MƯỜI LĂM NĂM,
MỘT THOÁNG NGẬM NGÙI
Thích Nguyên
Hạnh (*)
*.-
Năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời. Trước đó, Huế là
nơi đặt văn phòng Tổng Trị Sự Hội PGVN tại Trung Phần và Trụ sở Giáo Hội Tăng
Già Trung Việt, bây giờ trở thành văn phòng của Giáo Hội PGVN Thống Nhất Miền
Vạn Hạnh và Tỉnh Giáo Hội Thừa Thiên. Quý Ôn, Quý Thầy vốn là những cột trụ của
ngôi nhà Phật Giáo Miền Trung và của cuộc vận động cho tự do tín ngưỡng và công
bằng xã hội 1963, bây giờ trở thành những vị lãnh đạo của Giáo Hội PGVN Thống
Nhất từ Trung Ương đến Miền Vạn Hạnh và đến Tỉnh Giáo Hội Thừa Thiên.
Ở đó, Ôn Trúc Lâm là vị lãnh đạo tự nguyện ở một cương vị hết sức khiêm
nhường so với tầm vóc lớn vốn có của Ôn là Đặc Ủy Tăng Sự trong Ban Đại Diện
Tỉnh Giáo Hội. Chính cương vị khiêm
nhường này đã làm cho tầm vóc lớn đó mang một nhân cách đặc biệt, khẳng định một
tâm hồn cao khiết vì Đạo quên mình, vì mối lo cho Đạo mà chẳng màng đến địa vị
cao thấp, lớn nhỏ phù phiếm.
Hào quang thành công của
cuộc vận động 1963 không khỏi gây mầm cho những suy đồi phẩm hạnh, những nhiễu
nhương của hoàn cảnh Đạo ở trong Đời.
Phật Giáo nên hư thế nào không phải chỉ ở nơi những thành bại khi đương
đầu với thế sự mà cốt yếu là ở nơi hình ảnh, đạo phong của người Tu sĩ trước hết.
Đó là điều Ôn thấy và thấy trước.
Đó là mối lo gan ruột của bậc tôn túc, đêm ngày hoài tâm cho Đạo.
Cho nên, Ôn đã tự nguyện làm Đặc Ủy Tăng Sự để cầm cương nẫy mực cho
người Tu sĩ, để giữ gìn mối Đạo cho trong sáng vững bền giữa một thời đầy biến
động ngữa nghiêng. Hẵn nhiên, là
một trong những hình bóng lớn, Giáo Hội đâu thể để Ôn ở yên trong không khí
thiền môn xứ Huế mà cung thỉnh Ôn vào những trọng nhiệm mang tầm vóc và ảnh
hưởng rộng lớn hơn cho Phật Giáo
cả nước được nhờ. Nhưng Đặc Ủy Tăng
Sự Tỉnh Giáo Hội Thừa Thiên mà Ôn tự nguyện gánh vác trong nhiều nhiệm kỳ mới
bộc lộ rõ tâm huyết của một bậc Thầy hiếm có.
Nhờ tâm huyết đó mà Phật Giáo Huế giữ được kỹ cương, giềng mối của mình
kinh qua những năm tháng đi vào hoạt trường rối rắm của xã hội miền
Nam
sau 1963. Nhờ tâm huyết đó mà hình
ảnh người Tu sĩ xứ Huế vẫn còn đó những nét đẹp truyền thống của cốt cách đạo
phong khi hoàn cảnh đã làm cho sinh hoạt người Tu sĩ phải nhuốm màu thế sự ít
nhiều. Rất có thể, lắm khi Ôn không
làm gì nhiều, Ôn chỉ ngồi đó - một chỗ ngồi rất mực khiêm tốn ;
và im lặng - một sự im lặng như sấm sét.
Nhưng Đạo lực vô hành vốn không làm gì mà lại làm được tất cả những gì cần làm
nhất để cho tất cả mọi hoạt động vận hành chung quanh tâm điểm.
Ôn là như thế, là một trong những nguồn Đạo lực vô hành của Phật Giáo Huế
mà kẻ bình thường có thể cảm nhận được.
Cũng rất lắm khi Ôn làm, Ôn nói.
Thấy điều gì nên cho Đạo thì thực hiện chẳng chút phân vân ;
thấy điều gì hư cho Đạo thì ngăn cản
chẳng kể ngang trái. Chẳng khác nào
con sư tử một khi cần thì chuyển mình cất tiếng rống.
Đó là bài học lớn mà Ôn đã thân giáo cho tất cả những người con Phật làm
việc Phật khi tự nguyện xuống làm một Đặc Ủy Tăng Sự như thế.
*.-
Thế
hệ học tăng chúng tôi vào thập niên 60 thế kỷ trước ở Huế từng truyền nhau nhiều
giai thoại về Ôn. Nào Ôn hành trì
Mật Tông có nhiều pháp thuật khiến quỷ thần
cũng kinh sợ. Nào Ôn từng lột áo
một Thầy ở giữa đường phố vì tác phong thiếu oai nghi.
