xuất gia ngày 19 - 02 - Kỷ tỵ
(1929) với Ngài Giác Bổn
(ngài Giác Bổn là huynh đệ với tổ Giác Tiên). Thọ Sa di năm
1934, thọ Tỷ kheo tại đại giới đàn Hải Đức, năm Canh thìn
(1940) với Pháp danh Tâm Giải,
Pháp tự Tương Ưng. Thị tịch ngày 12 tháng 9 - Giáp tuất
(1994), hưởng thọ 83 tuổi, 54 hạ
lạp. Sau khi đắc giới, Ngài tham phương cầu học ở Đà Lạt. Vì Tổ đình Từ Quang bị
trù ếm ra sao đó, các vị kế thế Trú trì đều thọ yểu. Cuối cùng, môn phái cung
thỉnh ngài Tương Ưng về đãm nhiệm chức vụ Trú trì.
Sinh tiền, Ôn Tương Ưng ở
đời là vai anh của Thầy tôi cùng họ Nguyễn Duy, người làng Dã Lê ;
nhưng trong đạo thì ngài cung kính, thủ lễ đúng mức và xem Thầy tôi như
là vị thầy của chính ngài.
Trước khi ngài Tương Ưng về
kế thế chức vụ Trú trì Từ Quang, Thầy tôi chận lại và bảo :
-.
Để tui (tức Thầy tôi)
ra xem lại ngôi chùa đã. Vì có nhiều chuyện, theo tui cũng rất lạ kỳ.
Thầy tôi cho hạ ngôi Chánh
điện và phát hiện ra là cái đòn dong chính bị ếm bằng cách chạm hai con giả-nhơn
ở hai đầu. Thầy tôi cho thay cái đòn dong chính ấy, tu sửa toàn bộ ngôi chánh
điện và đưa ngài Tương Ưng lên làm Hóa chủ cho đến ngày thị tịch
(1994)
2.-
Thời Dân Chủ :
2.1.-
Câu chuyện cụ Cố lãnh chúa miền Trung là ông Ngô Đình Cẩn.
Ông Cẩn thỉnh
thoảng lên Trúc Lâm chơi và đàm đạo với Thầy tôi. Vì ông biết rằng Tổng thống
Ngô Đình Diệm rất mến mộ và nễ vì Thầy tôi ;
Vì, Thầy tôi là vị đã từng bảo bọc, che chở và tìm cách đưa cựu Thượng
thư Bộ lại treo ấn, từ quan, bị mật thám Pháp bố ráp ráo riết, nên đã đưa vào
trốn lánh ở Tổ đình Từ Hiếu gần sáu tháng. Ngày từ giả, Thầy tôi nhờ xe của cụ
Ngô Trọng Lữ (phụ thân của cụ Tâm Tràng
Ngô Trọng Anh) đưa vào Đà
Nẵng, cải trang bằng một nhà tu mặc áo Cà sa Nam tông.
Khi ông Ngô Đình
Cẩn lên chơi, sau tuần trà đàm đạo. Ông Cẩn khoe về vấn đề chính trị, nào là tìm
cách an bang tế thế, nhất là miền Trung. Thầy tôi nghe xong, vừa cười và vừa nói
vui vui với ông Cẩn rằng :
-.
Cụ học lớp mấy, đậu bằng cấp chi mà làm chính trị ?
Ông Cẩn trả lời
:
-.
Tôi cũng có học, nhưng vì bận ở nhà lo cho mẹ già, nên nghỉ học.
Thầy tôi tiếp :
-.
Muốn làm việc lớn, nhất là việc nước là phải có học vị, có chữ nghĩa, thì
nói họ mới nghe, họ mới phục. Giống như cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh chẳng
hạn, ... Còn làm chính trị mà cái bằng Tiểu học cũng không có, thì làm răng đủ
trình độ để hướng dẫn
nhơn viên, mà là
nhơn viên Cố đô Huế. Dân miền Trung, theo tui biết đa phần là những nhà Cách
mạng quần tụ khá nhiều.
Ông Cẩn buồn,
nhưng thấy Thầy tôi nói có lý, ông cười giả lả, rồi đánh trống lãng sang chuyện
khác.
