Trang Chính | Từ Đàm Hải Ngoại | Thiền Phái Trúc Lâm | Phật Pháp
Pháp Âm
| |Tin Tức Phật Giáo | Tổng Vụ Cư Sĩ | Tin Tức Sinh Hoạt |  Nối kết | Hình ảnh
Thư tịch H.T. Trí Chơn | Thư tịch H.T. Tín Nghĩa
| Những Bài Đoản Văn
|  Vườn Thơ

Please press HOME to go back to the main web page

HOME

Ôn Trúc Lâm

KỶ YẾU ÔN MẬT HIỂN

 

 

            

Ôn Trúc Lâm

 

 

Phần 1 :

 

Nơi xứ Huế ấy biết bao thế hệ tuổi thơ nhiều lớp trẻ con ai mà không nhờ mặc Áo bùa của Ôn Trúc Lâm. Tất cả mấy chị em nhà tôi đứa nào cũng có mặc áo bùa, nhờ có bùa của Ôn mà ai cũng sống và lớn mạnh khỏe ù ù, không bịnh hoạn, không bị ma quỉ chọc phá, với cái tuổi đang còn nằm trong nôi hoặc cái tuổi đang còn ôm vú mạ.

 

            Ở Huế ai có con nhỏ cũng may một cái áo vạt hò màu vàng, nhỏ cỏn con với một cái bọc bùa đem lên chùa xin Ôn làm phép. Chỉ cần họ tên ngày tháng năm sinh là đủ, để đó Ôn vẽ bùa vài ngày sau trở lại lấy đem về cho con mặc, khi vào chùa tu tôi hay làm việc này, lấy các chi tiết của thí chủ xin bùa đem lên trình Ôn. Có những đêm tối bên ngọn đèn dầu, tôi thấy Ôn ngồi vẽ bùa lên áo. Sáng mai trước khi ra văn phòng, Giáo Hội ở Từ Đàm, Ôn dặn chúng ở nhà nhớ đưa áo bùa cho người ta, không biết Ôn vẽ bùa từ lúc nào, mà lúc còn nhỏ cho đến lớn lên sau này tôi vẫn còn thấy Ôn thương giúp đám con nít ở Huế cũng như gần cả tỉnh Thừa Thiên, về cái việc cho bùa và mãi đến khi Ôn viên tịch mới không còn nữa. Những đường nét cong cong của chữ Phạn các chữ Án Dạ Hồng, cùng với bùa ngoằn ngoèo như rồng bay phượng múa, những nét vuốt sắc bén bằng mực xạ đen ngòm tôi chẳng hiểu được nghĩa lý gì, sao nó linh thiêng đến kỳ lạ !

 

           Sự linh diệu này không những chỉ đám con nít khó nuôi, khó lớn mà còn ảnh hưởng đến kẻ lớn từ trẻ già trai gái đủ hạng tuổi, hể ai bị ma dựa nhập điên điên khùng khùng ăn nói bậy bạ làm càng, làm dở ;  hể đem lên Ôn Trúc Lâm là lành bệnh hết điên ngay. Ôn chỉ hỏi vài câu tên chi, ở mô, mấy tuổi ?  Người điên ú ớ trả lời ngay khi đó Ôn bớp một tác tai (chỉ nhẹ thôi) thì lành ngay tức khắc, có lúc khác Ôn bảo người điên chắp tay lạy Phật, bàn Phật ngay nơi hiên nhà Tây của Ôn nghỉ, rồi cho uống một ly nước lạnh xong đứng dậy thì lành. Nước lạnh này lấy trực tiếp từ trời mưa hứng thẳng vào chai không chảy qua máng xối, hể khi nào trời mưa lớn thì Ôn bảo chúng tôi lấy nước. Cũng có khi Ôn bảo người điên quì xuống rồi Ôn cắt vài sợi tóc trên đỉnh đầu thì bệnh sẽ khỏi. Có lần Ôn bảo người điên ngồi xuống giữa nhà khách Ôn sai tôi lên chánh điện lấy cái mõ niệm Phật đem xuống đây. Tôi tưởng cái mõ con nho nhỏ thường để đi kinh hành niệm Phật, đem xuống phòng khách Ôn bảo không phải, đổi lại cái mỏ thường tụng kinh công phu lớn hơn. Đem mỏ Ôn bảo tôi để lên đầu người điên tụng chú Chuẩn Đề. Tôi vừa sợ vừa lúng túng không biết phải làm sao Ôn liền lấy dùi mõ đứng gõ tụng làm mẫu một lần rồi sai tôi làm như vậy. Ôn đi lên nhà Tây nghỉ, tôi đứng đó để cắn răng chịu đựng phải làm, đâu dám không tuân lời, sẽ bị đòn đấy. Thế là tôi tay gõ mõ miệng tụng chú Chuẩn Đề, vừa tụng vừa mĩm cười vì thấy dị quá, chung quanh mọi người trong chúng đứng xem Ôn trị điên rất đông. Vậy mà cũng phải nghiến răng tụng khoảng được được năm bảy phút thì Ôn trở lại bảo ngưng tụng đem mõ lên chánh điện cất. Người điên đứng lên nhoẽn miệng cười và cơn bệnh hết ngay. Mặt mày tươi hẳn không còn quái gỡ như trước nữa. Tôi tụng chú mà cảm thấy dị, vừa tụng lại vừa cười tâm tôi tán loạn vậy mà sao có hiệu lực ?  Tôi biết đây là do oai lực công phu của Ôn nên thần chú có hiệu lực như vậy, chứ không phải do mình tụng.

