Ôn TRÚC LÂM
NGUYÊN TRUNG
(*)

ối với chúng tôi, những huynh trưởng Gia Đình Phật Tử và những Sinh Viên
Phật Tử, ba chữ
“Ôn Trúc Lâm”
vừa mang nhiều ý nghiã thân thương nhưng cũng vừa như có vẻ cách xa, kỳ bí. Nói
cho rõ hơn, kể từ 1963, anh em chúng tôi mới được biết nhiều hơn về Ôn , được
tiếp xúc, gần gũi với Ôn, còn trước đó chúng tôi chỉ nghe danh Ôn và những huyền
thoại về Ôn thì đúng hơn. Trong hàng Phật tử tại gia ở Huế, người ta kể lại rằng
Ôn là một Ẩn tăng võ nghệ cao cường, tính khí rất cương trực, khẳng khái. Ôn
không sợ ai cả, từ bọn Pháp đến thời Việt Minh và sau này các quan chức của
chính quyền Quốc gia, tất cả đều nể sợ Ôn. Chùa Ôn ở trên núi, nơi vùng xôi đậu,
phải nói rằng vào thời buổi chiến tranh liên miên, 2 phe 3 phái, không phải dễ
sống ; nhưng Ôn vẫn ung dung tự tại, được
mọi người kính nể, nếu không nói là kính sợ, chùa Ôn vẫn an toàn không ai dám
vào phá phách thì ắt hẳn Ôn phải có một cốt cách phi thường !
Trước 1960, tôi sinh hoạt
trong tổ chức Gia Đình Phật Tử. Sau này khi đoàn Sinh Viên Phật tử Huế thành
lập, tôi được anh em bầu vào một chức vụ ủy viên, nhưng trên thực tế, gọi là góp
mặt với anh em trong buổi ban đầu, chứ tôi vẫn liên tục sinh hoạt bên Gia Đình
Phật Tử là chính. Có lẽ nhờ có mặt cả hai nơi, tôi đã có nhiều cơ hội được tiếp
xúc, gần gũi với Quí Ôn, Quí Thầy nhiều hơn kể từ sau Pháp nạn 1963. Nhưng riêng
với Ôn Trúc Lâm, có lẽ không phải riêng tôi mà nói chung tất cả anh chị em sinh
viên hay huynh trưởng Gia Đình Phật tử đều
nể sợ Ôn, vẫn giữ một khoảng cách nào đó, không dám
“Thầy Thầy, con con” thân mật như đối
với quí Ôn quí Thầy khác .Trước hết là vì vai trò của Ôn trong Giáo Hội Tăng
Già, Ôn thường đảm trách các chức vụ Giám Luật và Ôn nổi tiếng nghiêm minh, cứng
rắn. Sau nữa là những huyền thoại về Ôn, hay ngay cái tên gọi thân thương
“Ôn Trúc Lâm”
cũng khác với “Ôn Già
Lam”, “Ôn Linh Quang”, “Ôn Từ Đàm”.
Nói đến “Ôn Già Lam” người ta biết ngay đó là Ôn Trí Thủ, những ngày nguy biến
1963 thường hay ngồi chống tay lên cằm trước thềm chùa Từ Đàm với các sinh viên
quây quần chung quanh .Nói đến Ôn Linh Quang người ta biết ngay là Ôn Mật Nguyện
hay nói Ôn Từ Đàm là người ta biết đó là Thầy Thiện Siêu, với hình ảnh quen
thuộc vẫn đi lại lặng lẽ trên hành lang tăng phòng chùa Từ Đàm. Nhưng nói đến
“Ôn Trúc Lâm”, ít ai biết đến pháp danh của Ngài, nói chi đến tên thật, có người
còn kính nể chỉ gọi là
“Ôn Trúc”, nên lớp
trẻ càng ít biết pháp hiệu của Ôn. Phần khác vì Ôn chỉ xuất hiện trong những
phiên họp quan trọng hay trong những Hội Đồng cao cấp, nên lớp trẻ chúng tôi lúc
đó ít có cơ hội gần gũi , tiếp xúc với Ôn, cũng là điều dễ hiểu thôi.