Pháp nạn 1963,
Thầy tôi là Trưởng ban tổ chức Đại lễ ;
sau đêm 20 tháng 8, toàn bộ chùa chiền bị tấn công, Tăng ni và Phật tử bị
bắt, Thầy tôi cũng bị bắt và bị nhốt ở lao tạm Ty cảnh sát Thừa thiên ở ngã năm,
An cựu. Trong lục bị thẩm vấn, công an có hỏi là Thầy tôi rằng :
-.
Thầy bảo cụ Cố không có bằng cấp phải không ?
Thầy tôi xác
nhận mạnh mẽ :
-.
Điều nầy tui có hỏi thẳng với Cụ, ngày cụ lên chùa chơi và nói chuyện với
tui là : Ông Cụ đậu bằng chi mà làm
chính trị ? Không có bằng mần việc chữ nghĩa khó khăn lắm, ...
2.2.-
Thầy tôi có một chiếc xe hiệu citroen của Pháp, rất là cũ kỷ. Bảo trì
hằng ngày như thay nước, chùi bu-ri, coi lại xăng nhớt và cho máy chạy năm mười
phút, trước khi Thầy tôi lái ra trụ sở Văn phòng Giáo hội ở Từ Đàm, là tôi phải
chu tất.Vì chiếc xe quá cũ, nên Thầy tôi lái vừa đủ để khỏi đi bộ mà thôi. Từ
Trúc Lâm ra Từ Đàm bằng con đường Nam
giao độ chừng bốn, năm cây số. Một ngày như mọi ngày,
Thầy tôi đều đi, về như thế. Có lần, không biết ông Cẩn đi đâu lên quận Nam Hòa,
lính hộ tống đi trước dẹp đường để cụ Cố đi. Nào ngờ, toán hộ tống gặp phải xe
của Thầy tôi, chúng bóp còi hụ inh ỏi, rồi chận lại chỉ chỏ, ra lệnh Ngài phải
dừng xe qua một bên. Đoàn hộ tống nầy hống hách la lối om sòm và Thầy tôi dừng
xe lại một bên đường, ngồi trong xe cười tự
nhiên.
Xe ông Cẩn vừa
tới, ông hỏi :
-.
Cái chi mà la ó om sòm rứa ?
Thầy tôi trả lời :
-.
Thưa cụ, xe tui xấu, chạy chậm mà lính của cụ dữ quá, nảy giờ cứ lớn lối
la ó tui lung tung.
Ông Cẩn hỏi :
-.
Đứa mô ?
Cả đám đứng im phăng phắc. Rồi ông bảo tiếp :
-.
Từ nay về sau, tụi bay thấy xe của thầy
Trúc Lâm, thì nhường cho thầy đi, đừng hối thúc. Và, nếu hư giữa đường thì lo
sửa cho thầy để thầy đi nghe chưa ?
Toán hộ tống dạ dạ, vâng vâng và tất cả đều lên xe. Thầy
tôi từ từ về chùa.
2.3.-
Năm Bính Thân
(1956), ngài đại diện Giáo hội và
chính phủ Đệ nhất Cộng hòa đi dự Đại lễ Phật đản tại Đông Hồi. Nhân dịp
này, ngài đã được đi chiêm bái, thăm viếng các Phật tích, chùa chiền, thắng cảnh
của các nước Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện và Ai Lao … Khi trở về, ngài có thuật
lại chuyến đi này bằng một tác phẩm nhỏ : Phật Đản Đông Hồi
Trước
khi đi dự, Thầy tôi đã dự đoán những việc có thể xảy ra cho phái đoàn, Ngài mang
theo trong người hai lượng vàng bằng một sợi dây chuyền có tượng Phật để đeo vào
cổ, mượn của một tín chủ ; xem đó
như là một sự trang sức, nên khi xuất ngoại không mấy bị khó dễ.
Phái đoàn qua đến Đông Hồi
đã năm ngày mà Chính phủ vẫn chưa cho đổi ngoại tệ để chi dùng, mặc dầu Bộ Ngoại
giao hứa là lo đầy đủ cho phái đoàn khi đặt chân đến xứ ấy.
