“Ôn Trúc Lâm”
Tâm Hằng
NGUYỄN ĐẮC XUÂN
úc
mới lui tới cửa Phật
(cuối những năm năm mươi thế kỷ trước),
tôi đã nghe nói trong lịch sử Phật Giáo ở Thuận Hóa Phú Xuân có câu :
“Quảng Trị
Trung Kiên - Thừa Thiên Dã Lê”.
Nhưng mãi về sau đi sâu vào con đường nghiên cứu lịch sử văn hóa Huế tôi mới
hiểu làng Dã Lê của tôi là ngôi làng có nhiều vị xuất gia trở thành danh tăng số
Một ở Thừa Thiên - Huế. Vị danh Tăng đầu tiên tôi được biết là nhà sư Nguyễn Văn
Quý - trụ trì chùa Pháp Vân
(chùa Khoai)
bị vua Tự Đức xử
trảm vì tội
làm tham mưu cho anh em Đoàn Trưng - Đoàn Trực tiến hành cuộc biến động
(giặc
Chày Vôi) lật đổ vua Tự Đức không
thành năm 1866. Vị danh tăng thứ hai là Ngài Huệ Minh
(húy là Thanh
Thái, họ Nguyễn, 1861-1939) - vị tổ
thứ tư của Tổ đình Tứ Hiếu, vị danh
tăng thứ ba là Hòa thượng Giác Tiên
(cũng họ
Nguyễn, 1880-1936) -
Tổ khai sơn Tổ
đình Trúc Lâm và là Một trong những vị Tăng già sáng lập và Chứng minh Đại đạo
sư An Nam Phật học Hội nổi tiếng ở miền Trung hồi giữa đầu thế kỷ XX.
Người thứ tư là Ni trưởng Diệu Hương
(họ Nguyễn,
năm 16 tuổi nhập cung và được phong làm Mỵ Tân triều Thành Thái, sau năm 1907
vua Thành Thái bị đày, bà xuất gia),
bà là người sáng lập và tọa chủ Ni trường Diệu Đức, có hàng trăm ni cô ở Huế và
miền Nam
về tu học và thành tài. Ngày nay đề cập đến các bậc danh tăng người Dã Lê người
ta thường nhắc đến
“Ôn Trúc Lâm”
- Thích Mật
Hiển
(cháu của
Ngài Giác Tiên, 1907-1992), trụ trì
chùa Trúc Lâm.
Tôi
được gặp
“Ôn Trúc Lâm”
lần đầu khi bắt đầu tham gia cuộc Vận động của Phật giáo chống chính sách kỳ thị
Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm hồi mùa hè năm 1963.
“Ôn Trúc Lâm”
không trực tiếp lãnh đạo Đoàn Sinh viên Phật tử chúng tôi, nhưng chúng tôi rất
sợ ôn. Hình ảnh đầu tiên
của ôn ấn vào tâm trí tôi
là ôn có cặp mắt sâu rất đẹp, ôn lại là vị tăng già hiếm hoi tự mình lái xe
riêng đi hoằng pháp. Trong những ngày tranh đấu bị bao vây ở chùa Từ Đàm tôi
nghe các bạn tôi kể nhiều chuyện về ôn. Nào là ôn từng được Hòa thượng Giác Tiên
đưa vào Đại nội học tập, mới học được một năm ôn bỏ về tu học tiếp với các thầy
của mình. Thế nhưng sau khi ôn trưởng thành ôn lại được Triều Nguyễn sung chức
Tăng can nhận lương của Triều đình về trụ trì ngôi quốc tự Thánh Duyên núi Túy
Vân. Ôn rất đa tài. Ôn không học cơ khí sửa chữa ô-tô mà ôn có thể tự tháo ráp
máy móc của chiếc ô-tô của ôn một cách dễ dàng. Ôn lái xe lên về chùa Từ Đàm
hằng ngày như một thanh niên lái xe chuyên nghiệp. Nhiều hôm chùa bị bao vây, ôn
vẫn lái xe vô ra tự nhiên. Có lần cảnh sát dã chiến của chính quyền Ngô Đình
Diệm đón xe ôn lại, ôn trừng mắt nạt cho vài tiếng chúng cũng sợ phải để cho xe
ôn đi lại bình thường. Có khi bọn sinh viên chúng tôi phải “quá giang”
xe của ôn để ra ngoài. Những năm đầu thập niên sáu mươi, nhiều anh em sinh viên
chúng tôi chưa có xe đạp, nhiều vị tăng già hằng ngày phải cuốc bộ hằng mấy cây
số để đến chùa tham gia tranh đấu thế mà ôn đã có xe hơi riêng thì thật là sang.