 

            Một buổi sáng trời đổ mưa, cơn mưa rào dai dẳng không dứt, tôi đang đứng ở nhà hậu in mền quang minh chuẩn bị có đám tang, bổng đâu có một chàng trai từ ngoài bước vào chắp tay trịnh trọng, báo cho tôi biết :

 

            -.  Thưa thầy có một bà sắp sửa lên chùa,

 

            Tôi đáp :

 

             -. À cứ mời bà lên, bà đang ở đâu ?

           

             -. Dạ đang ở dốc đường lên chùa.

 

            Tôi thầm nghĩ chắc là bà nào đây cũng đài các lắm nên trước khi đến đây thì cho đồ đệ báo trước. Nào ngờ năm phút sau xuất hiện hai thanh niên hộ tống một cô gái đang bị điên loạn, mặt đỏ gay, mắt trợn dộc trông thật ma quái, à thì ra một bà trẻ bị điên. Tôi bảo họ đợi Ôn ra Giáo Hội 10 giờ sẽ về. Đã bao nhiêu năm nay hễ sáng Ôn lái xe đi, đúng 10 giờ sẽ trở về, hơn 10 giờ mà chưa về thì hôm đó Ôn ở lại thọ trai ở chùa Từ Quang cùng quí Ôn trưởng lão khác, hoặc là bận Phật sự đâu đó không về. Đã 10 giờ không thấy xe Ôn về, tôi báo cho ba người kia biết Ôn không về, phải đợi đến chiều 5 giờ mới có.

 

            Cô gái nói :

            -.  Chắc chắn hòa thượng sẽ về vì Ngài biết từ tối hôm qua là ngày

 

nay có khách đến.

            -. Hơn mười giờ rồi mà Ôn chưa về thì chiều mới về, đó là thông lệ xưa nay.

 

            Trong lòng tôi nghĩ người điên nói hơi đâu mà tin, đúng mười một giờ cúng ngọ, sau đó chư tăng thọ trai. Gõ bảng hiệu thọ trai của chùa, đại chúng vân tập vừa ngồi vào bàn, người thị giả lo cơm cho Ôn thầm nghĩ Ôn không về thì mâm cơm của Ôn mình ăn, phen này được khoái khẩu một chút, vì thời điểm đó ai cũng phải ăn độn một phần cơm hai ba phần khoai sắn. Mọi người chuẩn bị ăn thì bổng nghe tiếng xe còn dưới dốc đang lái lên, thật là lạ kỳ, lần đầu tiên thấy Ôn về trễ.

 

            Mọi người chào Ôn xong và lược trình qua sự việc có người bệnh, Ôn bớp một tác tai bảo cô gái đi ăn cơm. Nó cứ ì ra không ăn cơm mà lại yêu cầu :  Ôn cho nữ trần này đi xuất gia rồi nó sẽ ăn, Ôn hứa khả xong, cô xoay xoay vòng vòng rồi ngã xuống đất, một giây sau ngồi dậy trông tươi tĩnh, có vẽ bỡ ngỡ hỏi đây là đâu, rồi đem lên chánh điện làm lễ xuất gia ngay.