Trong hoàn cảnh ấy, Thầy tôi,
một mặt lấy sợi dây chuyền ra bán để cho phái đoàn tạm có để tiêu dùng ;
mặt khác, Thầy tôi gọi điện thoại thẳng đến Phủ Tổng thống để phàn nàn
rằng :
-.
Chính phủ đưa chúng tui ra đi như thế ni là lưu đày cho chết, chứ chẳng
phải là đại diện Chính phủ để đi dự Phật đản của nước láng giềng mô ?
Tổng thống Ngô Đình Diệm đã
xin lỗi thẳng với Thầy tôi và chỉ thị bộ Ngoại giao lo gấp cho phái đoàn.
2.4.-
Khi Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng Thống, ông cho Đại tá Lê
Văn Thân đương kim Tỉnh trưởng kiêm Thị trưởng tỉnh Thừa Thiên, Thị xã Huế lên
thỉnh Thầy tôi về chùa Túy Vân, huyện Vinh Lộc để thăm nhau
(vì Tống thống
Thiệu gốc là người cùng làng với bà Hoàng Thị Cúc tức đức Từ Cung).
Thầy tôi về
trước mấy tiếng đồng hồ. Thầy tôi đã hành xử qua sự trình bày của Giáo sư Trần
Quang Thuận như sau :
. .
. “Một dạo khác, tôi ghé thăm Hòa
thượng, tôi được Hòa thượng cho biết Đại tá Thân, tỉnh trưởng Thừa Thiên mời Hòa
thượng trở về chùa Túy Vân
để đón tiếp Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đến thăm chùa. Hòa thượng ở
trong thế rất khó xử. Là Trú trì của Quốc tự Túy Vân, ngài không thể vắng mặt
trong dịp Tổng thống ghé thăm chùa, nhưng tình hình chính trị lúc bấy giờ không
mấy thuận lợi, giữa Chính quyền và Giáo hội có nhiều điểm bất hòa. Đón tiếp Tổng
thống tức đi ngược lại đường lối Giáo hội, không đón tiếp Tổng thống tức không
làm tròn chức năng của một vị Trú trì. Ngài, với tinh thần quyền biến sẵn có, đã
về Túy Vân nhưng không ra đón Tổng thống khi máy bay trực thăng chở Tổng thống
đến chùa mà chỉ ngồi đợi trong chùa để tiếp chuyện Tổng thống !
Không ai ngờ với con người tu sĩ bình dị lại có thể nghĩ ra quyền chước
ngoại giao đặc biệt mà sách vở giao tế chưa có dịp đề cập đến. Phải chăng Hòa
thượng đang thực hành phương châm thiền :
Đừng cứ im lặng, mà cũng đừng cứ rành rẽ.
Đặc tính của Thiền sư :
“Là sự
hoàn toàn thiếu thế quyền phi lý nhưng đồng thời xác nhận mạnh mẽ cái quyền
không đòi hỏi kia, mà căn nguồn của nó là kinh nghiệm chính thức”.
(Trần Quang Thuận, Kỷ Yếu Khánh thành Tổ Đình Từ Đàm
Hải Ngoại, Dallas, Texas - 1998)
2.5.-
Năm Mậu thân (1968), cuộc Tổng tấn công của quân đội Bắc Việt vào miền
Nam, trong đó có tỉnh Thừa Thiên và Cố đô Huế.
Lúc ban đầu, vào sáng ngày mồng Một Tết, mọi nơi đều im lặng. Vùng thôn
quê như Tổ đình Trúc Lâm và phụ cận, tuyệt đối không hay biết gì cả. Vào khoảng
9giờ sáng, Cố Thượng tọa Thích Chơn Thức, Giám tự Tổ đình Tường Vân quấn Cà sa Nam
tông đi bộ vào Trúc Lâm và hầu chuyện với Thầy tôi. Thượng tọa cho Ôn Trúc hay
là cả thành phố đầy ngập quân đội Bắc Việt. Cách đồn Công binh Nam Giao độ 100
mét cũng có bộ đội mang súng đi qua đi lại trong nhà dân. Đồn Công binh thì án
binh bất động. Chung quanh đồn, lính gác cẩn mật. Con đường phía sau đồn thì có
thể đi lại được vì có hơi xa đồn một tí. Nếu muốn đi ra Linh Quang thì chỉ đi
bằng con đường nhỏ đó mà thôi.
