Trang Chính | Từ Đàm Hải Ngoại | Thiền Phái Trúc Lâm | Phật Pháp
Pháp Âm
| |Tin Tức Phật Giáo | Tổng Vụ Cư Sĩ | Tin Tức Sinh Hoạt |  Nối kết |  Hình ảnh | Video
Thư tịch H.T. Trí Chơn | Thư tịch H.T. Tín Nghĩa | Những Bài Đoản Văn
|  Vườn Thơ

Please press HOME to go back to the main web page

HOME

TÂM KHÔNG QUÁI NGẠI

KỶ YẾU ÔN MẬT HIỂN



 

 

TÂM KHÔNG QUÁI NGẠI

 

hay

 

ĐỨC BAO DUNG RỘNG LỚN

 

Ni Trưởng THÍCH NỮ VIÊN MINH

 

ăm 1939 và 1940 Ôn vào dạy Kinh ở Cái Tấn hạ thuộc tỉnh Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp), tại chùa bà Ba Sàng an cư ba tháng, tứ sự cúng dường bà lo hết.

 

            Nhưng học chúng quá tạp nạp, hơn 100 người đủ thành phần tu nội đạo ngoại đạo, thiếu oai nghi, đi đứng tự do, ăn xoài bỏ đầy dỏ, vỏ hột chưa đem đổ, ruồi xanh bu đầy.  Đi guốc dính bùn vào nhà tắm rửa chân quét bùn đầy sân vách. Vì vậy bà Ba Sàng không kính nể, gọi là con Điệu. 

 

            Các học chúng ấy tự động bỏ đi, không chào Thầy, không chào bà Ba Sàng một tiếng. Học chúng còn lại chừng 50 người đỡ tự do hơn, bà Ba Sàng có vẻ nể nang một chút, gọi là cô Điệu. Bốn vị Ni ở Huế gồm có :  Đàm Minh, Viên Minh, Đàm Tùy và Như Hường ;  các đệ tử Sư bà Diệu Tịnh chùa Hải Ấn, Phan Thiết như Huyền Tòng, Huyền Học, Huyền Căn v..v... Các cô ở các chùa lục tỉnh như Vĩnh Long, An Giang v..v... đều đã làm Tri sự, Thủ chúng v..v... nên bà Ba Sàng có phần nể vì. Nhất là đối với Ôn Trúc Lâm, bà Ba Sàng tận tâm cung kính.

 

            Một hôm Ôn đi cúng thí thực với chú tên Khách đệ tử Ôn ở chùa Vạn An. Khi Ôn xướng tụng thì giọng Thuyền (thiền) đều đều, đến lược chú Khách thì hét to như quát nạt, Ni chúng đứng hai bên trợ niệm khi tụng, đều giật mình, có vài ni cô tức cười quá bỏ chạy ra ngoài, lần lần tức cười rồi cũng bỏ chạy đi hết. Vậy mà Ôn thảng nhiên cứ tụng một mình không sao cả. Không có vẻ gì quát lạ chú Khách, cũng không buồn phiền, tức giận khi chúng bỏ đi hết. Thế cho biết tâm Ôn rất định tỉnh, không chao động vì tâm chúng sanh, chỉ nhất tâm tụng cho lợi lạc chúng Cô hồn

 

            Ở chùa Vạn An :

 

            Ôn nghe Luật cho Ni chúng ở chùa bà Ba Sàng, an cư ba tháng xong thì lên chùa Ôn Vạn An ở Cái Tân Thượng chín tháng, Ôn ở một cái nhà nhỏ cạnh chùa tiếp phòng giảng dài rộng. Đến nhà sàn chúng ở, nhà sâu rất dài làm bằng tấm gỗ mỏng, giữa là đường đi cũng trên gỗ cách mặt đất chừng một mét, rộng một mét rưởi. Hai biên là cao hơn chừng 90 phân tây (0m90), cũng lát gỗ dài làm giường cho chúng nằm, bề ngang chừng hai mét, sát vách cũng làm bằng gỗ, mắc mùng sát nhau, vừa đủ cho một người một khoảng. Khi học thì vắt mùng lên để ngồi trên giường mà học.