Còn nhớ
vào đầu thập niên 1960 khi còn là một Ủy viên trong Ban Hướng Dẫn Thừa
Thiên, có lần trong một cuộc thi xếp cấp ngành Thiếu, tôi đã ra một đề luận văn
, chỉ vỏn vẹn một câu hỏi ngắn : “Có
Thiên Chúa không ? Hãy chứng minh
nếu trả lời có hoăc không”. Có thể tôi không nhớ rõ nguyên văn đề
bài, nhưng nội dung đại ý là thế. Câu hỏi của bài thi đó đã đến tai các Thượng
Tọa lãnh đạo Giáo Hội địa phương lúc bấy giờ. Sau này tôi nghe kể lại Thượng Tọa
Trí Quang đã hỏi tôi là ai ? Và Thượng
Tọa Thiện Siêu đã trả lời Thầy biết
rõ thân phụ tôi, lúc đó đang làm Khuôn Trưởng khuôn hội An Hòa, phụ cận thành
phố Huế. Sở dĩ quí Thầy quan tâm, có lẽ vì lúc đó tình hình Phật Giáo đang hết
sức căng thẳng, gay go ; nhất là ở một số
địa phương tại miền Trung và các vùng nông thôn hẻo lánh. Cán bộ Phật Giáo ở các
cơ sở hạ tầng bị đe dọa, bức hiếp, sát hại. Huynh trưởng Phan Duy Trinh thuộc
Gia Đình An Hòa, nơi tôi sinh hoạt trước kia, một đêm kia bị những kẻ lạ mặt bắt
kéo ra cồn mã, đánh đập và giết chết.Tôi còn nhớ câu chuyện bi thảm mà sau này
anh em kể lại cho nhau nghe. Khuya hôm đó ngay khi người ta đánh chết anh Trinh,
Huynh trưởng Mai Khắc Lưu từng là Liên Đoàn Trưởng Gia Đình Phật tử An Hòa , nhà
ở không cách xa cồn mã là bao nhiêu, đang nằm ngủ, bỗng nghe như có tiếng ai gọi
cửa: Anh Lưu, anh Lưu ơi, mở cửa cho tôi vô với. Anh Lưu choàng thức dậy và nhận
ra tiếng của anh Trinh ; anh ra mở cửa
nhưng không thấy bóng một người nào. Anh Trinh nhà rất nghèo, nhưng hoạt động
Gia Đình Phật Tử rất hăng say, có thể nói anh là một trong những cán bộ cốt cán
ở hạ tầng cơ sở của Phật Giáo, do đó anh đã bị bọn người xấu thù ghét hãm hại.
Trước tình hình sôi bỏng như thế, một đề bài thi xếp cấp như trên quả là
quá mới mẻ và có phần táo bạo, khi đặt ra cho lớp trẻ những suy tư thao thức
trong một hoàn cảnh mà người ta đang né tránh đụng chạm đến những vấn đề được
xem như là hết sức nhạy cảm. Tôi thì cứ lấy tinh thần một sinh viên thẳng băng
mà đi, cũng không biết rằng chuyện mình đang làm có thể nguy hiểm khôn lường.
Cho đến khi Pháp nạn 1963 bùng nổ, nhiều đêm tôi không về nhà và ở lại Chùa Từ
Đàm làm việc chung với anh Nguyễn Khắc Từ
(Gia Đình Phật Tử) và các anh em Sinh viên
Phật Tử. Lúc này thì tôi đã có dịp tiếp xúc nhiều với quí Thầy, nhưng với Ôn
Trúc Lâm thì cũng ít khi có dịp diện kiến. Cho đến thời gian sau 1963 trong
những tháng ngày làm việc Phật sự, ít nhiều tôi cũng có dịp gặp gỡ, hầu chuyện
với Ôn. Tôi còn nhớ một hôm Ôn Trúc chở Thầy Trí Quang và tôi đi một công chuyện
gì đó, khi xe qua cầu Trường Tiền, đường thì chật mà xe đạp thì chen chúc, xuôi
ngược. Ôn lái xe cũng đã nhiều năm, tôi cũng không rõ chiếc
“xi-trô-en”
cũ kỹ của Ôn có ngon lành không, nhưng xem ra con ngựa già này cũng đã từng lên
núi xuống đèo, gắn bó với Ôn qua bao
nhiêu năm tháng. Vả lại đoạn đường Ôn thường hay đi từ chùa Từ Đàm vào chùa Trúc
Lâm, chỉ có một khúc ngắn là đường phố, còn phần nhiều là đường đất đỏ, núi đồi,
vắng người đi lại.Nay xe đang chạy qua cầu, con cầu có những nhịp gãy, cầu đã
chật mà xe cộ lại đông.
