Thành
Tâm Tưởng Niệm
ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG
THÍCH MẬT HIỂN
Cựu
Học Tăng
Thích Nguyên Siêu
(*)

bậc Thạch Trụ
Thiền gia, Tòng Lâm Mô Phạm
đã hưng khởi uy nghi, đức độ dưới vòm trời Sơn Môn xứ
Huế vào các thập niên 40-80, uy đức ấy mãi rạng ngời trong tâm thức người Phật
tử mỗi khi tưởng niệm về
Ôn - Đại Lão
Hòa Thượng Thích Mật Hiển.
Chúng con là đàn hậu học,
ít có cơ may được hầu Ôn, mà nhất là học Tăng của các Phật Học Viện miền trong.
Hơn nữa, chưa một lần được ra thăm chùa viện xứ Huế. Thời ấy, 1970-1975, chúng
con nghe và biết qua sách vở rằng : Huế
đẹp, Huế mộng mơ. Huế nên thơ nên xứ Huế có nhiều tao nhân mặc khách, hay Huế là
cái nôi, nắm rún thai nghén sinh thành Phật giáo miền Trung. Các Tự viện, Tổ
đình, Tòng Lâm, Sơn môn xứ Huế uy nghiêm, kính cẩn, phong kín nét thâm u cổ tự
mà nhiều thế kỷ qua cho đến bây giờ vẫn không phai nhạt theo thời gian mà lại
còn hiện thân một cách rộng rãi hơn nữa để đem đến cho mọi người một chiều sâu
tâm thức thuần hậu, kính cẩn khi nói về Phật giáo Huế, hay danh đức các bậc kỳ
Túc Thượng Nhân.
Huế được ca ngợi là đất
thần kinh văn vật, với cái đẹp thiên nhiên của đất trời ưu việt dành cho, từ
cảnh núi sông cẩm tú ấy đã sinh ra biết bao bậc Tôn Túc Thiền Gia, trong đó có
Ôn - Đại Lão Hòa Thượng Thích Mật Hiển.
Ôn hiện thân vào đời năm
Đinh Mùi, 1907, tại làng Dạ Lê Thượng, xã Thủy Phương, quận Hương Thủy, Thừa
Thiên. Từ đó, Ôn đã mang hành trang của người giác ngộ đi vào đời bằng hạnh
nguyện độ sinh.
Đọc lại dòng lịch sử của
Ôn, từ thuở thiếu thời - sơ tâm xuất gia, cho đến ngày hóa duyên dĩ tất, an
tường xả bỏ báo thân, thị tịch, qua 86 năm trụ thế, Ôn đã là hóa thân của một
Đấng Tôn Sư trong chốn Thiền môn để nhiếp hóa chúng Tăng, giữ gìn kỷ cương phạm
hạnh ; ngoài xã hội, Ôn là bóng đại thọ
tòng lâm che mát hàng nhơn thiên quy ngưỡng.
Lần đầu tiên chúng con gặp
Ôn tại Phật Học Viện Nha Trang và lần thứ hai tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam
Sài Gòn, chỉ thoáng nhìn qua thân tướng Ôn mọi người đã cảm nhận được bài thuyết
pháp vô ngôn qua thân giáo. Với dáng đi thong dong tự tại, thân hình thẳng tắp,
hai tay thả duỗi an nhiên, đôi mắt sáng quắc nghiêm nghị luôn nhìn thẳng vào
người đối diện, một ánh mắt ít người có được, ánh mắt tuy nghiêm nghị nhưng ẩn
tàng tấm lòng bao dung, từ hòa của đấng Cha lành lo cho đàn con mọn, của bậc Tôn
sư huấn thị hàng hậu học tương lai. Giọng nói của Ôn trầm hùng uy lực, dù chỉ là
cuộc nói chuyện bình thường, nhưng vẫn biểu hiện được nội chứng thâm hậu, khiến
người nghe phải đem tâm quy phục.
