Ôn Mật Hiển
chùa Trúc Lâm
Phật tử
THÁI THỊ KIM-LAN
hông
biết tôi đã lên chùa Trúc Lâm với mẹ vào tuổi nào, lúc lên tám ?
mười hay mười hai ?
Chỉ nhớ rõ nhất năm mười sáu, theo gia
đình lên Trúc Lâm kị tổ và thăm mộ ông nội nằm sau lưng chùa, mắt tôi rỡ ràng
khi đi qua vòm cổng trúc lá ngà, nắng mai vàng óng trên thân tre uốn mình kẽo
kẹt trong gió sớm, bất chợt cho khách cái cảm giác lạ lùng như vừa từ giã bụi
trần bước vào một cảnh giới phiêu diêu khác, Trúc Lâm hiện ra thanh nhã, từ bi,
an lạc với hồ sen bán nguyệt và lá trúc che ngang. Từ đó chùa Trúc Lâm trở nên
thân quen như chùa nhà, nhất là từ khi bà nội tôi được đưa về an táng bên cạnh
mộ ông. Chén nước chè Trúc Lâm thật đậm và nồi khoai sắn mới luộc nóng hổi tình
đạo sau giờ viếng mộ thắp hương.
Mãi những năm sau, thời
sinh viên, tôi thường theo anh chị em Đoàn sinh viên Phật tử lên chùa vào dịp
rằm hay mồng một. Cây khế ngọt trong sân bên trái từ cổng vào hôm nay vẫn còn
như in trong trí. Bốn mùa khế nở hoa tim tím lẩn trong lá xanh, dịu dàng như một
bài thơ hiền, cành khế lung linh trĩu quả chín vàng, không hái cũng uổng! Trái
khế chùa Trúc Lâm ngọt như phần thưởng Phật ban cho những dạ dày háu đói của bọn
trẻ cùng nhau đi tìm đạo...
Và hương hoa mộc !
Nghe như còn lẩn quẩn đâu đây khi nhớ về
cảnh sân trong của chùa, đơn sơ như chưa từng đơn sơ như thế, cành mộc nhỏ nhoi
đứng bên lu nước mưa chùa cất lọc để nấu trà ướp mộc. Trúc Lâm nhỏ nhắn và bình
an, với nhà tổ, nhà trai, nhà tăng vây quanh sân, u nhã và ẩn nhẫn bầu trời bỗng
lành hẳn dưới giàn hoa lý, làm cho đôi chân lưỡng lự mãi bên hiên, trong lúc
lòng lắng xuống theo hương hoa đang làm dịu dần cơn nóng bốc hỏa trên đầu...
Giữa tất cả những hình ảnh
ấy, trong bóng tối của nhà khách ba gian hai chái, khách thường lóa mắt nhìn vào
khoảng không gian đen ngòm tương phản với nắng rực lửa hay mưa u uất ngoài sân,
chưa kịp giở nón ôm trước ngực cúi chào, đã thấy lấp lánh như sao, đôi mắt của
Ôn Trúc Lâm,
“Thầy
Mật Hiển”,
như sinh viên chúng tôi thường gọi, nhìn ra như hai vì sao chỉ đường.
Ôn ngồi bình yên nơi ghế
trường kỷ hay nơi tấm phản ngựa có bàn hộp tộ với khay trà, an nhiên, im lặng
như chiếc bóng, nhưng là một chiếc
bóng tự tin vững chãi so với những hình bóng mộng ảo nghiêng ngữa trước sân...
Chưa kịp kìm cơn hoa mắt giữa tối và sáng thì đã thấy nụ cười của Ôn, không nở
rộng, đôi mắt sáng trưng như hai ngọn đèn đến giật mình kẻ đến.
Đối với sinh viên chúng
tôi, Ôn Mật Hiển là vị Thầy không
“xưa”
như quí Thầy khác. Ôn thường chia những nỗi vui
“thanh niên” với chúng tôi, với những
câu nhận xét về thời sự hay về đạo học bất ngờ thoát kinh điển, và nhất là
chuyện lái xe jeep xuống phố thăm
và ủy lạo các gia đình Phật tử. Ôn là vị Thầy duy nhất thời đó biết lái xe, vượt
ra ngoài khuôn sáo cũ. Không biết
bổn đạo nào đã tặng Ôn chiếc xe cũ mèn cà rịch cà tang ấy, nhiều lúc phải đẩy
một quãng đường dài, lăn xuống dốc Nam Giao, xe mới nổ máy. Ui chao, cả bọn trẻ
thấy vui nhộn khi theo phò tá Ôn những đoạn đường như thế, hò reo hì hục đẩy xe.
