LỘ TRÌNH MUÔN VẠN
DẶM
Kinh dâng giác linh Hòa Thượng Giác
Tiên (1880- 1936),
người đã xây dựng lộ trình hoằng hóa
dài muôn vạn dặm.

hùa
Tây Thiên năm 1942 đúng là cảnh giới Cực Lạc trên trần gian đối
với tôi, một chú tiểu 12 tuổi. Ôn Tây Thiên hiền hòa, từ ái, ôn
Đôn Hậụ trang nghiêm, chú Hoằng Thơ, Trọng Ân học tăng Phật Học
Viện ; chú Thiện
Tánh, Thiện Mãn, đệ tử ôn Tây Thiên ;
chú Trí Diệm, Trí Đăng, Trí Cảnh, Nhật Ích đệ tử ôn Đôn
Hậu, người nào người nấy ung dung, thoát tục. Thỉnh thoảng ôn
Thuyền Tôn, ôn Qui Thiện, ôn Từ Hiếu, ôn Trúc Lâm đến thăm. Thật
là cảnh giới Phật. Chung quanh các Ôn tuồng như có một đạo hào
quang bao phủ, một luồng khí thiêng làm cho chú tiểu 12 tuổi
choáng ngợp khó diễn tả được.
Ôn Tây Thiên và Ôn Đôn Hậu, hai anh em
sống chung một chùa, mặc dầu lúc đó Ôn Đôn Hậu đã làm Trú trì
chùa Diệu Đế và Linh Mụ, nhưng vẫn ở Tây Thiên. Hai Ôn quí trọng
nhau, thương mến nhau. Đây là không khí của cảnh chùa mà trước
đó 40 năm chỉ là một cái thảo am tọa lạc tại thôn Dương Xuân
Thượng, xã Thủy Xuân, tỉnh Thừa Thiên . Chùa do Hòa thượng Tâm
Tịnh sáng lập năm 1902, gọi là Am Thiếu Lâm. Năm 1904, thảo am
được đổi tên thành chùa Thiếu Lâm. Năm 1911, chùa được trùng tu,
đúc tượng Phật A Di Đà và được đổi tên là Tây Thiên Phật Cung.
Năm 1933, vua Bảo Đại ban tấm biển Sắc Tứ Tây Thiên Di Đà Tự.
Năm 1937 trường Phật Học được dời từ chùa Trúc Lâm đến chùa Tây
Thiên.
Ôn Tâm Tịnh là một trong những
đệ tử xuất sắc của Hòa thượng Lương Duyên, người đã đắc pháp với
Hòa thượng Nhất Định, tổ khai sơn chùa Từ Hiếu. Ôn đã từng giữ
chức Tăng Cang chùa Diệu Đế. Năm 1902, để có nhiều thì giờ tu
tập, Ôn nhường chức vị trú trì tổ đình Từ Hiếu cho Ôn Huệ Minh,
cất
am Thiếu Lâm
ở thôn Dương Xuân Thượng để tu hành. Ông mang theo người đệ tử
tâm đắc nhất của Ôn là Giác Tiên lúc ấy 24 tuổi về Thiếu Lâm.
Tại đây Ôn nhận thêm nhiều đệ tử như Giác Nguyên
(Ôn Tây
Thiên),
Giác Nhiên
(Ôn
Thuyền Tôn),
Đôn Hậu
(Ôn
Linh Mụ)
. . ..
Ôn Tâm Tịnh
rất có uy tín ở kinh đô. Vua Khải Định thường hay để xe cộ, thị
vệ dưới đồi, đi bộ một mình lên chùa thăm. Vua đã giúp đỡ cho Ôn
phương tiện tổ chức Đại Giới Đàn năm 1924 tại chùa Từ Hiếu mà Ôn
là Đường Đầu Hòa Thượng thuộc thế hệ 41 dòng Lâm Tế.