Mỗi người có một cây đèn dầu nhỏ, vì khi ấy chưa có điện. Khi mọi người đi trên ván nên phát ra tiếng rất ồn. Đồ đạc thì để cuối giường, còn kinh sách thì để đầu giường. Thế thôi.

 

            Ôn dạy kinh Lăng Nghiêm Trực Chỉ, Phật Tổ Tam Kinh toàn bằng chữ Hán, buổi sáng mỗi ngày hai giờ. Buổi chiều tối dạy Cảnh sách giải cũng khoảng đó. Chúng học rất chăm chỉ, chỉ lớp nhỏ sau thì chữ Hán còn kém, nên hỏi tôi suốt ngày. Còn Lăng Nghiêm Trực Chỉ, Sư bà Huyền Học rất giỏi, biết hỏi Ôn những chỗ khó hiểu, dầu buổi tối, cũng xách đèn đi với chúng hỏi Ôn cho được, làm Ôn phải bưng đèn lớn đi ra lớp học mà giải cho họ.

 

            Chỗ Ôn nghỉ cuối đường sát với vựa lúa của chùa, có một hôm Ôn nghe tiếng động trên vựa lúa, Ôn nói ai ở trên đó xuống đây.

 

            Nghe tiếng đáp lại :  Dạ con, con ở trên đây để rình kẻ trộm !

 

            Ôn dạy :  Rình kẻ trộm thì rình phía dưới bên chùa, chứ bên ni có chi mà rình ? 

 

            Ôn hiểu là họ rình mình đó thôi.

 

            Còn chỗ Ôn nằm sát cửa sổ, Ôn mở ra cho mát, họ thò dao rách một đường nơi mùng để dọa Ôn, Ôn không sợ. Ôn nghĩ mình là tu hành có Long Thiên Hộ Pháp ủng hộ. Nghĩ vậy nên Ôn cứ để vậy. Cứ nằm mở cửa mà ngủ tự nhiên, không hề sợ sệt tí nào.

 

            Còn điệu Nghiêm hầu Ôn hay bỏ đi chơi, Ôn gọi về la và đánh điệu.

 

            Họ lại nói :  Ông thầy tu chi mà dữ dằn hay đập điệu. Họ bênh điệu mà cho Ôn, ông thầy tu chi mà quá tay, mình phải thỏ tử thì hồ bi chớ. Vì vậy mà Ôn cho điệu về Huế trước Ôn.

 

            Họ lại nói Ôn mặc áo nhựt bình dài luôn tốn vải, xài lớn ;  không bằng họ mặc áo cụt đỡ tốn hơn.  Tánh Ôn phóng khoáng tự nhiên, họ lại nói Ôn không tu.

 

            Được bốn tháng, Ôn phải ra Huế có việc, khi Ôn vào thái độ của họ đã khác hẳn. Ôn ở trong liêu coi kinh sách, đến giờ khai chuông học, Ôn mặc áo tràng lên thẳng bàn mở kinh ra dạy ngay, họ lén đến độ mười người ngồi dưới đất chùa nghe Ôn giảng kinh mà im phăng phắc. Họ kính trọng Ôn khác hẳn thời gian trước đây

 

            Qua năm tháng nữa bãi trường, Ôn đã nghe xong bộ kinh, sửa soạn ra Huế, họ đồng thỉnh Ôn ở lại nghe kinh cho học chúng và cho bọn họ.

 

            Ôn dạy :  Ở Huế nhiều Phật sự hơn trong nầy, Giáo hội mời Ôn về nên Ôn phải về.

 

Cứu ngưòi nạn khổ :

 

            Năm 1947, tôi ở trên chùa Khải Ân với Sư cô Diệu Quang, Diệu Minh, bà Tâm Châu và chị Mai.

 

            Sáng hôm đó chị Mai chạy vào báo tin sao thấy người trên Tuần chạy xuống nhiều lắm, họ bảo chạy trốn đi kẻo bị Tây bắn, họ (lính Tây) đương đạp đổ hàng quán chợ Tuần, đốt nhà tan hoang.