 

            Sau lễ xuất gia và ăn cơm xong, cô nầy được gởi qua chùa sư nữ Hồng Ân thọ giới với Sư Bà Diệu Không, có đạo hiệu là Thích Nữ T.A. Sau đó nghe người nhà của cô kể rằng :

 

            Vào một buổi chiều có một ông già ra làm vườn, cào rác cắt cỏ đốt lá khô. Thiêu cháy ba mẹ con ổ rắn. Đêm hôm đó ông ta cảm thấy nhức đầu cảm cúm, đồng thời ba đứa con (hai trai và một gái) của ông phát điên. Sau thời gian ngắn lâm bệnh thì ông ta qua đời. Gia đình ông nầy vốn theo truyền thống thờ ông bà thuần túy không hề đi chùa, nhưng khi có người thân mất thì cũng thỉnh chư Tăng tụng kinh đám. Khi lễ nhập liệm vừa đậy nắp quan tài, bỗng người con gái đang bị điên lại tru tréo kêu gào rằng :  người này chết oan để cho ta cứu. Ta là Quán Âm thị hiện đây !  Cô ta cố đòi mở nắp quan tài ra cho bằng được ;  sau khi mở nắp quan tài ra cô ta dùng mười ngón tay cào cấu xé nát mặt của ông già đang nằm chết trong quan tài. Vừa cào vừa cười ha hả bảo rằng :  Ta đã trả thù được rồi, xong bỏ chạy. Lúc nầy hai người trai bị điên đã tỉnh táo lại xách dao rượt theo cô gái vì đã hành hung ba của họ. Sau khi đám tang xong cô gái vẫn còn bị cơn điên quấy động, gia đình cô cố tìm cách đi mời ông thầy thần quyền có pháp cao thủ nhất ở Huế để chữa trị, cô gái điên bảo đừng chữa mất công không hết đâu. Ông thần quyền dùng hết nội công bằng một loại bùa cực mạnh tối hậu nhất trong nghề của ông để trấn yểm.

 

            Đã không hết mà lại bị cô gái này thâu tóm hết thần lực của ông, làm cho ông ta không còn bùa chú gì nữa để phải trở về nhà trắng tay, không còn hành nghề được. Gia đình bất lực cơn điên vẫn tiếp tục hoành hành. Cuối cùng gia đình năn nỉ xin hỏi cô gái cho biết ý muốn như thế nào ?  Cô ta bảo chỉ cần cho nữ trần nầy (cô gái đang điên) đi tu thì sẽ lành…

 

            Hỏi :

            –. Đi tu ở đâu ?

 

            Hỏi :

            –. Vị đó đang ở đâu ?

 

            Đáp :

            –.  Nếu đồng ý thì hãy đi theo ta.

 

            Ngày mai lại hai người trai của gia đình kia đi theo cô gái, ngược đò lên Bao Vinh rồi đến chợ Đông Ba, bỏ đò lên xe buýt đi Tuần. Đến Cầu Lim thì dừng lại rồi đi bộ từ ngoài đường cái, quanh co vào chùa Trúc Lâm. Cô ta đi đâu thì họ chỉ biết im lặng đi theo. Đến chùa Trúc Lâm xin gặp Ôn. Đây là nơi cô gái điên muốn đi xuất gia, lần đầu tiên hai người con trai kia mới biết chùa nầy. Một điều lạ, trong lúc bị điên tại sao cô gái này lại biết đường đi cách thức phương tiện dẫn đường đến chùa ? !...

 

            Có lẽ con rắn là một loại rắn thần (mãng xà thần) vì bị giết chết nên tìm cách báo oán.

 

            -. Vì là thần nên có thần lực rất mạnh mà vị thần quyền kia không thể trị lại được.

 

            -. Cuối cùng vị thần biết quay đầu về với Tam Bảo và chọn một vị cao tăng đủ đức độ đủ thần lực để chứng minh chú nguyện sự xuất gia.

 

            Phần 2 :

 

            Với Ôn Trúc Lâm, đứa con nít nào bị ma vọc khó nuôi thì mặc áo bùa cho khôn lớn khỏe mạnh.

 

            Ai bị ma quỷ dựa nhập thì làm cho họ hết điên, giải tỏa cho các vong hồn kia được thoát nghiệp bằng thần chú của Phật Pháp (Mật Tông).

