Ôn Trúc Lâm
Phần 1 :

ơi xứ Huế ấy biết bao thế hệ
tuổi thơ nhiều lớp trẻ con ai mà không nhờ mặc Áo bùa của Ôn Trúc Lâm. Tất cả
mấy chị em nhà tôi đứa nào cũng có mặc áo bùa, nhờ có bùa của Ôn mà ai cũng sống
và lớn mạnh khỏe ù ù, không bịnh hoạn, không bị ma quỉ chọc phá, với cái tuổi
đang còn nằm trong nôi hoặc cái tuổi đang còn ôm vú mạ.
Ở Huế ai
có con nhỏ cũng may một cái áo vạt hò màu vàng, nhỏ cỏn con với một cái bọc bùa
đem lên chùa xin Ôn làm phép. Chỉ cần họ tên ngày tháng năm sinh là đủ, để đó Ôn
vẽ bùa vài ngày sau trở lại lấy đem về cho con mặc, khi vào chùa tu tôi hay làm
việc này, lấy các chi tiết của thí chủ xin bùa đem lên trình Ôn. Có những đêm
tối bên ngọn đèn dầu, tôi thấy Ôn ngồi vẽ bùa lên áo. Sáng mai trước khi ra văn
phòng, Giáo Hội ở Từ Đàm, Ôn dặn chúng ở nhà nhớ đưa áo bùa cho người ta, không
biết Ôn vẽ bùa từ lúc nào, mà lúc còn nhỏ cho đến lớn lên sau này tôi vẫn còn
thấy Ôn thương giúp đám con nít ở Huế cũng như gần cả tỉnh Thừa Thiên, về cái
việc cho bùa và mãi đến khi Ôn viên tịch mới không còn nữa. Những đường nét cong
cong của chữ Phạn các chữ Án Dạ Hồng, cùng với bùa ngoằn ngoèo như rồng bay
phượng múa, những nét vuốt sắc bén bằng mực xạ đen ngòm tôi chẳng hiểu được
nghĩa lý gì, sao nó linh thiêng đến kỳ lạ !
Sự linh diệu này không những
chỉ đám con nít khó nuôi, khó lớn mà còn ảnh hưởng đến kẻ lớn từ trẻ già trai
gái đủ hạng tuổi, hể ai bị ma dựa nhập điên điên khùng khùng ăn nói bậy bạ làm
càng, làm dở ; hể đem lên Ôn Trúc
Lâm là lành bệnh hết điên ngay. Ôn chỉ hỏi vài câu tên chi, ở mô, mấy tuổi ?
Người điên ú ớ trả lời ngay khi đó Ôn bớp một tác tai
(chỉ nhẹ thôi)
thì lành ngay tức khắc, có lúc khác Ôn bảo người điên chắp tay lạy Phật, bàn
Phật ngay nơi hiên nhà Tây của Ôn nghỉ, rồi cho uống một ly nước lạnh xong đứng
dậy thì lành. Nước lạnh này lấy trực tiếp từ trời mưa hứng thẳng vào chai không
chảy qua máng xối, hể khi nào trời mưa lớn thì Ôn bảo chúng tôi lấy nước. Cũng
có khi Ôn bảo người điên quì xuống rồi Ôn cắt vài sợi tóc trên đỉnh đầu thì bệnh
sẽ khỏi. Có lần Ôn bảo người điên ngồi xuống giữa nhà khách Ôn sai tôi lên chánh
điện lấy cái mõ niệm Phật đem xuống đây. Tôi tưởng cái mõ con nho nhỏ thường để
đi kinh hành niệm Phật, đem xuống phòng khách Ôn bảo không phải, đổi lại cái mỏ
thường tụng kinh công phu lớn hơn. Đem mỏ Ôn bảo tôi để lên đầu người điên tụng
chú Chuẩn Đề. Tôi vừa sợ vừa lúng túng không biết phải làm sao Ôn liền lấy dùi
mõ đứng gõ tụng làm mẫu một lần rồi sai tôi làm như vậy. Ôn đi lên nhà Tây nghỉ,
tôi đứng đó để cắn răng chịu đựng phải làm, đâu dám không tuân lời, sẽ bị đòn
đấy. Thế là tôi tay gõ mõ miệng tụng chú Chuẩn Đề, vừa tụng vừa mĩm cười vì thấy
dị quá,
chung quanh mọi người trong
chúng đứng xem Ôn trị điên rất đông. Vậy mà cũng phải nghiến răng tụng khoảng
được được năm bảy phút thì Ôn trở lại bảo ngưng tụng đem mõ lên chánh điện cất.