 

            Chúng tôi chạy hốt hoảng. Năm người chạy đi ba nẻo. Cô Diệu Quang bà Tâm Châu gánh một gánh tương chao, gạo muối chạy xuống đò qua bên kia sông. Sư cô Diệu Minh, chị Mai chạy về chùa Trúc Lâm, tôi đeo một cái tơi lá, một cuốn Luật và Y, chạy ra sau chùa qua làng sau phía hói bằng một cái cầu khỉ bắc ngang bằng ba cây tre, với một tay vịn bằng một cây tre. May cho tôi vừa qua khỏi thì họ chặt cầu, sợ Tây qua.

 

            Không hiểu sao nhà nào cũng vắng, không có người nào, tôi một mình ngồi niệm Phật. Một lúc nghe tiếng trống bên chùa, rồi lặng thinh, thấy lửa

 

            cháy lên, một lúc sau người trong xóm chạy về họ nói, cô gan thật, sao dám ngồi trong nhà ?  Tụi tui sợ Tây bắn, đều phải ra trốn núp sau độn cả. Họ nói cô cứ ở đây một tháng, đừng về chùa vội, gặp Tây thì khốn. Nhưng qua hôm

 

            sau có một chị qua nói :  Cô về ngay, có một Thầy và hai điệu vào chùa hỏi tôi đang xin lúa cháy của chùa để về xay mà ăn.

 

            Thầy còn hỏi :  Mấy người ở chùa đi đâu hết ?

 

            Tôi nói :  Không biết, chỉ biết có một cô chạy qua xóm sau tôi thôi.

 

            Vậy, Cô về đi . . . Tôi chạy ra, cầu bị chặt mất rồi, phải nương theo ven núi cạnh khe nước sâu về chùa rất nguy hiểm, vì không còn đường nào khác.

 

            Về đến nơi, thấy Ôn và hai điệu gùi hai bị gạo, bí mướp, ... Tôi chào và xin phép Ôn vô coi lại chùa.

 

            Ôn dạy :  Đừng vô nữa, chuông trống, tượng Phật, Tây chở đi bỏ mô hết rồi, chỉ còn cái xác chùa cháy tan hoang. Tôi (tức Ôn Trúc Lâm)            và hai điệu gùi gạo và đồ ăn qua bên kia sông cho mấy thầy trò Sư bà Diệu Không đây. Bến đò gần chùa Trúc Lâm họ đòi mắc quá, tôi không đi, lần lên mấy bến trên cũng vậy, tôi liền đi thẳng lên bến đò Tuần, qua đây ghé vào chùa xem, mới biết tan hoang như vậy. Thôi đi qua với Sư bà Diệu Không.

 

            Qua bến đò Tuần, men theo đường bờ sông gần điện Hòn Chén là nhà mát của cụ Thượng bà con với bà Tâm Nhu, gặp thầy trò Sư bà Diệu Không và đông người tản cư lắm. Ôn biểu tôi và hai điệu ở lại đó, còn Ôn về lại Trúc Lâm.

 

            Nhưng được một ngày lại nghe tin lính Pháp đã qua sông, nên mọi người không dám ở trong nhà đông, bèn di tản vào vùng núi sâu hơn để tránh đạn. Riêng chúng tôi mới đi một quảng, cạnh quán bán bên đường liền nghe tiếng súng, không dám đi tới nữa, đành ngồi xuống. Thế mà Sư bà Diệu Không và bốn người không bị đạn, còn chị Mai chết, tôi bị gãy xương đùi, cô Diệu Minh bị xoẹt trên đầu, bà Thị Nam bị thương ở ngón chân cái. Ông chủ quán và heo gà thì không sao. Một chập, Tây ngưng bắn, chúng tôi chôn vội xác chị Mai sau hè quán. Chôn chị Mai xong, chúng tôi lấy mền nỉ buộc chặt hai đầu, lấy ống tre dài bỏ vào giữa, hai điệu nhỏ cáng tôi đi. Đi vào sâu gần núi Kim Phụng, gặp được một cái lều lợp bằng cỏ tranh tươi của Ôn Từ Hiếu và thầy Sự Diệp ;  Ôn để lều cho mấy chúng tôi, còn thầy Sự Diệp đưa Ôn vào xa hơn nữa.