Tôi nghe Ôn càm ràm một mình
:
-.
“Đi đứng chi mà mất trật tự rứa khôn biết”.
Rồi Ôn nói tiếp với Thầy Trí
Quang :
-.
“Tui mà có quyền, tui cấm hết mấy đứa đi xe đạp xềnh xàng giữa đường”.
Tiếng Ôn rổn rảng mà chậm
rãi, vừa nói miệng Ôn vừa chúm chím cười rất có duyên. Lúc này tôi mới thực sự
để ý đến nụ cười của Ôn, đúng là nụ cười của một thiền sư. Miệng nói cấm mà nụ
cười thì toát ra vẻ bao dung.
Thầy Trí Quang thích thú
cười vang, tôi cũng cười vui và phụ họa :
-.
“Bạch Ôn, vậy thì mỗi khi Ôn có việc xuống phố, Ôn cứ cho thông báo trên
Đài, để mấy người đi xe đạp biết mà tránh rạp sang một bên !”
Cả Ôn và Thầy Trí Quang đều
cười, rồi nhân câu chuyện đang vui, Thầy Trí Quang quay sang tôi :
-.
“Chú giỏi nói, mỗi lần tôi lái xe đi sau chú, tôi thấy chú lái xe như lái
đò vậy ! !”.
Tôi chịu phép lặng thinh,
chẳng là lúc đó tôi cũng vừa mới tập tểnh lái xe, chạy giữa con đường Lê Lợi
rộng thênh thang, mặc sức mà cà xềnh cà xàng trong khi Thầy thì lái xe rất thạo,
nếu không nói là có tiếng
“ngang tàng”.Những
câu chuyện vui khi được đi chung xe với qúi Ôn quí Thầy trong các công tác Phật
sự sau này còn rất nhiều, có dịp tôi
sẽ xin kể để các Phật tử nghe.
Năm 1966, khi biến cố miền
Trung nổ ra, tôi cũng ít khi về nhà. Hết việc trường thì lên chùa, có khi ngủ
lại chùa có khi về cư xá Đại học, hầu như mấy tháng liền không ngủ nhà. Đến khi
tình hình khẩn trương, Tướng Kỳ và Tướng Loan cho Cảnh sát Dã chiến ra hành quân
vây bắt Phật tử tranh đấu ở Huế, tôi, giáo sư Lê Tuyên cùng một số sĩ quan như
Đại úy Trần Ngọc Nhơn, Thiếu tá Nguyễn Phước, Thiếu úy Nguyễn Đình Luyện và một
vài vị Giáo sư khác nữa phải lánh cư lên chùa Trúc Lâm. Trước đây tôi cũng được
ở chùa nhiều lần, nhưng nói cho đúng hơn là ở vườn chùa trong các buổi cắm trại
hay một ngày Bát quan trai ngắn ngủi. Đây là lần đầu tiên phải
“xuất gia” thật sự trong một hoàn cảnh
bồn chồn lo âu trăm nỗi. Chiều đầu tiên ở chùa, chúng tôi được mời ra dùng
bữa.Trên dãy bàn gỗ thấp, thô sơ cũ kỷ, tôi liếc nhìn. Chẳng thấy cơm đâu cả,
toàn là cháo và chẳng thấy thức ăn gì.Hình như mỗi người được chia phần một tô
cháo. Tôi bỗng thấy lòng chùng lại. Trời ơi ! Mấy
thầy tu hành kham khổ đến như thế này sao ? Hay
chỉ có chùa Trúc Lâm của Ôn, chứ mấy chùa dưới phố tôi thấy các bữa ăn ,dù là ăn
cháo đi nữa, cũng đâu có đạm bạc, đơn sơ như thế này !