Nào Ôn la rầy không vị nể một ai trong cả hai giới Tăng Ni ngay giữa chốn
đông người ….. Những giai thoại truyền tụng như thế khiến chúng tôi nghe mà
“ớn”,
để không dám đến gần Ôn ; và tạo nên một
ấn tượng đặc biệt về hình ảnh của Ôn trong đầu.
Thế rồi, một ngày vào năm
1963, tôi đội chiếc mũ rộng vành - một loại mũ mới chế khá thích hợp cho người
tu mà Thầy N. Hồng là người đầu tiên đem ra Huế sử dụng - lên Chùa Từ Đàm.
Trời xui đất khiến thế nào, tôi gặp Ôn đứng ngay trước cửa văn phòng Từ
Đàm.
Không trốn đi đâu được, tôi
vừa dở mũ chắp tay cúi đầu thì Ôn hỏi ngay Chú
ở Sài Gòn ra hả ?
Tôi ngạc nhiên kính cẩn
thưa : Bạch
Ôn, con ở Báo Quốc lên.
Đang hồi hộp không biết vì
sao Ôn hỏi như thế thì nghe Ôn nói bằng một giọng nhỏ nhẹ đến không ngờ :
Thầy
tu ở Huế đâu có đội mũ như rứa hè !
Thì ra là vì cái mũ !
Nghe giọng nói của Ôn, tôi biết mình thoát nạn, cất được cái gánh nặng
hồi hộp, lo âu trong lòng ; và bắt đầu
cảm nhận ở Ôn một cái gì khác xa với hình ảnh đã thành ấn tượng trong tôi từ
trước.
Năm 1973, Thầy Châu Toàn -
cao đồ của Thượng Tọa Mật Thể là pháp đệ của Ôn - mất.
Tôi đến Chùa Trúc Lâm ở Sài Gòn dự tang lễ.
Trong lúc chờ đợi, giữa nhiều người qua lại trước sân, tôi thấy Ôn Già
Lam và Ôn đứng bên khóm trúc vàng, lặng lẽ, ít nói.
Đôi mắt có thần của Ôn hôm đó, thăm thẳm một trời u uẩn như nhìn vào một
chốn nào xa xăm. Khuôn mặt nghiêm
nghị khô lạnh của Ôn như bao phủ một niềm trầm thương không nói nên lời.
Tôi lặng nhìn Ôn với tất cả nỗi xúc động tận đáy tâm hồn mình. Trong
khoảnh khắc, hình ảnh đầy ấn tượng trước đây về Ôn như tan biến để thay vào đó
là một tấm lòng dịu dàng bao la như cảm thương cho kiếp sống ngắn ngủi của người
tử đệ. Và tôi chợt hiểu ra, trong
con mắt lúc nào cũng như có thần kia là cả một biển từ tâm vô lượng ;
trong khuôn mặt nghiêm cách đến khô lạnh
kia là cả một trời xót thương vô hạn.
Kính lạy Ôn,
Ngày 10 tháng 4 Đinh Hợi
vừa qua, con được cùng các đệ tử sau cùng của Ôn làm Lễ Tưởng Niệm ngày Ôn ra đi
15 năm trước tại một ngôi chùa nhỏ ở Atlanta, Georgia.
Phủ phục trước bàn thờ, hình ảnh Ôn hiện về sống động cùng với bao hình
ảnh của những bậc Thầy đã đến và đã đi ở cuộc đời này mà con được biết ;
để rồi, lòng con chùng xuống một nỗi
ngậm ngùi khôn tả. Đã 15 năm rồi,
ngày Ôn ra đi. Cơ đồ Phật Giáo Việt Nam và
riêng Phật Giáo Huế đã mấy phen nghiêng ngã.
Cơn gió thời thế chưa ngừng thổi mà những mất còn đã rõ.
Mất và còn. Trong chỗ kỳ
cùng vốn không có lời để nói thì thôi.
Nhưng ở chốn nhân sinh hệ lụy này, 15 năm vắng bóng Ôn, chốn rừng Thiền
trơ trọi những cây xanh hứng gió mưa giông bão, một chút mất còn nào cũng làm
nên ý nghĩa cho những nên-hư, thành-bại cả riêng và chung.
Và như thế mà con xin kính lạy Ôn, kính lạy các bậc Thầy như Ôn để mong
Ôn, mong các bậc Thầy như Ôn sớm trở lại cõi đời làm những hóa thân Đại Nguyện
của các bậc Hùng Sư Đại Sỹ.
Cúi đầu kính
lễ,
(*)
Nguyên trước 1975, là Giáo sư của
Đại học Văn khoa Huế. Bây giờ là ngôi vị Thượng tọa, Viện chủ Trung tâm chùa
Phật Giáo Việt Nam tại thành phố Houston, tiểu bang Texas.
(xem tiếp)