 

            Ôn rất cảm động khi thấy chúng tôi bị tai nạn. Ôn không làm gì được, Ôn chỉ còn hai trăm đồng, liền lấy ra cho chúng tôi ngay. Thầy Sự Diệp lấy bốn khúc gỗ dài để làm áng, xức thuốc đỏ, lấy băng trắng cột trong cột ngoài cho tôi ;  không biết tại sao mà lúc nầy thầy lại có những vật dụng đặc biệt ấy. Đoạn Thầy đưa Ôn vào núi xa hơn, Sư bà Diệu Không cho cô Tân và hai điệu vào núi theo Ôn, vì đông quá không đủ lương thực và chỗ ở.

 

            Tối hôm đó, từng nhóm tản cư, mỗi nhóm thắp một cây đèn dầu nhỏ, lập lòe như ma trơi. Nhóm tôi bốn người ở gần khe nước, sợ cọp ra uống nước vọt lên, nên lấy mãnh thùng đánh lớn để cho cọp sợ mà chạy đi. Sư bà Diệu Không có mang theo cuốn kinh Kim Cang, nên lấy ra cùng nhau tụng.

 

            Nửa đêm bổng nghe gọi :  Điệu Trai, điệu Bình ơi !

 

            Sư cô Diệu Minh đáp :  Dạ có con đây.

 

            Ôn Trúc Lâm đi tới, sau đó chị Hương con ông Hường Thiệu bưng ca-mèn cháo đậu và nước đậu ván đựng trong phích. Ôn bảo múc cháo cho mọi người ăn, đem ca-mèn về, Tây họ đi lùng thấy được sẽ bị bắn tại chỗ. Ôn nghe tin, lại qua biểu phải về, thuê hai cáng, bốn người cáng tôi và bà Thị Nam ;  nhưng sau hai người phải đi cáng bà con của họ, chỉ còn lại một cáng. Ôn phải đi trước cho hai người cáng tôi ra bến đò, cô Diệu Minh đi sau. Ôn bảo cô Diệu Minh ngồi canh tôi, vì tôi nằm dưới đất, sợ người tản cư về và trâu đạp phải lên tôi. Còn Ôn thì phải đi theo hai người vào cáng bà Thị Nam ra, có Sư bà Diệu Không cùng đi nữa.

 

            Ra đến nơi thì trời tối, Ôn bảo không được một ai bật lửa (bích-kê) hay diêm, vì sợ Tây thấy sáng họ sẽ bắn ngay lập tức.

 

            Khi đò tới, Ôn và mọi người xuống đò, lúc nầy bà Thị Nam phải ráng đi, vì đường đi dễ hơn đi ở trong núi. Qua đò Tuần rồi về chùa, lúc nầy phải thắp đuốc lên mới thầy đường để đi. Tây biết dân chúng trở về nên không bắn, chỉ bắn cầm chừng vài tiếng thôi. Dần dần cứ thế mà trở về chùa Trúc Lâm.

 

            Nói thẳng không sợ mất lòng :

 

            Câu chuyện này là chính Ôn kể lại.

 

            Có ông cán bộ nhà nước hỏi Ôn :   Đức Phật và Bác thờ chung nên sắp thế nào ?

 

            Ôn đáp :  Đức Phật là xuất thế gian Thánh nhơn. Bác nếu cao lắm cũng chỉ là thế gian thánh nhơn thôi. Nếu thờ chung, Bác phải dưới đức Phật, nhưng, chỉ đứng một bên thôi. Nhưng đức Phật đã có hai vị Bồ tát đứng hầu hai bên là ngài Văn Thù và Phổ Hiền hay tổ Ca Diếp và A Nan. Tốt hơn là ta thờ Phật riêng, Bác riêng một bàn, là ta trọn lòng tôn kính, không mất lòng ai cả.

 

Ông cán bộ nghe xong, vui mừng nói :  Chính tôi là cán bộ mà cũng nhận thức như Ôn, nhưng vì tôi là cán bộ, nên hỏi ai cũng nói loanh quanh không thực tâm, nên mới hỏi Ôn cho quyết định rõ ràng.