Sau khi Thượng
tọa ra về, Thầy tôi cho đòi tôi và thầy Lưu Ân lấy xe đạp ra chùa Linh Quang xem
động tịnh ra sao ? Anh em của lớp
học Nội trú Liễu Quán bốn năm thế nào ?
Hai chúng tôi vâng lời Sư phụ rồi đạp xe ra đi.
Hai chúng tôi
cũng có đạp xe đến gần đồn Công binh, nhưng bị chắn lại bằng hàng rào kẽm gai
cách chùa Lam Sơn độ 50 mét về hướng bắc khá kỷ lưỡng ;
đành quay xe lùi lại và đi theo con đường do ngài Chơn Thức hướng dẫn.
Chúng tôi vừa
đến chùa, thì đã gặp ngay một toán bộ đội năm, sáu người gì đó mang súng cúi đầu
đi ngược chiều. Không ai nói ai điều gì. Khi vừa vào đến chùa, Ôn Linh Quang dạy
:
-.
Thôi mấy chú về đi cả nguy hiểm. Ôn cũng đang tính chuyện cho Tăng chúng
và lớp học nội trú Liễu Quán di tản, nhưng chưa biết đi ra sao và đi về đâu.
Ôn còn dạy tiếp
:
-. Để xem ra sao rồi mới tính. Hai chú
về thưa với Ôn Trúc như vậy.
Trận giặc đầu
năm thấy cũng kỳ lạ. Gần một tuần, không nghe tiếng súng là bao. Cũng không thấy
hai bên đánh nhau. Lính đồng minh Hoa Kỳ cứ lái xe chạy tự do lên quận Nam Hòa
rồi về lại Phú Bài rất thoải mái bằng con đường vừa đất đỏ vừa trán nhựa nầy dài
chừng mười hai cây số. Một ngày lên
về như vậy bốn chuyến vừa xe lớn xe nhỏ. Hai bên đường cũng có bộ đội cầm súng
đứng nhìn đoàn xe Mỹ và đoàn xe Mỹ chạy cũng nhìn ngược trở lại mà không có một
thái độ thù nghịch nào. Mỗi lần có đoàn xe Mỹ chạy, ban đầu bà con lối xóm cũng
ra gần cửa ngõ trước nhà để nhìn.
Ôn Linh Quang và
Ôn Trúc Lâm thấy trong núi có tiếng súng mà vùng chung quanh Từ Đàm, Phú Cam lại
yên nên đưa hai vị đại lão Hòa thượng Thuyền Tôn và Tây Thiên ra ở chùa Linh
Quang, vì chùa này tường vách tương đối chắc chắn hơn.
Đến ngày Rằm
tháng Giêng hai bên bắt đầu giao tranh mạnh, nhất là thành phố Huế. Thầy tôi cho
đón ôn Thiện Siêu, ôn Chánh Trực, Ôn Linh Quang và cả tiểu gia đình của ôn cùng
một số học tăng khóa Liễu Quán cũng vào trú ở Trúc Lâm. Chúng điệu Trúc Lâm,
những vị lớn đều phải lo đào hầm núp tránh bom đạn. Tổng cọng lớn nhỏ là mười
hai cái hầm. Bao nhiêu gỗ tốt, quý dùng để sửa chùa, Thầy tôi đều cho đem ra
chắn đất làm hầm hết. Sau này im tiếng súng, chúng tôi tháo gỡ và dọn dẹp gần
nửa năm mới xong.
Hằng ngày Thầy
tôi tâm sự chuyện Đạo với quý Ôn, còn phải đốc thúc lo chuyện ăn uống cho Đại
chúng hơn năm chục vị lớn nhỏ. Mỗi lần nghe đại pháo từ quận Nam Hòa bắn về,
Thầy tôi la hét :
-.
Tất cả hãy xuống hầm hết, kẻo chết đi chừ. Mấy thầy lớn
(tức quý Ôn
Mật Nguyện, Thiện Siêu, Chánh Trực, ...)