Chúng con còn nhớ :
Vào một
buổi chiều năm 1970, quý Thầy học Tăng Phật Học Viện Nha Trang, bách bộ trước
sân nhà, Ôn từ Chánh điện chùa Hải Đức đi lên cốc Ôn Già Lam trên đồi Trại Thủy,
khi đi ngang qua dãy Tăng đường, quý Thầy học Tăng thấy Ôn, nhưng không ai biết
là Ôn Mật Hiển từ Huế vào thăm Ôn Già Lam, Giám Viện Phật Học Viện Nha Trang, vì
thế quý Thầy cứ tự nhiên xem Ôn như một khách Tăng đến thăm viện. Nào ngờ, đến
8:00 giờ tối, Ôn Già Lam sai Thầy quản chúng, họp chúng tại cốc của Ôn, quý Thầy
học Tăng vân tập lên cốc Ôn Già Lam, thấy Ôn Già Lam ngồi ngang hàng với Ôn Mật
Hiển, nên mọi người hồi hộp và chấn động trước uy dung của Ôn. Ôn Già Lam nói :
-.
Các Thầy hãy đảnh lễ Ôn Trúc Lâm.
-.
Sao hồi chiều các Thầy thấy Ôn mà không
chào ? Tui buồn các Thầy quá, các Thầy ở
Phật Học Viện, thấy quý Ôn tới thăm viện mà không biết thưa hỏi.
Ôn Mật Hiển
ôn tồn tiếp lời Ôn Già Lam, từng chữ, từng lời thắm thiết :
-.
Tui tưởng quý Thầy biết tui, nhưng quý
Thầy không biết thôi thì đừng chấp trách. Tuy nhiên là người học Phật, cầu làm
Phật, và nơi đây đào tạo người làm Phật, quý Thầy phải biết, gặp quý Thầy dù lớn
hơn hay ngang hàng hoặc nhỏ hơn mình, tất cả đều nên chào hỏi thân mật. Ai thọ
giới trước mình một đàn thì đã lớn hơn mình rồi, đừng nói là quý Ôn Trưởng
thượng.
Rồi Ôn nói
nhẹ một câu :
-.
Ôn Già Lam làm Giám Viện chiều quý Thầy
quá.
Thì ra hồi chiều quý Thầy
học Tăng thấy Ôn mà không chào, nên Ôn nói lại với Ôn Già Lam và Ôn Già Lam họp
chúng để dạy bảo.
Từ tâm thức của bậc Sư
trưởng là muốn giáo dục toàn diện - là sự giáo dục con người thành bậc Thánh,
thành người mô phạm chân thân, là người đi trong cuộc đời mà không vấy nhiễm
thanh sắc, Ôn đã hiện bày cuộc đời Ôn qua hai phạm trù giáo hóa :
thân giáo và khẩu giáo, mọi người sống
nơi Sơn Môn xứ Huế đều biết rõ nếp sống đạo hạnh của Ôn.
Trong đời sống hằng ngày
của Ôn nơi tự viện là một bài học làm
“Thầy tu”
đầy lòng từ bi, trí tuệ, đầy sự hoành tráng uy nghiêm với tứ chúng, đầy sự nhiếp
phục và tùng phục của chúng Tăng pháp lữ, mà qua lời dạy của Hòa Thượng - Quốc
Sư Phước Huệ để trả lời cho đức Từ Cung khi được hỏi :
-.
Sau khi Hòa Thượng - Quốc sư Phước Huệ, về rồi, chúng con muốn học giáo
lý, kinh điển thì biết làm sao ?
Hòa Thượng
Phước Huệ trả lời :
-.
Sau này quý vị nào muốn học thêm kinh điển thì nên theo học với chú Hiển
(tức Hòa Thượng Mật Hiển bây giờ). Trúc Lâm
Thiền Phái Tại Huế. Trang 166, xuất bản 1993 - Tín Nghĩa.