Người điên đứng lên nhoẽn miệng cười và cơn bệnh hết ngay. Mặt mày tươi hẳn
không còn quái gỡ như trước nữa. Tôi tụng chú mà cảm thấy dị, vừa tụng lại vừa
cười tâm tôi tán loạn vậy mà sao có hiệu lực ?
Tôi biết đây là do oai lực công phu của Ôn nên thần chú có hiệu lực như
vậy, chứ không phải do mình tụng.
Một buổi
sáng trời đổ mưa, cơn mưa rào dai dẳng không dứt, tôi đang đứng ở nhà hậu in mền
quang minh chuẩn bị có đám tang, bổng đâu có một chàng trai từ ngoài bước vào
chắp tay trịnh trọng, báo cho tôi biết :
-.
Thưa thầy có một bà sắp sửa lên chùa,
Tôi đáp :
-.
À cứ mời bà lên, bà đang ở đâu ?
-.
Dạ đang ở dốc đường lên chùa.
Tôi thầm
nghĩ chắc là bà nào đây cũng đài các lắm nên trước khi đến đây thì cho đồ đệ báo
trước. Nào ngờ năm phút sau xuất hiện hai thanh niên hộ tống một cô gái đang bị
điên loạn, mặt đỏ gay, mắt trợn dộc trông thật ma quái, à thì ra một bà trẻ bị
điên. Tôi bảo họ đợi Ôn ra Giáo Hội 10 giờ sẽ về. Đã bao nhiêu năm nay hễ sáng
Ôn lái xe đi, đúng 10 giờ sẽ trở về, hơn 10 giờ mà chưa về thì hôm đó Ôn ở lại
thọ trai ở chùa Từ Quang cùng quí Ôn trưởng lão khác, hoặc là bận Phật sự đâu đó
không về. Đã 10 giờ không thấy xe Ôn về, tôi báo cho ba người kia biết Ôn không
về, phải đợi đến chiều 5 giờ mới có.
Cô gái
nói :
-. Chắc chắn hòa thượng sẽ về vì
Ngài biết từ tối hôm qua là ngày
nay có khách đến.
-. Hơn mười giờ rồi mà Ôn chưa về thì chiều mới về, đó là thông lệ xưa nay.
Trong
lòng tôi nghĩ người điên nói hơi đâu mà tin, đúng mười một giờ cúng ngọ, sau đó
chư tăng thọ trai. Gõ bảng hiệu thọ trai của chùa, đại chúng vân tập vừa ngồi
vào bàn, người thị giả lo cơm cho Ôn thầm nghĩ Ôn không về thì mâm cơm của Ôn
mình ăn, phen này được khoái khẩu một chút, vì thời điểm đó ai cũng phải ăn độn
một phần cơm hai ba phần khoai sắn. Mọi người chuẩn bị ăn thì bổng nghe tiếng xe
còn dưới dốc đang lái lên, thật là lạ kỳ, lần đầu tiên thấy Ôn về trễ.
Mọi người
chào Ôn xong và lược trình qua sự việc có người bệnh, Ôn bớp một tác tai bảo cô
gái đi ăn cơm. Nó cứ ì ra không ăn cơm mà lại yêu cầu :
Ôn cho nữ trần này đi xuất gia rồi nó sẽ ăn, Ôn hứa khả xong, cô xoay
xoay vòng vòng rồi ngã xuống đất, một giây sau ngồi dậy trông tươi tĩnh, có vẽ
bỡ ngỡ hỏi đây là đâu, rồi đem lên chánh điện làm lễ xuất gia ngay.