đã xuống hầm hết chưa ?
Được ba ngày,
tiếng đại pháo thưa lần, Thầy tôi cho đưa quý ôn Thiện Siêu, Chánh Trực và cả
tiểu gia đình của ôn Mật Nguyện qua Tổ đình Tây Thiên. Vì bên nầy có hai ngôi
tháp xây sẵn dành riêng cho hai vị đại lão Hòa thượng Thuyền Tôn và Tây Thiên,
gần tháp Tổ Tâm Tịnh, tương đối rộng, kiên cố hơn. Đồng thời, Thầy tôi cũng tìm
cách cho đón hai vị Đại lão Thuyền Tôn và Tây Thiên trở lại hai Tổ đình như cũ.
Có một điều đặc
biệt mà chúng tôi cũng nói lên đây để đọc giả và Phật tử biết thêm.
Số là, khi chính
quyền miền Nam và liên quân Hoa Kỳ bắt đầu phản pháo và giải tỏa Cố đô Huế, nên
bao nhiêu hỏa lực mạnh bằng vũ khí và quân đội từ Hạm đội Hoa Kỳ đánh thẳng vào
Huế.
Thầy Thiện Tấn
lấy chiếc xe Mobylette và một cái ghế dựa có tay vịn hai bên, cột chặt vào port
bagage để chở Ôn Thuyền Tôn trở lại chùa cho chắc ăn. Đạn pháo tới tấp, tiếng nổ
chác tai. Ôn dạy :
-.
Chú chịu khó rú ga thêm lên cho xe chạy mau một chút, đạn bắn nhiều quá,
. . .
Còn Ôn Tây Thiên,
chúng tôi cũng thưa để chở Ôn bằng xe và loại ghế dựa như vậy, Ôn Tây Thiên lại
dạy :
-.
Thôi, để tui chạy bộ. Tui lùn họ bắn không có trúng, mấy chú cứ chạy
trước đi.
Chúng tôi không dám cười, sợ
thất lễ, và, cũng không dám để Ôn chạy một mình ;
đành chạy bộ theo sau lưng Ôn. Riêng Ôn, Ôn cứ tự tại chạy lúc thúc như
vậy. Chúng tôi nghe đạn nổ ầm ầm thì nằm rạp xuống hai bên vệ đường, Ôn nhìn
chúng tôi nằm mẹp xuống đất, Ôn cười chúm
chím ; còn Ôn tự nhiên chạy như thế
cho hết đoạn đường từ chùa Linh Quang đến Tổ đình Tây Thiên, gần năm cây số hơn,
thảng nhiên, xem như không có chuyện gì xảy ra cả, chạy đến đàn Nam
Giao, có một toán lính Bắc Việt hối thúc chúng tôi
rằng :
-.
Chạy lẹ lên, để chúng tôi đánh Mỹ, . . .
2.6.-
Cuộc tổng tấn công của quân đội chính quy Bắc Việt tại tỉnh Thừa Thiên và
Cố đô Huế đang bị quân lực Việt Nam
Cộng Hòa và Đồng minh bao vây, tấn công dữ dội ;
núng thế, quân Bắc Việt đang
từ từ tháo lui.
Họ được mật lệnh
rút quân về làng Trúc Lâm, Liễu Bảo, sau lưng chùa Linh Mụ, ra ngã làng La Chữ,
thuộc quận Hương Trà để vào núi Trường Sơn. Mật lệnh nghe như thế nào không rõ,
họ rút gần cả ba tiểu đoàn lên đóng chung quanh Tổ đình Trúc Lâm suốt cả tuần.
Chiều ngày 22
tháng Giêng, một phái bộ gồm bốn người đến chùa cho biết tối đó sẽ gặp Thầy tôi
và muốn thảo luận một vài chuyện. Thầy tôi biết như vậy và bảo cho chúng lý hay,
tối nay phải đi ngủ hết từ lớn cho đến nhỏ, chỉ một mình Tín Nghĩa lo chuyện trà
nước với khách mà thôi. Điệu Xạ mon men chuyện gì không rõ, bị Thầy tôi tát hai
bạt tai.
Vào lúc 7giờ tối,
Thầy tôi cho gọi tôi đến và hỏi
-.