Phần thưởng là được Ôn cho ngồi trên xe đi xa thăm các gia đình Phật tử nghèo
hay đi cứu trợ những nơi hẻo lánh bị thiên tai. Và đi mô cũng tới nơi về tới
chốn, với lòng tin chắc về hạnh giúp người.
Nghe nói Ôn còn giỏi võ, có
lẽ một phần vì cái tên Trúc Lâm na ná giống Thiếu Lâm làm cho những đứa mê kiếm
hiệp như tôi tưởng tượng nhiều hơn. Nội dáng đi mau lẹ của Ôn cũng đủ làm cho
bọn trẻ chúng tôi tin chắc đàng sau dáng dấp ấy thuật phi hành xuất chúng của
những tay cao thủ võ lâm. Tôi cũng từng nghe các sư cô ở trong chùa Hồng Ân,
ngôi chùa sư nữ do Sư bà Diệu Không một thời trụ trì, ở cách Trúc Lâm một vườn
thông, kể với nhau rằng, họ đã thấy Ôn buổi sáng
“lăng ba vi bộ” trên lá sen nơi bán
nguyệt trì trước chùa, nghe giống như chuyện Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Tây Trúc trên
chiếc lá tre vượt sông Dương Tử đến phương Đông truyền đạo. Nếu ai đã từng thấy
Ôn trong tấm áo nâu nhà chùa dài rộng phấp phới trong gió mai, đầu đội nón tu lờ
(tức
chiếc nón rộng có 18 vành) thắt giải,
dáng đi thẳng trang nghiêm không đổi, từ Trúc Lâm đi bộ xuống chùa Từ Đàm trong
nháy mắt, thì người ấy chẳng còn nghi ngờ điều chi. Và trong trí nhớ của người
Phật tử vùng đó, tấm áo nâu, nón tu lờ trong nắng hình như đã vĩnh viễn khắc lên
màu xanh của cây, màu đá của núi Nam Giao, bầu trời xanh trong hay triền mưa ủ
dột của Huế, bóng dáng của vị đại sĩ cửa Thiền. Ôn Trúc Lâm đi cũng như bay !
Thuật khinh thân đâu có xa lạ với nhà võ
! ? Và từ đó cái tài trị
“hổ”, nhiếp phục quần hùng không phải
là chuyện phóng đại, nói thêm.
Quả thật Ôn nổi tiếng có
biệt tài hóa giải những tranh chấp hay tranh luận nội bộ của tổ chức Giáo hội
cũng như giải quyết những vấn nạn khó khăn về giáo lý đến từ bên ngoài. Dáng
điệu khoan thai, lời nói ôn hòa nhưng chính chắn và mực thước của Ôn, nhất là sự
giản dị ngay thẳng, không quanh co rào sau đón trước, thường làm sáng tỏ những
khúc mắc tưởng như không gở được do tính sân si của người đời, đồng thời làm dịu
những gay gắt giữa các phe tranh luận. Hình như sau những buổi thương thuyết,
ngay cả trong thời kỳ Pháp nạn 1963 cho đến những thời kỳ về sau, một trong
những người bước ra phòng họp đầu tiên là Ôn với nụ cười tủm tỉm. Và chúng tôi
biết ngay cuộc giàn xếp đã thành công.
Tôi chưa từng được nghe Ôn
giảng đạo, nhưng cũng nghe Ôn nghiêm khắc chỉnh lý các đệ tử trong việc tán tụng
kinh điển, giữ đúng giới luật, không được cẩu thả tùy tiện. Đối với sinh viên,
tôi đã từng chứng kiến những buổi tọa đàm thân mật, bình dị và hóm hĩnh của Ôn.
Ôn không dông dài giải thích một sự việc mà rất ngắn gọn, nhiều khi đột ngột
chấm dứt nửa chừng hay bỏ lửng không trả lời, nhưng lại đầy tác dụng bắt người
nghe suy nghĩ tiếp. Hình như Ôn biết tâm lý của từng sinh viên Phật tử hay bổn
đạo, cho nên cuộc nói chuyện trở nên những cuộc trị bệnh ngã mạn của từng người,
một cách nhẹ nhàng, như tuồng mỗi người đang tự chữa cho mình.