Sau lễ
xuất gia và ăn cơm xong, cô nầy được gởi qua chùa sư nữ Hồng Ân thọ giới với Sư
Bà Diệu Không, có đạo hiệu là Thích Nữ T.A. Sau đó nghe người nhà của cô kể rằng
:
Vào một
buổi chiều có một ông già ra làm vườn, cào rác cắt cỏ đốt lá khô. Thiêu cháy ba
mẹ con ổ rắn. Đêm hôm đó ông ta cảm thấy nhức đầu cảm cúm, đồng thời ba đứa con
(hai trai và một gái) của ông phát điên. Sau thời gian ngắn
lâm bệnh thì ông ta qua đời. Gia đình ông nầy vốn theo truyền thống thờ ông bà
thuần túy không hề đi chùa, nhưng khi có người thân mất thì cũng thỉnh chư Tăng
tụng kinh đám. Khi lễ nhập liệm vừa đậy nắp quan tài, bỗng người con gái đang bị
điên lại tru tréo kêu gào rằng : người
này chết oan để cho ta cứu.
Ta là Quán Âm thị hiện đây !
Cô ta cố đòi mở nắp quan tài ra cho bằng
được ; sau khi mở nắp quan tài ra cô
ta dùng mười ngón tay cào cấu xé nát mặt của ông già đang nằm chết trong quan
tài. Vừa cào vừa cười ha hả bảo rằng : Ta
đã trả thù được rồi, xong bỏ chạy. Lúc nầy hai người trai bị điên đã tỉnh táo
lại xách dao rượt theo cô gái vì đã hành hung ba của họ. Sau khi đám tang xong
cô gái vẫn còn bị cơn điên quấy động, gia đình cô cố tìm cách đi mời ông thầy
thần quyền có pháp cao thủ nhất ở Huế để chữa trị, cô gái điên bảo đừng chữa mất
công không hết đâu. Ông thần quyền dùng hết nội công bằng một loại bùa cực mạnh
tối hậu nhất trong nghề của ông để trấn yểm.
Đã không
hết mà lại bị cô gái này thâu tóm hết thần lực của ông, làm cho ông ta không còn
bùa chú gì nữa để phải trở về nhà trắng tay, không còn hành nghề được. Gia đình
bất lực cơn điên vẫn tiếp tục hoành hành. Cuối cùng gia đình năn nỉ xin hỏi cô
gái cho biết ý muốn như thế nào ? Cô ta
bảo chỉ cần cho nữ trần nầy
(cô gái đang điên) đi tu thì sẽ lành…
Hỏi :
–. Đi tu ở đâu ?
Hỏi :
–. Vị đó đang ở đâu ?
Đáp :
–. Nếu đồng ý thì hãy đi theo ta.
Ngày mai
lại hai người trai của gia đình kia đi theo cô gái, ngược đò lên Bao Vinh rồi
đến chợ Đông Ba, bỏ đò lên xe buýt đi Tuần. Đến Cầu Lim thì dừng lại rồi đi bộ
từ ngoài đường cái, quanh co vào chùa Trúc Lâm. Cô ta đi đâu thì họ chỉ biết im
lặng đi theo. Đến chùa Trúc Lâm xin gặp Ôn. Đây là nơi cô gái điên muốn đi xuất
gia, lần đầu tiên hai người con trai kia mới biết chùa nầy. Một điều lạ, trong
lúc bị điên tại sao cô gái này lại biết đường đi cách thức phương tiện dẫn đường
đến chùa ? !...
Có lẽ con
rắn là một loại rắn thần
(mãng xà
thần)
vì bị giết chết nên tìm cách báo oán.
-.
Vì là
thần nên có thần lực rất mạnh mà vị thần quyền kia không thể trị lại được.
-.
Cuối cùng
vị thần biết quay đầu về với Tam Bảo và chọn một vị cao tăng đủ đức độ đủ thần
lực để chứng minh chú nguyện sự xuất gia.
Phần 2
:
Với Ôn
Trúc Lâm, đứa con nít nào bị ma vọc khó nuôi thì mặc áo bùa cho khôn lớn khỏe
mạnh.
Ai bị ma
quỷ dựa nhập thì làm cho họ hết điên, giải tỏa cho các vong hồn kia được thoát
nghiệp bằng thần chú của Phật Pháp
(Mật Tông).