Tín nghĩa, túi ni họ gặp tui, ông có ý kiến chi không ?
Tôi thưa :
-.
Bạch Ôn, họ gặp và nói gì thì tùy vấn tùy đáp, con chưa biết được chi cả.
Thầy tôi chép
miệng và đi tới, đi lui, rồi Ngài đi thẳng lên bàn Hộ Pháp. Thầy tôi vừa xuống,
thì khách cũng vừa vào. Tôi lo phần trà nước. Thầy tôi phân ngôi chủ khách.
Phía bên trái,
Thầy tôi ngồi một mình. Dãy bên phải gồm một ông Đại tá, một ông Thượng tá và cụ
Võ Thành Minh
(học trò của cụ Phan Bội Châu, người đã thổi tiếng
sáo cầu nguyện hòa bình tại Genève). Bên ngoài cửa thì có một toán lính gác bốn người, súng ống hẳn
hoi. Còn hai lính cận vệ đứng phía sau mấy ông sĩ quan nầy, đối diện với hai
thầy trò chúng tôi.
Trong lúc tôi
đang lo chuyện trà lá, cụ Võ Thành Minh và hai sĩ quan bộ đội nói qua, nói lại
những gì tôi không nghe rõ. Tôi nghe câu cuối cùng cụ đề nghị :
-.
Hai bên nên ngưng bắn nhau để cho chúng tôi đi băng bó những người bị
thương, chôn cất những tử thi nằm đường, nằm bụi gần cả nửa tháng nay.
Cụ còn yêu cầu :
-.
Nên tạm thời hạ cờ đỏ sao vàng đang treo ở cột cờ Phú Văn Lâu, để dân
chúng đi lại dễ dàng.
Hai ông lính nầy nhìn nhau
rồi cười với cụ Võ Thành Minh. Sau này cụ bị bắt và bị thủ tiêu ở đâu đó
không rõ. Chính Đại tá Tỉnh trưởng Lê Văn Thân có gặp
chúng tôi để hỏi tông tích. Ông Tỉnh trưởng có nói :
nếu ai tìm được thân xác cụ Minh sẽ được trọng thưởng. Tôi chỉ biết cụ Võ
Thành Minh bị bắt đêm 23 Tết, tại chùa Sư nữ Hồng Ân. Tôi đã bỏ học và tham gia
chương trình tìm thân nhân những thân xác mồ chôn tập thể của Tết Mậu thân gần
một tháng rưởi. Trước đêm cụ Võ Thành Minh ra đi, cụ có tặng cho tôi một cái máy
chữ rất xưa, hiệu Olympic. Ngày tôi vượt biên tìm tự do, nó còn nằm nguyên trong
tủ sách của tôi. Bây giờ nó ra sao thì không rõ. Họ đề nghị Thầy tôi tạm thời
thay thế mặt trận ra làm chức vụ Chủ tịch mặt trận tỉnh Thừa Thiên và Huế.
Thầy tôi trả lời
:
-.
Tui là thầy tu từ nhỏ, chữ nghĩa ít, không hay tham dự việc đời, làm răng
mà coi sóc việc dân trong một cái tỉnh to như ri ?
Hai ông sĩ quan
cứ cố nài Thầy tôi, rồi Thầy tôi lại thoái thác. Ngài viện cớ tuổi già sức yếu,
không thông thạo chuyện thế gian, . . . Câu chuyện đang dang dở, họ móc thuốc
mời Thầy tôi một điếu Salem.
Thầy tôi cầm lấy. Một tay cầm điếu thuốc, tay kia dùng hai ngón xe lui, xe tới
điếu thuốc nhiều lần mà không chịu châm lửa. Trong lúc hai ông bộ đội đã hút hết
nửa điếu.
Họ quẹt lửa và
mời Thầy tôi hút thuốc. Thay vì Ngài đưa đầu lọc vào miệng để hút như thường lệ,
thì ra mồi lửa. Thầy tôi dùng hết hơi mà hút, nhưng vì đầu lọc là một loại bông,
nên khi lửa vào nó co rút lại, không chịu bắt lửa để cháy ;
tuy nhiên, Thầy tôi cứ để vậy mà hút. Ông Trung tá bộ đội vừa cười vừa
bảo :
-.