Dòng Lâm Tế là một trong ba thiền phái
chính, đó là Lâm Tế, Tào Động và Hoàng Bá. Từ Lục Tổ Huệ Năng
chùa Tào Khê qua Nam Nhạc, Mã Tổ, Bách Trượng, Hoàng Bá đến Lâm
Tế Nghĩa Huyền tức thế hệ thứ 6 của tổ Huệ Năng. Ngài Lâm Tế
người Nam Hoa, Tào Châu, Hà Nam, đời Đường, họ Hình, xuất gia,
hâm mộ Thiền. Lúc đầu đến Giang Tây tham học với ngài Hoàng Bá
Hy Vân, sau theo học các ngài Cao An Đại Ngu, Qui Sơn Linh Hựu,
cuối cùng trở về thụ ấn với ngài Hoàng Bá. Năm Đại Trung thứ 8,
đời vua Tuyên Tông, đến làm trú trì chùa Lâm Tế, Trấn Châu, Hà
Bắc, thiết lập cơ pháp tâm huyền, tâm yếu, thành Lâm Tế Tông.
Đời có câu Đức Sơn đánh gậy,
Lâm Tế quát hét,
dùng phương thức thoại đầu. Ngài viên tịch
tháng 4 năm Hàm Thông thứ 8, được ban thụy là Tuệ Chiếu Thiền
Sư. Ngữ lục của ngài do môn nhân Tuệ Nhiên biên tập gọi là
Trấn Châu Lâm Tế Tuệ Chiếu Thiền Sư
Ngữ Lục.
Lâm Tế Lục, Hội
Nguyên,
quyển 11 chép :
Lâm Tế đến học đạo với
ngài Hoàng Bá, ba lần hỏi ngài Hoàng Bá thế nào là yếu nghĩa
Phật Pháp, ba lần bị ngài Hoàng Bá lấy gậy gõ vào đầu. Lâm Tế
giã từ ngài Hoàng Bá đến gặp ngài Đại Ngu. Đại Ngu hỏi : Hoàng
Bá có nói gì không ? Lâm
Tế trả lời : Đệ tử hỏi
yếu nghĩa của Phật Pháp là gì, ba lần hỏi ba lần bị ăn gậy mà
không biết phạm lỗi gì. Đại Ngu bảo :
Hoàng Bá đã có cách chỉ
dạy, vậy đến ta làm gì ? Nghe
xong Lâm Tế đại ngộ .
Hòa thượng Tâm Tịnh là đời thứ 41 của dòng
Lâm Tế. Ôn viên tịch năm 1936 hưởng thọ 59 tuổi. Phật tử xứ Huế
mất đi một vị Thầy đạo hạnh, lòng mến mộ được bày tỏ trong hai
câu đối :
Chốn Sơn Lâm mây ẩn
bóng Ưu Đàm,
dứt nối tiếng
chuông, dép cỏ đi về còn tưởng tượng ;
Miền Thiếu Thất
trăng lồng gương Bát Nhã,
mênh mang biển học,
thuyền từ che chở biết nhờ ai ?
Cách đây gần 20 năm, lần đầu tiên viếng
thăm Phật tích tại Ấn Độ, một chiều nọ, đứng trước tượng nhập
niết bàn của đức Bổn Sự tại Kusinara, lòng tôi dạt dào cảm xúc.
Nhìn ngôi tượng Phật nhập niết bàn trong cảnh u tịch buổi hoàng
hôn ấy, tự nhiên nước mắt tuôn trào. Tôi cảm thấy nước mắt của
mình hòa với nước mắt của hàng Phật tử Huế trước sự ra đi của
bậc Thầy khả kính : Chốn Sơn
Lâm mây ẩn bóng Ưu Đàm,
mà họ còn nghe bước đi nhè nhẹ của vị Thầy
chân mang dép cỏ, từ xa bước tới, nhưng rồi họ sực tỉnh, vị Thầy
khả kính ấy không còn nữa, lòng đau như cắt, bơ vơ giữa trần thế
phù du, giữa sóng đời cuồn cuộn !