 

            Môn đồ đệ tử trong chùa thì Ôn thật là bình đẳng, sự bình đẳng nầy mà tôi vẫn thường khoái chí nhất là: Chỉ một người có lỗi làm gì đó sai trái là Ôn đập luôn cả đám từ lớn trên xuống nhỏ dưới không chừa ai, cả chùa đều chạy trốn có lỗi cũng như không lỗi, tất cả đều chạy, đừng tưởng rằng mình không có lỗi mà đứng đó thì vẫn ăn bạt tai như thường. Cứ mỗi lần có chuyện như vậy thì tôi gọi là “Ôn tấn công”. Tay của Ôn bạt tai, miệng Ôn đuổi “đi”. Mình bỏ chạy đi thì Ôn hô “đứng lại” mặc dù Ôn hô đứng lại nhưng mình cứ chạy biến mất và còn hô hoán lên để người khác biết cùng chạy trốn, mạnh ai nấy đạp tung cửa chạy để thoát thân ra ngoài rừng là an toàn, có thể trốn khuất trong các bảo tháp, gốc cây bụi rậm v.. v… miễn Ôn đừng thấy là được. Ôn chỉ đi quanh trong hiên chữ khẩu hoặc nhà khách, nhà hậu nhà bếp rồi trở về nhà Tây. Ít khi Ôn rượt ra ngoài vườn, chỉ có đám tụi tôi mới chạy ra tới rừng thông, vườn chùa, sân chùa. Ban ngày thì còn chạy ra xa, ban đêm thì thật thú vị cho cuộc chạy trốn, Ôn xuất hiện ở đầu này thì mình lại chạy lẹ ra đằng kia, vì trời tối nên chẳng khác gì một trò chơi trốn tìm, tôi khoái nhất là lúc nầy.

 

      Thông thường, người có lỗi bị Ôn quở thì người đó biết tại chuyện mình gây ra, còn cả đại chúng không ai biết tại sao Ôn tấn công cũng phải chạy cứ chạy lấy thân cái đã, ra ngoài rừng rồi tìm hiểu lý do sau. Cho dù tại người nào làm ra chuyện chứ không phải tại mình, nhưng hầu như ai ai trong chúng từ lớn đến nhỏ không có ai thắc mắc hay phàn nàn là không phải lỗi của mình tại sao Ôn cũng đánh luôn mình, không ai có một ý nghĩ buồn phiền về chuyện tấn công không lý do vì mình.Ý niệm lúc đó là quên mất sự tranh chấp đúng sai, phải trái có lỗi không lỗi mà chỉ biết chạy, đây là một sự giáo dục thử thách của một bậc thầy cho đám đệ tử tập xóa tan cái bản ngã chính mình để trui luyện nên thân cho sự nghiệp tu hành Phật pháp nhiều cam go say nầy.

 