Chiều xuống chầm chậm trên rừng núi thật
buồn. Buổi sáng khi đến chùa, hình như Ôn đã xuống hỏi thăm từng người và chuyện
trò, trấn an chúng tôi. Tối hôm đó, trời sáng trăng, nếu là trong một dịp khác,
có lẽ tôi sẽ cảm thấy tất cả vẻ thơ mộng của một ngôi chùa đẹp giữa núi rừng.
Nhưng phải đợi mấy chục năm sau, khi đọc
“Trúc Lâm Thiền Phái Tại Huế”
của Hòa Thượng Tín Nghĩa tôi mới biết được Trúc Lâm xứng đáng là một danh lam
thắng cảnh. Còn lúc đó thì tâm trạng rối bời, phần mệt mỏi, phần lo sợ bị bố ráp,
còn hơi sức đâu nữa mà ngắm cảnh
“trăng treo đầu
núi” ! ! Nhưng cũng trong
đêm đầu tiên đó, trong đêm khuya thanh vắng, bỗng chúng tôi thấy dáng dấp của
một vị Thiền sư đang xuất hiện trước sân chùa. Thì ra Ôn đang đi giữa vườn hoa
muôn màu muôn sắc. Ánh trăng lấp lánh, dáng dấp nhanh nhẹn của Ôn, khi ẩn khi
hiện, phong thái ung dung khiến thoáng một chốc tôi như quên nơi mình hiện sống,
thả hồn vào cảnh một Thiền Tăng của một Thiếu Lâm tự nào đó trong các chuyện
kiếm hiệp Trung Quốc, nửa đêm đang đi thanh sát, tìm kẻ gian đang rình mò ẩn nấp
quanh chùa. Tôi thiếp đi trong hình ảnh đẹp đẽ và kỳ thú đó.
Sáng hôm sau có tin Cảnh sát Dã chiến sẽ bố ráp lên tận đây, mấy anh em
chúng tôi lại phải di tản vào chùa Phò Quang, một ngôi chùa nằm trong núi sâu.
Tôi còn nhớ đêm đầu tiên ở chùa Khuông Phò, hình như có
“ai đó”
đến hỏi thăm chúng tôi. Trong nhóm, phần nhiều là các sĩ quan, nên tất cả phải
chui dưới bàn thờ Phật ẩn trốn. Ôn Khuông Phò ra trả lời với
“khách”
và tìm cách xua họ đi. Sáng ngày, tôi và anh Nguyễn Đình Luyện, một sĩ quan An
Ninh Quân Đội và cũng là Huynh trưởng cao cấp trong Gia đình Phật tử phải vào
trong núi sâu ngồi ẩn trốn giữa rừng và bàn cách vượt biên giới, chúng tôi đang
ở giữa hai lằn đạn và chịu áp lực rất nặng nề ngày cũng như đêm. Anh L. bàn với
tôi định trốn qua Lào. Nhưng mọi dự tính cũng chỉ là tính vội có vẻ phiêu lưu
mang một chút hơi hám lãng mạn của thời sinh viên hơn là thực tế. Sau đó vì ngán
những người “khách”
đêm khuya, chúng tôi lại phải trở ra lại chùa Trúc Lâm. Tôi cũng không nhớ thời
gian lánh cư ở chùa là bao lâu, nhưng dù sao đó cũng là nơi
“lánh xa trần tục” dù chỉ là mấy ngày
phù du. Rồi sau đó có sự dàn xếp để tôi ra trình diện chính quyền.Một buổi chiều
tối, tôi được đưa ra Nam Giao tạm trú ở chùa Sư nữ Diệu Đức ... cho được an toàn
như sự sắp đặt của quí Thầy trong Giáo Hội. Quí Ni sư rất ân cần tiếp nhận tôi
và sắp xếp cho tôi được ở ngoài một thảo am tận cuối khu vườn của chùa. Đêm hôm
đó một Ni sư đem cho tôi một cây đèn dầu và một danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát dài