Nhưng chiềc xe đen con cóc của ôn, không phải do ôn mua mà xe của một phật tử
nào đó cũ quá không sửa được định vứt vào bãi tha ma thì ôn xin kéo về, ôn tự
sửa, tự thay thế những phụ tùng cũ để xe có thể chạy được bình thường. Và, chính
ôn đã tự tay sơn đen chiếc xe láng cóng. Bọn sinh viên xuất thân nhà quê chúng
tôi rất phục tài cơ khí của ôn. Ôn cũng nghiên cứu triết lý Mật giáo và nhiều
lần ôn đã vận dụng Mật giáo vào việc chữa bệnh tâm thần cho Phật tử. Nhiều người
đến nhờ ôn chữa bệnh, nghe ôn thét vài tiếng con bệnh hoảng hồn tỉnh lại ngay.
Có người còn bảo tôi có lần ôn còn đánh con bệnh bằng roi nữa. Cũng có bạn kể ôn
rất giỏi võ.
“Một mình Ôn có thể đánh lui năm bảy người”.
Trong cuộc tranh đấu hồi
mùa hè năm 1963, chúng tôi nghĩ thế nào cũng bị lực lượng võ trang của gia đình
họ Ngô tấn công nên khi biết có một vị lãnh đạo tinh thần của mình giỏi võ như
ôn Trúc Lâm tôi rất tin tưởng.
Tất cả những chuyện ấy tôi
chỉ nghe chứ chưa bao giờ có điều kiện thẩm tra. Qua một vài lần gặp ôn đầu
tiên, tôi đã thấy rõ tính của ôn rất thẳng thắn. Ôn rất quý bọn sinh viên tranh
đấu nhưng mỗi lần chúng tôi có những hành động quá khích, ôn la cho một trận nên
thân. Có khi ôn nói mà bọn tôi vẫn đi sai đường lối
“bất bạo động” ôn dọa sẽ đánh đòn.
Trong những năm tranh đấu từ 1963 đến năm 1966 ấy, tôi thuộc lọai sinh viên
“ắc-típ”
(actif) cùng với các bạn Tôn Thất Kỳ,
Nguyễn Trực, Nguyễn Văn, Nguyễn Thiết, Lê Minh Trường… hay tổ chức biểu tình,
đấu tranh bạo động nên ít khi dám gần ôn.
Lần đầu tiên chúng tôi được
gặp ôn thân tình nhất lại diễn ra ở chùa Trúc Lâm. Hôm ấy
(khoảng tháng
7-1963) Sư bà Thích nữ Diệu Không vừa
ở Sài Gòn về. Chúng tôi được mời lên chùa Trúc Lâm ăn cơm chay và nghe Sư bà
thông báo tình hình tranh đấu của Phật giáo ở Sài Gòn. Cái thông tin làm cho
chúng tôi xúc động nhất là chuyện Sư bà Diệu Huệ
(chị ruột của
Sư bà Diệu Không, mẹ của nhà bác học Bửu Hội)
đang chuẩn bị tự thiêu nếu chính quyền Ngô Đình Diệm không chịu thực hiện 5
nguyện vọng của Phật giáo. Trong lúc đó cũng có tin chính phủ Diệm vừa mời nhà
bác học Bửu Hội ở Pháp về cấp cho ông một số tiền lớn để ông làm
“đại sứ” của chính phủ đi
“giải độc” dư luận trong nước và quốc
tế rằng
“không có
chuyện chính phủ Diệm kỳ thị Phật giáo”. Tôi xin Sư bà giải thích
dư luận ấy. Sư bà bảo chuyện đó có nhưng Bửu Hội có thực hiện yêu cầu của ông
Diệm đi ngược lại ý nguyện của mẹ mình không thì thời gian sẽ trả lời.
Ôn Trúc Lâm bảo tôi :
-.