Cụ hút sai rồi. Xin cụ đổi đầu lại.
Thầy tôi trả lời
:
-.
Tui không quen hút thuốc thẳng ni khi mô cả.
Ông bộ đội đổi
lại cho ngài một điếu mới và đưa thẳng vào miệng cho Thầy tôi, ông cũng tự tay
mồi lửa. Điếu thuốc cháy ngon lành. Thầy tôi khen :
-.
Thuốc ngoài Bắc đẹp, vừa trắng lại vừa gọn.
Một ông bộ đội
nói tiếp :
-.
Thuốc nầy là của đế quốc Mỹ đấy. Chúng tôi vừa mới tiếp thu được.
Nói xong, hai
ông bộ đội nầy ra ngoài cửa nói gì không rõ. Trở lại nói thêm đôi ba điều rồi
rút lui vào bóng đêm. Cụ Võ Thành Minh cũng bắt tay mấy ông bộ đội, từ giả hai
thầy trò chúng tôi, và ra đi vĩnh viễn không trở lại từ dạo đó. Sau khi họ ra về
hết, tôi đóng chặt cửa lại và thưa :
-.
Vừa rồi, Ôn hút thuốc thiệt hay.
Thầy tôi cười,
rồi bảo :
-.
Ông cũng biết ý tui ?
Thầy tôi nhoẻn
miệng cười chúm chím rất có duyên và từ từ trở về hậu liêu.
3.-
Thời Đất Nước Thống Nhất :
3.1.-
Khi đất nước vừa thống nhất độ gần một năm, chính phủ đương thời mời mỗi
một tôn giáo có mặt trên đất nước Việt Nam
phải có người đại diện để giao tiếp với chính quyền. Tại Thừa Thiên và Huế, Thầy
tôi họp chư Tăng toàn tỉnh và khuyến tấn nghiêm trì giới luật, cần chuyên Bố tát,
An cư. Thầy tôi còn khuyên Tăng Ni trở về con đường nông thuyền, vì hầu hết các
chùa, tự viện ở Thừa Thiên, Huế đều có ruộng đất do các thí chủ có tâm đạo nhiệt
thành cúng dường. Thầy tôi bảo để Ngài ra đảm nhận việc với chính quyền mà thôi,
ngoại trừ ông Tánh Nhiếp đã làm việc với họ ngay từ buổi đầu.
Có những trường
hợp đặc biệt mà chính quyền mời một số Tăng Ni có vai vế, thì Thầy tôi cũng có
những câu khuyên trong những lần Bố tát mỗi nửa tháng :
-.
Quý vị mần chi thì mần. Nhớ một điều là giữ cái niệm xuất gia đẹp lúc ban
đầu mới vô chùa. Quý vị cũng lớn tuổi cả rồi.
Thầy tôi nói đến
đây, thì ứa nước mắt, Đại chúng vô cùng cảm động.
Cứ thế, một ngày
như mọi ngày, Thầy tôi đều có mặt ở văn phòng Giáo hội tại Từ Đàm để làm điểm
tựa và niềm tin cho Tăng Ni và Phật tử bản tỉnh.
Chương trình hộ
khẩu cho các chùa đang gặp khó khăn. Chính quyền
địa phương cứ làm
khó dễ chùa như một chính sách làm cho giới Tăng Ni trẻ hoàn tục càng nhiều càng
tốt. Trước nguy cơ đó, một lần Thầy tôi họp ở tòa tỉnh, Ngài đứng dậy nghiêm
trang bảo :
-.
Chúng tui nuôi Tăng Ni là góp phần làm đẹp xã hội. Giáo dục tuổi trẻ có
nền học vấn khá cao. Một đất nước có trình độ văn hóa, đạo đức thì đất nước đó
mới nghiêm minh. Sao quý vị để các cán bộ xã thôn vào chùa thu cái ni, lấy cái
nọ, rồi còn bắt Tăng Ni trẻ phải về nhà, lấy cớ vì không có hộ khẩu. Ngày xưa,
chúng tui mang tiếng là Ngụy, nhưng nhà nước đâu có tệ nạn như vậy ?