            Tối mồng hai Bính Thìn (1976) vào dịp tết nên giảm bớt học hành tôi đi nghĩ sớm 9:30 tối vừa lúc nằm trên bộ ngựa gõ ở liêu nhà hậu với mấy chú, bên liêu kia là hai thầy Lưu Thanh và Thanh Phong đang chiếu cờ tướng hăng say. Dưới bàn nhà bếp các thầy khác Lưu Hòa, Thanh Toàn đang tiếp khách thăm tết, khách gồm có công an khu vực, thôn trưởng dân phòng chính quyền địa phương, mức, bánh trưng bày hỷ hả. Bổng tôi nghe tiếng “toang” đèn bàn cờ tướng vụt tắt, tiếng rơi loảng choảng của bàn cờ, có người chạy. Rất quen thuộc với tình hình biến động nầy, tôi biết có chuyện, tung người dậy phóng chạy hô to, bàn nhà bếp cả khách lẫn chủ cũng tháo chạy từ trên bậc thượng tọa xuống dưới chú điệu nhỏ nhất và cả đám khách chính quyền, tất cả đều chạy ra ngoài vườn chè, ngoài sân cây khế, đứng núp dưới cây trứng gà gần nhà xe. Bên trong nhà Ôn đang đi lên đi xuống từ nhà hậu nhà khách xuống bếp đụng ai tác tai nấy. Bên ngoài mọi người đứng nhìn vào, có khi chạy vào được vài bước chân, thấp thoáng Ôn trở lại thì chạy ra trốn. Trời mưa xuân lất phất với khí lạnh se se tháng giêng ở Huế, trong bóng đêm tối om tôi nhìn đám người chạy trốn mà phát cười không nín được. Cười là vì môn đồ đệ tử, học trò bị thầy đánh chạy đã đành, đằng nầy khách khứa chính quyền cũng phải chung số phận ra đứng dầm mưa đêm, không kịp đem theo súng đạn mũ cối, bao bị áo xách v..v… của công an và dân phòng. Đám khách nầy cũng thậm thò thậm thụt chạy vào chạy ra như chúng tôi, thỉnh thoảng cũng có tiếng cười khúc khích, họ cũng không phiền không giận gì Ôn. Chúng tôi tụ tập núp mưa và nói chuyện dưới gốc cây, khi mà có ánh đèn pin pha sáng thì chạy tứ tán. Ôn có cây đèn pin sử dụng bốn cục pin đại rất mạnh khi nào Ôn rượt ban đêm, Ôn thường dùng cây đèn nầy. Đợi khi Ôn trở về nhà Tây cách xa bàn nhà bếp, khách lén vô ôm đồ đạt hành trang vũ khí chạy ra về, còn chúng tôi đợi đến khi thật khuya Ôn đã nghỉ thì nhè nhẹ vô nằm im ngủ không dám ho hen động đậy.

 

            Năm mới 1979 Kỷ Mùi mồng hai tết Thầy Tín Nghĩa đi vượt biên, mồng năm tết Đức Đệ Nhị Tăng Thống viên tịch (Cố Thuyền Tôn Đại Lão H.T. Thích Giác Nhiên), tang lễ rất long trọng. Tôi đi hầu kim quan về, chiều hôm đó nghe đâu trong đám tang giữa đám đông Ôn Trúc lâm đã bạt tai thầy nào đó (có lẽ thầy Thiện Chí đệ tử của cố Thuyền tôn, nay thầy đã viên tịch) đám tang thật bận rộn hơn nữa đang còn tết nên tôi và thầy Tâm Huệ rũ nhau đánh cờ tướng lúc 8 giờ tối tại phòng ăn nhà bếp, thình lình Ôn đi xuống, hai đứa bỏ bàn cờ đứng dậy trang nghiêm để giữ lễ, đây là oai nghi phép tắc trong nhà chùa vậy. Ôn đã đi qua bình yên hai chúng tôi ngồi xuống chiếu tướng tiếp, Ôn quay trở lại đứng trừng mắt quở hai chúng tôi thế là cuộc tấn công bắt đầu, hai đứa đâm đầu bỏ chạy ra vườn trong bóng tối. Ôn kêu mấy điệu đuổi theo bắt lại, điệu Cu Nóc, điệu Dũng, Cu Tí chạy theo, tôi quay lại la mắng điệu :

 

            -.  Tụi bay chạy theo làm chi ?

 

            Cu Nóc mếu máo :

 

            -.  Ôn kêu con bắt lại, vô mà không có thì Ôn la làm sao ?

 

            Tôi bảo :

 

            -.  Thì tụi bay chạy luôn đừng có vô nhà, cái kiểu của Ôn là như rứa, la là chạy hết ai bảo bay vô cho Ôn hỏi.

 

 

            Tôi chạy trốn mà còn nghe tiếng la của Ôn rằng:

 

            -.  Ngày mai đem sổ hộ khẩu ra ngoài xã gạch tên hai cái thằng Cộng sản đó đi, tao không nuôi hắn nữa (Tâm Minh, Tâm Hụê).

 

            Vừa chạy vừa cười, sau 1975 chính quyền cộng sản lập hộ khẩu, mình là cộng sản thì làm sao gạch bỏ hộ khẩu được. Đúng là Ôn la để mà la vậy thôi chứ chẳng có ý nghĩ hiềm hận gì, thầy trò là vậy đó.

 

            Lò mò trong bóng tối, hai chúng tôi vào trước tiền đường chùa, lẻn vào lầu trống lấy được chiếc chiếu ra nằm, lâu lâu ngốc đầu dậy nhìn qua lỗ hổng gần lầu chuông đã hơn 12 giờ đêm Ôn vẫn còn bưng cây đèn bỏng đi tìm hai thằng nầy. Biết Ôn không bao giờ mở cửa chánh điện ra ngoài nên mình cứ yên tâm nằm nín thở ngoài hiên chùa suốt đêm.