“Có chuyện các chú được biết và cũng có chuyện các chú chưa được biết.”
Lúc đó tôi rất tự ái, nhưng
Nam-mô A-di-đà Phật, tôi phải nghe lời tăng không dám cãi lại. Về sau nầy tôi
hỏi Sư bà Diệu Không chuyện tháng 7-1963 sinh viên không được biết là chuyện gì.
Sư bà bảo :
-.
“Đó là chuyện Bửu Hội lợi dụng vai trò đại sứ của chính quyền ông Diệm bí
mật giúp đem ra thế giới hàng chục ký-lô hồ sơ của Phật giáo. Nhờ thế mà Liên
hiệp quốc, Tích Lan, Hoa Kỳ biết rõ cuộc đàn áp Phật giáo của chính phủ ông
Diệm”.
Thật lòng, sau khi Sư bà
cho biết như vậy tôi hơi ân hận. Vì đã có nhiều lần chúng tôi lên án Giáo sư Bửu
Hội.
Sau năm 1975, thỉnh thoảng
tôi vẫn lên về chùa Trúc Lâm. Tôi không phải lên
để làm phật sự mà để hỏi chuyện Ôn Trúc Lâm về những vấn đề liên quan đến lịch
sử văn hóa Thuận Hóa - Phú Xuân, và nhân đó tôi hỏi lý do vì sao Sư bà Diệu
Không hay tổ chức gặp mặt sinh viên chúng tôi ở chùa Trúc Lâm mà không tổ chức ở
chùa Hồng Ân gần đó.
Về cái
“lý do vì sao”
nầy ôn giải thích vui rằng : “Chùa
Hồng Ân là chùa nữ ai cho mấy chú tới !”
Sự thật thì không phải như
vậy. Lý do chính là do mối quan hệ lịch sử của Sư bà Diệu Không với chùa Trúc
Lâm.
Người lập ra chùa Trúc Lâm
trên đất thuộc thôn Thuận Hòa, làng Dương Xuân Thượng là bà Hồ Thị Nhàn
(1863-1925)
tức Tỳ-kheo-ni Diên Trường. Bà là cháu ngọai Tùng Thiên Vương, em ruột cụ Thượng
Hồ Đắc Trung, cô ruột Sư bà Diệu Không. Không những đất vùng chùa Trúc Lâm của
cụ Thượng mà đất từ chùa Hồng Ân ngày nay lên đến đất Tu viện Thiên chúa giáo
Thiên An cũng thuộc về gia đình Hồ Đắc. Lúc đó phụ nữ chưa được đứng tên khai
sơn chùa, ni sư Diên Trường phải xin bổn sư của mình là ngài Tâm Tịnh cử Đại sư
Giác Tiên người Dã Lê vào làm vị khai sơn chùa Trúc Lâm, còn Ni sư chỉ
“xin y chỉ của
Thiền sư ở đó tu học”. Khi mới trên dưới mười tuổi, cô Hồ Thị Hạnh
(sau
nầy là Sư bà Diệu Không) hay lên thăm
và ở lại với cô Nhàn
(tức Ni sư Diên Trường)
tại chùa Trúc Lâm. Nhờ thế mà cô Hạnh đã nhuốm mùi thiền từ đó. Lúc ấy ở chùa có
chú tiểu Nguyễn Duy Quảng
(sau nầy là Hòa thượng Thích Mật Hiển thường gọi là
Ôn trúc Lâm - cháu của Ngài khai sơn Giác Tiên)
nhỏ hơn cô Hạnh vài tuổi. Chị em thường gặp và thân nhau dưới một mái chùa.
Từ buổi thiếu thời, ôn Trúc
Lâm được gia đình cụ Hồ Đắc Trung xem như người trong họ hàng. Vì thế ôn biết
nhiều chuyện trong gia đình Hồ Đắc. Biết từ chuyện quan hệ họ hàng thân thuộc
cho đến chuyện quan trường, chuyện lịch sử có liên quan đến gia đình họ Hồ. Nhờ
biết thế tôi không còn thắc mắc về chuyện Sư bà Diệu Không xem chùa Trúc lâm như
chùa riêng của Sư bà nữa.
Và, cũng từ đó, đối với tôi
: Ôn
Trúc Lâm là một pho lịch sử sống về Huế.