 

            Đối với đệ tử nhỏ lớn :

 

            Các điệu Ôn rất thương, bày vẽ từng chút một. Nhất là khi tụng Kinh công phu, Ôn dạy tụng tự nhiên, tụng cho lớn tiếng. Nên khi ta nghe các điệu tụng kinh rất tức cười, tụng to mà tiếng tự nhiên như gây lộn, Ôn bảo không sao, cứ thế rồi lớn lên tự nhiên tiếng sẽ thuần lại và thiền. Công việc làm thì Ôn chỉ vẽ từng chút. Còn các thầy đã thọ Tỳ kheo giới thì Ôn rất ít dạy bảo, la rầy, vì Ôn cho đã có giới pháp của Phật dạy các thầy mỗi tháng tụng một lần, cứ theo đó mà giữ gìn. Tình thầy trò do đó mà yên thấm, đậm đà, không ai phiền trách Ôn là quá nghiêm khắc.

 

            Đối với bệnh nhơn nhỏ lớn :

 

            Con nít bị bệnh sài mòn, quan sát, la khóc, bỏ ăn mất ngủ, khóc cả ngày lẫn đêm. Họ đều tìm đến Ôn để nhờ cha trị. Ôn chỉ chú nguyện, rồi đưa cho một cái áo màu vàng có đóng dấu ấn của Phật, bảo đem về mặc cho nó. Ít lâu họ đến cám ơn Ôn, cháu đã lành, vui vẻ, ăn được ngủ được.

 

            Còn đối với người lớn, như đàn bà điên thì Ôn không chữa được. Vì nghiệp báo của họ nặng nề, Ôn không đủ khả năng trị, mà chữa trị một cách miễn cưỡng thì có khi trở lại hại cho Ôn, nên Ôn từ chối.

 

            Cứu lụt lớn năm 1953 :

 

            Năm 1953, trận lụt rất lạ, cả thành phố Huế không sao, chỉ có vùng thấp quanh chùa Hồng Ân đều bị lụt, do con nước lớn từ trên Tuần đổ về như thác, chảy không kịp nên ứ đọng và trào dâng lên cao thành lụt quá lớn.

 

            Trong chùa có bốn người :  Cô Diệu Thanh dọn dưới bếp, cô Diệu Quang lo dọn trên chùa, tôi dọn nhà giữa, điệu Hiền thì quá nhỏ, chẳng làm gì được đứng cạnh bên tôi. Tôi đem những chiếc chiếu làm thành một đống để lên sập, nước cứ lên cao, hai thầy trò không tính chuyện chạy thoát thân, cứ thế kê cao lên mà đứng. Tôi liệu tính, nếu nước lên nữa thì cả hai thầy trò leo lên nóc nhà mà ngồi.

 

            Ôn Trúc Lâm biết là lụt to, bên chùa không biết có những ai ?  Không biết mấy thầy trò có lo mà chạy không ?  Ôn liền gọi mấy Phật tử gần chùa là anh Kê, anh Bông, anh Đàng chạy qua Hồng Ân bảo quý cô chạy lụt đi, nước lớn sẽ chạy không được. Quả nhiên ba vị chạy qua đến chùa biết Sư bà Diệu Không và cô Diệu Hoa đi khỏi, trong chùa chỉ có ba chúng tôi là lớn và điệu Hiền nhỏ. Họ bảo chúng tôi chạy đi, nước lớn sẽ không chạy được. Chúng tôi nói, nếu nước lớn thì bò lên nóc nhà mà ngồi. Ba anh em bảo nhau, thôi chúng mình chạy, kẻo không kịp. Nghe họ nói thế, chúng tôi sanh tâm sợ sệt, tôi mới gọi hai cô trên chùa và dưới bếp lên, rồi chúng tôi bốn người lớn nhỏ cùng với ba anh chạy qua chùa Trúc Lâm. Lúc ấy nước đã lên gần ngập đầu rồi mới chạy.

 

(xem tiếp)

 

Please press HOME to go back to the main web page

HOME







TỔ ĐÌNH TỪ ĐÀM HẢI NGOẠI
615 N. Gilbert Rd., Irving, Texas 75061-6240, Tel.: (972) 986-1019, Fax: (972) 790-5855  *USA*
Email: tudamhaingoai@yahoo.com  -  Website:  www.todinhtudamhaingoai.net