Bấy nhiêu lời của Quốc sư
Phước Huệ, chúng ta thấy được đầy đủ những gì cần có nơi Ôn. Từ tánh đức trang
nghiêm, từ tướng thể tự tại, từ tâm ý thuần hòa, từ trí tuệ mẫn tiệp để dung
nạp, hoằng truyền giáo pháp tiếp dẫn hậu lai. Từ những đức tánh ấy mà Tổ Giác
Tiên đã thấy được một vị Tổ đức hóa thân vào đời kham nhẫn để phổ độ quần sanh,
quyền bày phương tiện lập hạnh tùy duyên : Nội
bí Thanh Văn, ngoại hiện Bồ Tát, mà Tổ đã truyền kệ phú pháp :
“Tâm
Hương pháp giới huân,
Xứ xứ kiết tường vân
Phú nhữ Tâm Hương tánh
Cừ kim chánh thị quân”
Để thấy được rằng, hương
thơm của tâm đã xông ướp khắp pháp giới, mà hương thơm của tâm, của người có đức
hạnh chính là hương thơm của giới đức, vì Phật dạy :
“Trong
tất cả các loại hương thơm của hoa Mạn Thù Sa, hoa Ma Ha Mạn Thù Sa, hoa Mạt Lị,
hay hương thơm của các loại hương chiên đàn, trầm thủy, không có một loại hương
thơm nào có thể bay ngược gió, chỉ có loại hương thơm của người giới đức mới bay
ngược gió tỏa ngát mười phương.”
Bằng giá trị này, Tổ đã mật
ý nơi Ôn tánh giới trang nghiêm, thanh tịnh thấm nhuần cùng khắp kết thành những
đóa tường vân mầu nhiệm, thanh thoát bao trùm, hàm dụng, nuôi dưỡng tánh đức Tâm
Hương - pháp danh của Ôn - trong ngôi nhà Phật pháp và được tôn xưng là bậc
Tướng quân trong hàng Chúng Trung Tôn.
Sư Bà Diệu Không, vì cảm
phục hạnh nguyện và quy ngưỡng tánh đức nhiếp dẫn chúng Tăng, làu thông kinh
luật của Ôn đã đề thơ ca tụng :
“Hòa
Thượng kim triêu ngoại thất tuần,
Hoa
niên xuất tục thậm gian truân
Trực
tâm nhất niệm kinh thường diễn
Phật
tánh viên dung luận quán quân...”
(sđd)
Đất thần kinh xứ Huế, ai
trong chúng ta đều biết, dù người chưa từng đặt chân lên xứ Huế, là nơi có nhiều
thắng duyên hội ngộ, là miền thánh địa của Phật giáo Việt Nam thời cận đại. Miền thánh địa này
đã viết nên trang sử bi hùng của Phật giáo qua thời pháp nạn, và hình ảnh quý Ôn
là sức sống miên trường, bất tận trong mọi tâm thức của nhiều thế hệ Phật tử, và
đã góp một phần nhân duyên từ đây, Phật giáo Việt Nam đã dựng lên ngôi nhà Phật
giáo Thống Nhất, mà hình ảnh Đức đệ Nhất Tăng Thống Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết,
chùa Tường Vân. Đức đệ Nhị Tăng Thống Hòa Thượng Thích Giác Nhiên chùa Thiền
Tôn. Đức đệ Tam Tăng Thống Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, chùa Thiên Mụ, đã trải dài
một chặng đường lịch sử Phật giáo uy hùng, đã băng qua và vượt trên mọi nguy nan
thời đại để tự sống còn mà hộ quốc an dân, xiển dương Phật pháp, góp phần thêm
bề dày cho dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam hơn 2000 năm qua.
Nếu bảo rằng các bậc kỳ túc
Hòa Thượng Trí Quang, Hòa Thượng Thiện Minh... là những vị đối ngoại, góp mặt
với thời cuộc thì Ôn Mật Hiển là người đối nội giữ vững rường cột Tăng già, là
xương sống ngôi nhà Phật giáo Huế. Hình tướng Ôn, tâm lượng Ôn là sức sống miên
mật, bền bỉ như một năng lượng dạt dào làm tươi mát hàng Tăng đoàn qua nhiều
thập niên ấy. Chính vì năng lượng sống đã kết thành tường vân, đã quyện thành
hương từ, đã giữ ngôi Tướng quân, đã tác thành chúng đức mà khi Ôn viên tịch, từ
Tăng Ni cho đến Phật tử tại gia ai cũng nức lòng thương tiếc để cảm thán nên lời
thơ công đức :
Hương
Từ Rừng Trúc
Đầu đà
giới hạnh nghiêm thông,
Đạo
phong cao ngất, trăng rằm trời thu.