 

            Trời Huế ra tết tháng giêng vẫn còn lạnh, sương khuya giăng phủ bạt trắng cả không gian rừng thiền tịch mịch, thoang thoảng có mùi thơm của cây bông mai vàng đón tết, lòng tôi lúc ấy thật nhẹ nhỏm vô tư lự và lại ngủ thiếp đi trong một giấc dài cho đến 3 giờ khuya, chuông chùa đánh rồi tôi lại mở cửa vô tụng kinh công phu khuya. Một ngày đã qua và một ngày trở lại, thầy trò vẫn sinh hoạt bình thường như không có gì xảy ra hôm qua.

 

            Trước năm 1975 một cây dao găm của lính Cộng hòa vất bỏ,  Ôn lấy làm vật trồng cây chăm bón mấy chậu lan trước hiên nhà Tây, không hiểu vì sao biến mất, thế là một trận tấn công kéo dài từ trưa hôm nay cho đến trưa ngày mai mới chấm dứt. Cơm trưa đã dọn xong đâu đó chỉ đợi cúng ngọ xong là đại chúng thọ trai, thế mà ăn không được, tất cả đều chạy ra rừng thông, lâu lâu đợi Ôn lên liêu nghỉ thì mấy chú tiểu đột kích chạy vô nhà bếp bưng một thau cơm và rau luộc chạy lẹ ra ngoài vườn ăn ngấu nghiến, mạnh ai lấy được tô nào ăn tô đó. Tối hôm đó mọi người phải di tản ra nhà hàng xóm ngủ nhờ hoặc qua Khuôn Dương Chánh ngủ lại hoặc rình rình kéo được chiếc chiếu đệm đem ra tháp Tổ ngủ giữa trời. Chuông tối, chuông khuya Ôn phải tự đánh vì chẳng còn ai vào được trong chùa, khuya lại chú Nhơn từ Khuôn Dương Chánh qua đi công phu nhưng Ôn không la rầy gì chú, từ từ đến trưa thì trật tự được vản hồi, sau buổi sáng Ôn ra Giáo Hội về thì mọi chuyện trở lại bình thường.Còn không biết bao câu chuyện Ôn tấn công lớp trước, lớp sau kể sao cho hết. Nhưng lâu Ôn không rượt thì tôi cảm thấy trống vắng như thiếu thiếu một cái gì. Nhất là từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy, ba tháng an cư kiết hạ để đại chúng thanh tịnh tu tập, Ôn không động tịnh gì cả. Lúc đó thì tôi trông mau hết hạ để có chuyện mà chạy. Vì vậy khi ra nước ngoài tôi thường nhớ về Trúc Lâm với những hình ảnh cũ, cho nên khi nghe Ôn Trúc Lâm viên tịch tôi đã gửi một điện thư về Huế để cung tiễn Giác Linh Ôn, một người thầy đã khai sinh ra pháp thân huệ mạng của mình.

 

            Ngưỡng bạch Giác Linh Ôn.

 

            Ngàn dặm xót xa nơi khách địa con vọng về quê tổ, xin đê đầu đảnh lễ Giác Linh Ôn, tam bái.

 

            Vĩnh viễn từ đây bậc thầy tôn kính của chúng con không còn nữa, Tổ Đình Trúc Lâm Đại Thánh sẽ mãi mãi vắng bóng Tôn Sư chỉ giáo. Thuận thế vô thường, Ôn về nơi cõi tịch không.

 

            Còn lại nơi đây, bằng tất cả tấm lòng hiếu hạnh và đạo tình thống thiết của con xin kính dâng về Ôn.

 

            Nguyện Giác Linh Ôn thùy từ chứng giám.

 

 

(xem tiếp)

 

 


Please press HOME to go back to the main web page

HOME


TỔ ĐÌNH TỪ ĐÀM HẢI NGOẠI
615 N. Gilbert Rd., Irving, Texas 75061-6240, Tel.: (972) 986-1019, Fax: (972) 790-5855  *USA*
Email: tudamhaingoai@yahoo.com  -  Website:  www.todinhtudamhaingoai.net