dằng dặc của Sư bà trụ trì dặn tôi phải trì niệm, lâu ngày tôi cũng quên không
còn nhớ đầy đủ toàn lời kinh. Sáng ngày, do sự sắp xếp của Giáo Hội, Thầy trụ
trì chùa Vạn Phước là Thượng tọa Thích Tâm Hướng qua đón tôi để đưa qua chùa Từ
Đàm, đứng chờ dưới gốc cây Bồ Đề. Tôi không làm sao quên được nụ cười nhân từ,
phúc đức của Thầy ... với chiếc nón lá rộng vành, Thầy trông rất phong độ và đi
trước tôi để chở che. Mấy phút sau một chiếc xe Cảnh sát xịch đổ. Liền sau đó Ôn
Đôn Hậu từ văn phòng chùa bước ra và nói mấy lời với viên trưởng ty Cảnh sát Đặc
biệt Huế cho đúng thủ tục giao và nhận. Sau đó họ chở tôi về trình diện Tướng
Loan ở Tòa Đại Biểu Huế, tổng hành dinh của Viên Tướng Cảnh sát nhiều quyền uy
lúc đó.Đây chỉ là mới khởi đầu những ngày gian khổ. Chuyện 1966 còn dài, dịp
khác tôi sẽ xin kể lại đầy đủ hơn.
Thời gian tạm lánh tại chùa
Trúc Lâm tôi càng cảm nghiệm nhiều hơn tình thương bao la của Ôn Trúc với hàng
Phật tử cũng như nỗi lòng canh cánh của Ôn đối với Giáo Hội, với tiền đồ Phật
Giáo. Chỉ cần nghe ôn nói rất ít, Ôn thường nói rổn rảng, chậm rãi từng chữ,
nhưng mỗi câu, mỗi chữ của Ôn đều
toát lên cái khí phách cương nghị, can trường của một nhà tu dám đứng đầu sóng,
ngọn gió. Ở cạnh Ôn chúng tôi thêm vững niềm tin. Chúng tôi xem Ôn như một cái
bóng cha già đang che chở chúng tôi trong những ngày nhiều biến động đó. Cũng
cần nhắc lại một kỷ niệm khó quên trong thời gian tôi tạm lánh tại chùa Trúc Lâm.
Hòa Thượng Tín Nghĩa lúc đó còn là một thanh niên tăng rất năng động, hoạt bát,
tích cực trong công cuộc đấu tranh. Hòa Thượng là người đã liên lạc với phụ thân
tôi và đã ghé nhà tôi xa tận vùng cửa Chánh Tây, cho biết tin tức để ba mẹ tôi
yên lòng. Và cho đến nay, đôi lúc, Hòa Thượng vẫn còn nhắc nhở, chính Thầy là
người đã bới “bánh
nậm chay của hai Bác gửi cho anh chứ ai”. Thật là cảm động khi nghe
Thầy nhắc lại những kỷ niệm thân tình như thế, những chi tiết mà nếu Thầy không
nói, chắc tôi cũng không thể nhớ từng nét nhỏ nhặt yêu thương sau quá nhiều biến
động, thăng trầm nổi trôi của cuộc
sống.
Đầu năm 1992 tôi rời Việt Nam. Mấy tháng sau Ôn Trúc về cõi
Phật. Lâu sau tôi mới được hay tin. Vậy là tôi không còn cơ hội gặp lại Ôn một
lần nữa. Hôm nay viết những dòng này, nhìn tháp Ôn trong tác phẩm của Thầy Tín
Nghĩa, bùi ngùi thương nhớ. Nhưng không hiểu tại sao tôi vẫn mường tượng một Ôn
Trúc với nụ cười chúm chím rất có duyên, với tiếng nói chậm rãi, rổn rảng đầy
cương quyết, đang còn đâu đó và đang đứng bên hòn non bộ giữa vườn hoa muôn màu
muôn sắc của ngôi chùa Trúc Lâm thân yêu !
NGUYÊN TRUNG
Viết để tưởng niệm Ôn Trúc
Lâm

(xem tiếp)