Viên
dung phước huệ song tu,
Ngàn
năm còn hưởng Hương từ Trúc Lâm.”
(sđd)
Làn hương của lòng từ mẫn,
của lòng thương tưởng, bao dung độ lượng vẫn còn phảng phất trên từng chiếc lá,
nụ hoa, trên từng lối mòn quanh chùa rêu phong phủ kín, trên từng dấu ấn thời
gian tự thủa sinh tiền.
Suốt một đời hiện thân hóa
độ, công hạnh Ôn tương tác tương chỉ như pháp hiệu của Ôn - Mật Hiển - khi
phương tiện hiện bày thị oai trấn nhiếp thì Ôn Hiển lộ khí thế xung thiên mà áp
đảo tà ma quỷ mị, còn khi sách tấn dưỡng tâm tu đức thì Ôn Mật cảm khuyên răn,
từ tâm thương xót, tiếp độ người khế lý, khế cơ. Có khi, Ôn như Tiêu Diện Thiên
Vương, Hộ Pháp Già Lam, nhưng lắm lúc Ôn dịu hiền như Mẹ Quan Âm bơi thuyền từ
đưa người qua bể khổ. Hiển Mật viên dung, lý sự vô ngại mà Ôn thong dong tự tại
giữa bờ mê bến mộng bất phân sai thù. Chúng ta nghe Hòa Thượng Thiện Siêu nói về
Ôn :
“Làm sao chúng tôi quên được những tháng ngày đồng lao cộng khổ, chung lo Phật
sự, đạo phong của Hòa Thượng thì trác việt, nếp sống bình dị, nói năng khẳng
quyết hùng hồn
: “Đã là Thầy tu thì đừng sợ chết,
nếu sợ chết thì đừng làm Thầy tu.”
(sđd)
Từ đó, chúng ta hiểu Ôn đã
liễu tri sinh tử như mộng, vô thường như huyễn, có không như bọt bể đầu ghềnh,
thì có gì phải sợ. Sự sinh, sự tử nơi Ôn như là hiện thân hóa độ chúng sinh, khi
công viên quả mãn thì an nhiên tự tại ra đi, để tiếp tục con đường độ sinh vô
tận. Đó là Mật Hạnh của bậc Đại sỹ, là Hiển Thông của chư Thánh xuất trần.
Hơn ai hết, là những người
đệ tử thân cận, thấy rõ hạnh nguyện của Ôn, mà cảm thán nên câu đối :
*.
“Mật
tại ý trung, thiền đăng tục diệm ư chánh nhơn, tác tòng lâm chi mô phạm,
*.
Hiển ư tướng ngoại, tổ ấn cao quang ư thục quả, vi tứ chúng chi chiêm y.”
Hay :
*.
“Mật hạnh dụng thần lợi nhơn lợi vật ly trước tướng,
*.
Hiển
công viên tựu đương quán đương chỉ ứng Thiền cơ.”
(sđd)
Tạm dịch :
-.
Mật
ở nơi trong ý, làm chánh nhân tiếp nối ngọn thiền đăng, là khuôn mẫu nơi chốn
tòng lâm phạm vũ,
-.
Hiển là tướng bên ngoài, tựu
thành kết quả tổ ấn sáng soi, làm nơi nương tựa cho hàng môn đồ cùng tu.
Và,
-.
Mật tàng công hạnh, làm lợi ích khắp cả quần sanh mà không chấp tướng,
-.
Hiển lộ công phu, tu quán tu chỉ
để phù hợp mọi căn cơ Thiền.

(xem tiếp)