Môn đồ đệ
tử trong chùa thì Ôn thật là bình đẳng, sự bình đẳng nầy mà tôi vẫn thường khoái
chí nhất là: Chỉ một người có lỗi làm gì đó sai trái là Ôn đập luôn cả đám từ
lớn trên xuống nhỏ dưới không chừa ai, cả chùa đều chạy trốn có lỗi cũng như
không lỗi, tất cả đều chạy, đừng tưởng rằng mình không có lỗi mà đứng đó thì vẫn
ăn bạt tai như thường. Cứ mỗi lần có chuyện như vậy thì tôi gọi là
“Ôn
tấn công”.
Tay của Ôn bạt tai, miệng Ôn đuổi
“đi”. Mình bỏ chạy đi thì Ôn hô
“đứng lại”
mặc dù Ôn hô đứng lại nhưng mình cứ chạy biến mất và còn hô hoán lên để người
khác biết cùng chạy trốn, mạnh ai nấy đạp tung cửa chạy để thoát thân ra ngoài
rừng là an toàn, có thể trốn khuất trong các bảo tháp, gốc cây bụi rậm v.. v…
miễn Ôn đừng thấy là được. Ôn chỉ đi quanh trong hiên chữ khẩu hoặc nhà khách,
nhà hậu nhà bếp rồi trở về nhà Tây. Ít khi Ôn rượt ra ngoài vườn, chỉ có đám tụi
tôi mới chạy ra tới rừng thông, vườn chùa, sân chùa. Ban ngày thì còn chạy ra
xa, ban đêm thì thật thú vị cho cuộc chạy trốn, Ôn xuất hiện ở đầu này thì mình
lại chạy lẹ ra đằng kia, vì trời tối nên chẳng khác gì một trò chơi trốn tìm,
tôi khoái nhất là lúc nầy.
Thông thường, người có lỗi bị Ôn quở
thì người đó biết tại chuyện mình gây ra, còn cả đại chúng không ai biết tại sao
Ôn tấn công cũng phải chạy cứ chạy lấy thân cái đã, ra ngoài rừng rồi tìm hiểu
lý do sau. Cho dù tại người nào làm ra chuyện chứ không phải tại mình, nhưng hầu
như ai ai trong chúng từ lớn đến nhỏ không có ai thắc mắc hay phàn nàn là không
phải lỗi của mình tại sao Ôn cũng đánh luôn mình, không ai có một ý nghĩ buồn
phiền về chuyện tấn công không lý do vì mình.Ý niệm lúc đó là quên mất sự tranh
chấp đúng sai, phải trái có lỗi không lỗi mà chỉ biết chạy, đây là một sự giáo
dục thử thách của một bậc thầy cho đám đệ tử tập xóa tan cái bản ngã chính mình
để trui luyện nên thân cho sự nghiệp tu hành Phật pháp nhiều cam go say nầy.
Tối mồng
hai Bính Thìn (1976) vào dịp tết nên giảm bớt học hành tôi đi nghĩ sớm 9:30 tối
vừa lúc nằm trên bộ ngựa gõ ở liêu nhà hậu với mấy chú, bên liêu kia là hai thầy
Lưu Thanh và Thanh Phong đang chiếu cờ tướng hăng say. Dưới bàn nhà bếp các thầy
khác Lưu Hòa, Thanh Toàn đang tiếp khách thăm tết, khách gồm có công an khu vực,
thôn trưởng dân phòng chính quyền địa phương, mức, bánh trưng bày hỷ hả. Bổng
tôi nghe tiếng
“toang” đèn bàn cờ tướng vụt
tắt, tiếng rơi loảng choảng của bàn cờ, có người chạy. Rất quen thuộc với tình
hình biến động nầy, tôi biết có chuyện, tung người dậy phóng chạy hô to, bàn nhà
bếp cả khách lẫn chủ cũng tháo chạy từ trên bậc thượng tọa
xuống dưới chú điệu nhỏ nhất và cả đám
khách chính quyền, tất cả đều chạy ra ngoài vườn chè, ngoài sân cây khế, đứng