Xin quý vị trong chính quyền tỉnh xét lại ?
Sau lần họp đó
và với sự phát biểu của Thầy tôi như thế, một chương trình hộ khẩu tại các chùa
được hợp thức hóa tốt đẹp. Tăng Ni trẻ không còn bị lo lắng cho thân phận đang ở
chùa, nếu còn tiếp tục con đường tu học và hành đạo.
3.2-.
Từ khi Thầy tôi trưởng thành cho đến ngày hầu Phật, Ngài luôn luôn ngọ
trai (mỗi
ngày chỉ ăn một bữa). Thầy
tôi luôn luôn để tâm vào hàng ngũ Tăng sĩ. Ngài đã từng khuyên :
-. “Đã Thầy tu thì đừng sợ chết, nếu
sợ chết thì đừng làm Thầy tu.”
-.
Chính lời nói nầy của Thầy tôi đã làm cho Tăng Ni và Phật tử kiên
trì trong lý tưởng, vững chắc trong hành động, phục vụ Đạo pháp và Dân tộc, đem
lại lợi ích cho loài người và tất cả chúng sinh. Cố Đại lão Hòa thượng Thích
Thiện Siêu đã nhắc lại lời nói vỹ đại và lịch sử nầy trước giờ phò Kim quan của
Ngài nhập tháp tại vườn thiền Trúc Lâm Đại Thánh tự. Câu nói lịch sử nầy không
những chỉ vang vọng trong chốn thiền môn, trong lòng Tăng Ni, Phật tử ở đất Thần
kinh, cố đô văn vật mà lan truyền khắp cả đất nước Việt Nam và mãi mãi ngàn sau...
*.-
Năm 1986, một phái đoàn thống nhất các
giáo phái Phật Giáo Nhật Bản đến thăm Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, do
ngài Yamada dẫn đầu. Ngài Yamada đã thân hành đến Huế, chùa Trúc Lâm, để
thăm và đàm đạo với đại lão ;
và đến Từ Đàm để thăm và đàm đạo với đại lão Thiện Siêu. Lúc trở lại
Thành phố HCM, trao đổi giáo dục với Thiền Viện Vạn Hạnh, Ngài Yamada đã phát
biểu :
“Đại
lão Mật Hiển có đôi mắt tuyệt sáng, đầy thần khí, và đàm đạo rất trí tuệ. Chúng
tôi có cảm nhận rằng linh hồn của Phật Giáo Việt
Nam
đang hiện diện ở Huế…”.
(Thích
Chơn Thiện, thuật lại)
Đây cũng cũng là hình ảnh đặc biệt thứ hai gần nhất trong những ngày cuối đời
của Thầy tôi. Chúng tôi chỉ ghi lại những gì nghe, thấy và biết tường tận không
thêm bớt như trên để cống hiến cho hậu bối tường lãm và có thể học và hành theo
được những gì trong sự hành hoạt của Thầy tôi.
Để kết thúc bài nầy, chúng tôi xin ghi lại vần thơ tưởng niệm :
Tám mươi
sáu tuổi với đời,
Dõi theo
thời cuộc Đạo, Đời tròn vuông.
Điển kinh,
giới luật am tường,
Tận tâm
Giáo hội, thẳng đường mà đi.
Tăng đoàn
một dạ khắc ghi,
Hết lòng
dìu dắt, chẳng nề khó khăn.
Một thân
sống giữa hồng trần,
Vừa Mật vừa
Hiển, muôn phần thuận duyên.
Từ ngày
phát túc siêu phương,
Tâm hình dị
tục, thẳng đường tiến lên.
Quê hương
đất nước mọi miền,
Bước chân
Ngài đến, bình yên lạ thường.
Bụi trần
chẳng bận, chẳng vươn,
Nhất tâm
bất loạn, vượt lên mọi điều.
Nơi nơi,
chốn chốn kính yêu,
Sang hèn,
phú quý cũng đều hoan ca,
Đến ngày
Phật đản nở hoa,
Xả bỏ Ta bà,
thẳng đến Tây phương.
Đệ tử
HOÀNG
NGUYÊN NHƠN
(xem tiếp)