Thật thế Ôn đã nổi tiếng là
vị Thầy chữa bệnh tinh thần, giống như một tâm lý gia. Tôi nhớ nhiều Phật tử đã
kể với dáng điệu đầy bí mật và kính nể rằng
“Ôn có tài trị ma, nhiếp quĩ !”
Bất luận thứ tà ma nào gặp Ôn cũng đều
“cuốn gói chuồn đi” nếu không muốn bị
Ôn tóm cổ quẳng xuống ao sen !
Những lần lên chùa, lắm khi
tôi gặp một số bệnh nhân tâm thần đến yên dưỡng tại chùa Trúc Lâm. Hỏi mới biết
gia đình Phật tử ở tận đâu đâu xa xin gửi con hay cháu lên chùa nhờ Ôn chữa
bệnh, thường là những người còn trẻ hay trung niên. Quan sát thêm mới biết
phương pháp của Ôn dựa vào Thiền học, mà khoa tâm lý hiện đại gọi là
“chock-therapy”. Bằng tiếng quát ...
trả lời những cơn nói sảng mê loạn hay bằng gậy Thiền quất vào người, nắm chỏm
tóc, véo tai, ngứt mũi … khi người bệnh lên cơn điên, đang có
“ma” nhập vào, Ôn
“bắt ấn”, làm cho người bệnh
“giật mình”, đột ngột bị hất ra khỏi sự
hoang tưởng, từ đó chợt tỉnh ngộ, thoát khỏi cơn mê muội tâm thần. Sau đó bệnh
nhân được tự nhiên thoải mái trong những giờ ăn, sáng trưa chiều theo mấy hồi
công phu nghe kinh, rồi niệm Phật trong lúc đi dạo bên hồ hay trong vườn chùa,
hay đi tưới cây, trồng hoa … Bệnh nhân tập từng bước ăn chay và niệm Phật dưới
sự quan sát của Ôn. Nghe nói với phương pháp ấy và bàn tay
“bắt quyết”, Ôn đã tóm cổ không ít
những con ma quấy nhiễu con người, và phần nhiều bệnh nhân được chữa lành.
Sự thành công của Ôn dựa
vào nguyên lý mà Đức Pật đã truyền lại như là yếu quyết giải thoát, giải phóng
khỏi khổ đau : dựa vào nguyên lý bát
chánh đạo, vượt trên mọi đối đãi sinh tử và thực hành
từ bi, con người được hướng dẫn tập luyện công phu, từ tập thở, tập ăn,
tập ngồi, đạt đến
“tự chủ”
của 8 chánh
(chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
mệnh, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh huệ, chánh định),
lập lại thế quân bằng thân tâm, có nghĩa là
“không sợ”
(vô úy),
“không lưỡng lự ngần ngại”
(vô ngại),
thoát li điên đảo mộng tưởng, phát huy sự bình an của tâm hồn :
“ăn thì biết mình ăn”, “thở biết mình thở”, “đi là
Thiền”, “uống là Thiền”, “thở là Thiền”. Bệnh hoang tưởng, loạn
trí đã đưa con người đi lạc hướng cần sự dìu dắt tái lập lại tư thế hành động
như lúc đứa trẻ tập đi, tập ăn, tập nói.
Và Ôn Trúc Lâm đã thực hành
đúng theo lời Phật, Ôn nhổ từng mũi tên
“ma”
đã cắm sâu vào trong tâm của con người mà không cần lý luận.