núp dưới cây trứng gà gần nhà xe. Bên trong nhà Ôn đang đi lên đi xuống từ nhà
hậu nhà khách xuống bếp đụng ai tác tai nấy. Bên ngoài mọi người
đứng nhìn vào, có khi chạy vào được vài bước chân, thấp thoáng Ôn trở lại thì
chạy ra trốn. Trời mưa xuân lất phất với khí lạnh se se tháng giêng ở Huế, trong
bóng đêm tối om tôi nhìn đám người chạy trốn mà phát cười không nín được. Cười
là vì môn đồ đệ tử, học trò bị thầy đánh chạy đã đành, đằng nầy khách khứa chính
quyền cũng phải chung số phận ra đứng dầm mưa đêm, không kịp đem theo súng đạn
mũ cối, bao bị áo xách v..v… của công an và dân phòng. Đám khách nầy cũng thậm
thò thậm thụt chạy vào chạy ra như chúng tôi, thỉnh thoảng cũng có tiếng cười
khúc khích, họ cũng không phiền không giận gì Ôn. Chúng tôi tụ tập núp mưa và
nói chuyện dưới gốc cây, khi mà có ánh đèn pin pha sáng thì chạy tứ tán. Ôn có
cây đèn pin sử dụng bốn cục pin đại rất mạnh khi nào Ôn rượt ban đêm, Ôn thường
dùng cây đèn nầy. Đợi khi Ôn trở về nhà Tây cách xa bàn nhà bếp, khách lén vô ôm
đồ đạt hành trang vũ khí chạy ra về, còn chúng tôi đợi đến khi thật khuya Ôn đã
nghỉ thì nhè nhẹ vô nằm im ngủ không dám ho hen động đậy.
Năm mới
1979 Kỷ Mùi mồng hai tết Thầy Tín Nghĩa đi vượt biên, mồng năm tết Đức Đệ Nhị
Tăng Thống viên tịch
(Cố Thuyền Tôn Đại Lão H.T. Thích Giác
Nhiên),
tang lễ rất long trọng. Tôi đi hầu kim quan về, chiều hôm đó nghe đâu trong đám
tang giữa đám đông Ôn Trúc lâm đã bạt tai thầy nào đó
(có
lẽ thầy Thiện Chí đệ tử của cố Thuyền tôn, nay thầy đã viên tịch)
đám tang thật bận rộn hơn nữa đang còn tết nên tôi và thầy Tâm Huệ rũ nhau đánh
cờ tướng lúc 8 giờ tối tại phòng ăn nhà bếp, thình lình Ôn đi xuống, hai đứa bỏ
bàn cờ đứng dậy trang nghiêm để giữ lễ, đây là oai nghi phép tắc trong nhà chùa
vậy. Ôn đã đi qua bình yên hai chúng tôi ngồi xuống chiếu tướng tiếp, Ôn quay
trở lại đứng trừng mắt quở hai chúng tôi thế là cuộc tấn công bắt đầu, hai đứa
đâm đầu bỏ chạy ra vườn trong bóng tối. Ôn kêu mấy điệu đuổi theo bắt lại, điệu
Cu Nóc, điệu Dũng, Cu Tí chạy theo, tôi quay lại la mắng điệu :
-. Tụi bay chạy theo làm chi ?
Cu Nóc
mếu máo :
-. Ôn kêu con bắt lại, vô mà không
có thì Ôn la làm sao ?
Tôi bảo :
-. Thì tụi bay chạy luôn đừng có vô
nhà, cái kiểu của Ôn là như rứa, la là chạy hết ai bảo bay vô cho Ôn hỏi.
Tôi chạy
trốn mà còn nghe tiếng la của Ôn rằng:
-. Ngày mai đem sổ hộ khẩu ra ngoài
xã gạch tên hai cái thằng Cộng sản đó đi, tao không nuôi hắn nữa
(Tâm Minh, Tâm Hụê).
Vừa chạy
vừa cười, sau 1975 chính quyền cộng sản lập hộ khẩu, mình là cộng sản thì làm
sao gạch bỏ hộ khẩu được. Đúng là Ôn la để mà la vậy thôi chứ chẳng có ý nghĩ
hiềm hận gì, thầy trò là vậy đó.