Trong bộ hồ sơ tài liệu
lịch sử Thuận Hóa - Phú Xuân của tôi có hai tư liệu quý do Ôn Trúc Lâm kể :
Tư liệu thứ nhất :
Nói về lịch sử Bản Kinh Kim Cương thêu
trên gấm đời Cảnh Thịnh, dài 4m47, rộng 0m243,
Bản văn thêu có đến trên dưới 7.000
chữ Hán gồm có 3 phần :
Phần đầu là hai bài tựa của hai vị vua
Việt Nam viết về quyển kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật của nhà Phật
(khoảng 1.500
chữ), phần thứ hai thêu nội dung bản
Kinh (khoảng
5.000 chữ), phần ba nói về người và
công việc thêu bản kinh. Bản Kinh được thêu xong vào cuối thời Cảnh Thịnh
(1792-1801), đặt trong một cái hộp bằng gỗ trầm hương, kèm theo một con dao bằng
ngà và một chiếc quạt xếp nan gỗ. Hộp Kinh được thờ ở chùa Thầy -
ngôi chùa được xây dựng từ thới Lý trên đất Quốc Oai tỉnh Hà Tây
(cách Hà Nội
chừng 30 Km).
Thời Nguyễn, bản Kinh bị
tịch thu đưa vào Huế. Đây là một hiện vật ra đời thời Tây Sơn đáng lẽ nó bị hủy
bỏ, nhưng nhờ là một bản Kinh Phật, các vua Nguyễn - đặc biệt là các bà trong
Cung Nguyễn rất mộ đạo Phật nên xin giữ lại và đưa vào thờ tại Phước Thọ Am -
ngôi chùa Phật dành riêng cho các bà sống chung quanh Cung Diên Thọ. Mãi đến
thời vua Khải Định, không rõ do đâu bản Kinh
“xuất cung” rồi lọt vào tay một nhà
giàu ở Huế. Các vị hòa thượng biết chuyện đó nên khuyên Sư bà Diệu Không tìm
cách chuộc lại báu vật ấy cho Phật giáo. Sư bà Diệu Không - con quan đại thần Hồ
Đắc Trung, đã bỏ ra 250 đồng bạc Đông Dương thỉnh Bản Kinh Kim Cương thêu trên
gấm ấy về giữ tại chùa Trúc Lâm - ngôi chùa thân thích nhất của gia đình Hồ Đắc.
Ai muốn xem Bản kinh thêu gấm phải có lịnh của ôn Trúc Lâm mới được xem. Nhưng
cũng rất
hạn chế người xem. Vì đây là một báu vật của văn
hóa Việt Nam
đặc biệt của thời Tây Sơn.
Từ bản Kinh Kim Cương thêu
trên gấm còn giữ ở chùa Trúc Lâm gợi cho tôi ý tưởng viết trên báo Giác Ngộ đề
nghị Phật giáo nên thành lập một nhà Bảo tàng văn hóa Phật giáo ở Huế để giới
thiệu với dân chúng những báu vật văn hóa tàng trữ trong các chùa Phật ở Thuận
Hóa - Phú Xuân. Lúc sinh thời Thầy Thiệu Siêu và ôn Trúc Lâm rất hoan nghinh ý
tưởng ấy, nhưng mãi đến nay nó vẫn còn thuần
là
ý tưởng trên sách báo mà thôi.
Tư liệu thứ hai :
Nhiều lần tôi được nghe Ôn Trúc Lâm và
Sư bà Diệu Không kể chuyện vua Duy Tân khởi nghĩa năm 1916. Ôn Trúc Lâm kể
chuyện vua Duy Tân được mời ăn cháo gà và bị bắt ở nhà Ông Đội Cơ gần chùa Thiền
Tôn. Sư bà Diệu Không kể: Cụ Hồ Đắc Trung đã cứu vua Duy Tân thoát khỏi tội tử
hình như thế nào. Những chuyện nầy tôi đã tham khảo viết thành truyện đăng trong
cuốn
“Chuyện ba vua
Dục Đức-Thành Thái-Duy Tân” cách đây
mấy chục năm rồi.
Tâm Hằng
NGUYỄN ĐẮC XUÂN
(xem tiếp)