Trúc Lâm được khai sơn do
Hòa Thượng Giác Tiên, một vị chân tu đặc biệt, tuy nhiên, Ngài trụ thế chỉ 57
tuổi, truyền đến đời Ôn Mật Hiển với công gìn giữ và phát huy truyền thống Thiền
vô úy. Trúc Lâm có hai gia bảo như tâm ấn truyền đời của chùa. Tôi được may mắn
trong số ít người được Ôn đích thân cho xem và tôi đã bị thôi miên bởi vẻ đẹp
nghệ thuật và lịch sử của chúng đó là tấm vải dệt bằng lụa trúc ti thêu bằng tay
bộ kinh Kim Cang, mỗi chữ một màu chỉ khác nhau, nghe nói bức thêu này do chính
tay Công chúa Ngọc Hân nhà Lê thêu, như một thứ trì kinh nhẫn nhục, được cất kỹ
trong một hộp gỗ đàn quí khảm xa cừ. Bảo vật thứ hai là một thanh kiếm quí đời
nhà Lê nằm trong một võ kiếm khắc chạm tuyệt vời, nghe nói sau này có kẻ lấy
trộm mất thanh kiếm. Đối với Ôn Trúc Lâm bảo toàn kinh Kim Cang cũng như bảo
toàn đạo pháp và tính mạng, mất kiếm không sợ bằng mất kinh, bởi vì truyền thống
của Trúc Lâm nằm trong tinh thần vô úy vô ngại của Kim Cang.
Tinh thần vô úy này đã giúp
chùa Trúc Lâm vững chãi trong những giai đoạn gian nan nhất của Đạo Pháp. Sau
1975, khi đến thăm Ôn, vẫn nụ cười ấy, Ôn bảo : không ai dám sai khiến Ôn điều
chi, Ôn hành động điều gì là cho Đạo Pháp, dù người ta không cho Ôn đi xe jeep,
mà chiếc xe đã cũ mèm, cũng không còn sử dụng được nữa, nhưng Ôn Trúc Lâm vẫn là
Ôn Trúc Lâm, thong dong, tự tại, vẫn đuổi
“ma”, trừ
“tà”, giúp Phật tử vượt qua những đau
khổ tinh thần, nhiều khi còn phiền não hơn cái khổ vật chất.
Về sau, từ thập niên 80 đến
bây giờ, Trúc Lâm đối với tôi và các thầy cô, chị em học trò trường Đồng Khánh
lại càng thân thiết, khi mộ chí của cô Tịnh Nhơn, cựu hiệu trưởng và giáo sư văn
chương trường nữ trung học Đồng Khánh, nằm ở sau lưng chùa, không xa mộ ông bà
nội của tôi, lại càng thân hơn. Cô Tịnh Nhơn đơn chiếc, không còn thân thích và
đứa con độc nhất lại tha phương, chùa Trúc Lâm lo hương khói cho cô quanh năm
đều đặn. Hàng năm đồng nghiệp còn lại và học trò của cô đều quyên góp với nhau
lên chùa
“kỵ”
(giỗ)
người bạn người thầy. Cuộc gặp gỡ trên chùa y hệt như trong một đại gia đình,
cái không khí
“mái chùa che
chở hồn dần tộc, nếp sống muôn đời của tổ tiên” thật là hiển
nhiên nơi Trúc Lâm !
Trước ngày Ôn mất, tôi hứa
mấy lần lên hầu Ôn, đến khi lên được, Ôn không tiếp khách vì trọng bệnh, vị thị
giả đem ra hai quả xoài bảo Ôn cám ơn chị đến viếng Ôn, Ôn giữ mãi oản quả này
đợi chị lên đó. Tôi cảm động đến rơi nước mắt, biết được Ôn vẫn nhớ tánh tình
từng sinh viên, biết tôi thích hoa quả. Chả là cây khế chùa Trúc Lâm đã từng bị
tróc nã từng quả một khi đám sinh viên như cơn lốc ào đến chùa, huyên náo, mà
thủ phạm chính là cô bé gầy nhất đám. Có điều chi ngoài đời thoát khỏi đôi mắt
sáng như điện, dù Ôn đang ngồi trong phòng tăng hay đang nhắm mắt ?
Chỉ một chút tri ngộ ấy
cũng đủ để nhớ đời. Huống chi công đức của Ôn đối với Đạo pháp và Phật tử Huế
thật là rộng khắp !
Hôm nay viết về Ôn, bỗng
nhớ khế Trúc Lâm, nhớ hương mộc trong sân, bụi trúc vàng cao quí trước ngõ, đôi
mắt của Ôn lấp lánh đàng xa, áo nâu in lên núi rừng uy nghi lồng lộng…
Thế gian đang đầy ma chướng,
ác quĩ vây bủa con người. Xin Bồ tát trở lại trần đi thôi !
Viết tưởng niệm Thầy
Một giờ ghé chân nước Mỹ
July 2007
Phật tử Thái thị Kim Lan
(xem tiếp)