Lò mò
trong bóng tối, hai chúng tôi vào trước tiền đường chùa, lẻn vào lầu trống lấy
được chiếc chiếu ra nằm, lâu lâu ngốc đầu dậy nhìn qua lỗ hổng gần lầu chuông đã
hơn 12 giờ đêm Ôn vẫn còn bưng cây đèn bỏng đi tìm hai thằng nầy. Biết Ôn không
bao giờ mở cửa chánh điện ra ngoài nên mình cứ yên tâm nằm nín thở ngoài hiên
chùa suốt đêm.
Trời Huế
ra tết tháng giêng vẫn còn lạnh, sương khuya giăng phủ bạt trắng cả không gian
rừng thiền tịch mịch, thoang thoảng có mùi thơm của cây bông mai vàng đón tết,
lòng tôi lúc ấy thật nhẹ nhỏm vô tư lự và lại ngủ thiếp đi trong một giấc dài
cho đến 3 giờ khuya, chuông chùa đánh rồi tôi lại mở cửa vô tụng kinh công phu
khuya. Một ngày đã qua và một ngày trở lại, thầy trò vẫn sinh hoạt bình thường
như không có gì xảy ra hôm qua.
Trước năm
1975 một cây dao găm của lính Cộng hòa vất bỏ, Ôn
lấy làm vật trồng cây chăm bón mấy chậu lan trước hiên nhà Tây, không hiểu vì
sao biến mất, thế là một trận tấn công kéo dài từ trưa hôm nay cho đến trưa ngày
mai mới chấm dứt. Cơm trưa đã dọn xong đâu đó chỉ đợi cúng ngọ xong là đại chúng
thọ trai, thế mà ăn không được, tất cả đều chạy ra rừng thông, lâu lâu đợi Ôn
lên liêu nghỉ thì mấy chú tiểu đột kích chạy vô nhà bếp bưng một thau cơm và rau
luộc chạy lẹ ra ngoài vườn ăn ngấu nghiến, mạnh ai lấy được tô nào ăn tô đó. Tối
hôm đó mọi người phải di tản ra nhà hàng xóm ngủ nhờ hoặc qua Khuôn Dương Chánh
ngủ lại hoặc rình rình kéo được chiếc chiếu đệm đem ra tháp Tổ ngủ giữa trời.
Chuông tối, chuông khuya Ôn phải tự đánh vì chẳng còn ai vào được trong chùa,
khuya lại chú Nhơn từ Khuôn Dương Chánh qua đi công phu nhưng Ôn không la rầy gì
chú, từ từ đến trưa thì trật tự được vản hồi, sau buổi sáng Ôn ra Giáo Hội về
thì mọi chuyện trở lại bình thường.Còn không biết bao câu chuyện Ôn tấn công lớp
trước, lớp sau kể sao cho hết. Nhưng lâu Ôn không rượt thì tôi cảm thấy trống
vắng như thiếu thiếu một cái gì. Nhất là từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy, ba
tháng an cư kiết hạ để đại chúng thanh tịnh tu tập, Ôn không động tịnh gì cả.
Lúc đó thì tôi trông mau hết hạ để có chuyện mà chạy. Vì vậy khi ra nước ngoài
tôi thường nhớ về Trúc Lâm với những hình ảnh cũ, cho nên khi nghe Ôn Trúc Lâm
viên tịch tôi đã gửi một điện thư về Huế để cung tiễn Giác Linh Ôn, một người
thầy đã khai sinh ra pháp thân huệ mạng của mình.
Ngưỡng
bạch Giác Linh Ôn.
Ngàn dặm
xót xa nơi khách địa con vọng về quê tổ, xin đê đầu đảnh lễ Giác Linh Ôn, tam
bái.
Vĩnh viễn
từ đây bậc thầy tôn kính của chúng con không còn nữa, Tổ Đình Trúc Lâm Đại Thánh
sẽ mãi mãi vắng bóng Tôn Sư chỉ giáo. Thuận thế vô thường, Ôn về nơi cõi tịch
không.
Còn lại
nơi đây, bằng tất cả tấm lòng hiếu hạnh và đạo tình thống thiết của con xin kính
dâng về Ôn.
Nguyện Giác Linh Ôn thùy từ chứng giám.

(xem tiếp)