Ôn ra đi, nhưng may mắn còn lại người đệ
tử tâm đắc. Người đệ tử mà Ôn mang theo khi đến xây dựng thảo am
Thiếu Lâm. Người đệ tử đắc ý ấy là
Ôn Giác Tiên,
người bước lên trên lộ trình hoằng đạo do
bổn sư đã dày công chuẩn bị. Ôn sinh năm 1880, xuất gia năm 15
tuổi tại chùa Từ Hiếu, thọ sa di năm 21 tuổi. Năm 24 tuổi theo
thầy về am Thiếu Lâm. Năm 30 tuổi, tức năm 1910 được thầy gửi
đến đại giới đàn Phước Lâm, Quảng Nam, thọ cụ túc giới, làm thủ
chúng sa di. Năm 1913, khi ni sư Diên Trường, đồng sư thúc bá
với Ôn Tâm Tịnh,
xây dựng xong chùa Trúc Lâm, xin phép Ôn, mời Sa Môn Giác Tiên
làm Trú Trì, vị trú trì đầu tiên của chùa Trúc Lâm, người bước
lên lộ trình hoằng hóa dài muôn vạn dặm.
Hòa Thượng Giác Tiên
là một trong những vị khởi xướng phong
trào phục hưng Phật Giáo tại miền Trung. Ông họ Nguyễn, sinh năm
1880 tại làng Giạ Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy,
tỉnh Thừa Thiên. Ông xuất gia năm 11 tuổi tại chùa Từ Hiếu, theo
thầy học đạo năm 14 tuổi, thọ Sa Di năm 21 tuổi, pháp danh Trừng
Thành, đệ tử của Hòa Thượng Tâm Tịnh. Năm 1904 Hòa Thượng Tâm
Tịnh nhường chức vụ trú trì chùa Từ Hiếu cho một vị khác, đến
thôn Dương Xuân, dựng am Thiếu Lâm để tĩnh tu. Giác Tiên năm ấy
24 tuổi, theo thầy về Thiếu Lâm. Bốn năm sau, năm 1910 chùa
Phước Lâm ở Quảng
Nam
tổ chức Đại Giới Đàn do Hòa thượng Vĩnh Gia làm Đường Đầu Hòa
Thượng, Giác Tiên được gửi vào thọ giới Cụ Túc, được chỉ định
làm Thủ Chúng Sa Di. Năm 1913 Ni sư Diên Trường xây xong chùa
Trúc Lâm, ông được mời về làm Trú Trì. Năm 1920 khi Hòa thượng
Huệ Pháp mở giảng đường tại chùa Thiên Hưng, ông và đệ tử đến
học.
Chí nguyện hoằng
hóa bắt đầu.
Việc làm đầu tiên là xây dựng hàng Tăng sĩ
qua tổ chức đại giới đàn năm 1923 tại chùa Từ Hiếu mà bổn sư Tâm
Tịnh là Đường Đầu Hòa Thượng, sư đệ Đôn Hậu và đệ tử Mật Khế là
giới tử thọ cụ túc giới. Năm 1925 theo chiếu chỉ triều đình, ông
nhận chức Trú Trì chùa Diệu Đế.
Bước kế tiếp là đào tạo Tăng tài :
Năm 1929, sau khi trùng tu xong chùa Trúc Lâm, ông mở
Phật Học Viện tại chùa Trúc Lâm, Phật Học Viện đầu tiên tại Huế
và vào Bình Định mời Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp ra làm
chủ giảng. Năm 1933 ông ủy cho đệ tử là Mật Khế mở Trường Phật
Học Sơ Cấp tại chùa Vạn Phước, trường Phật Học Trung Cấp tại
chùa Tường Vân do Sa Môn Tịnh Khiết hướng dẫn. Năm 1935 ông cùng
với đệ tử Mật Khế và Hội An Nam Phật Học tổ chức một Phật Học
Viện gồm cả Sơ Cấp, Trung Cấp, Cao Cấp, thu nhận 50 học tăng.
Năm 1936 trường này được dời về Túy Vân và cuối năm ấy được dời
về Báo Quốc do thầy Trí Độ làm Giám Đốc. Năm 1937 tổ chức Sơn
Môn Huế thiết lập một Phật Học Viện tại chùa Tây Thiên gồm đủ ba
cấp, qui tụ tăng sinh Phật Học Viện Vạn Phước, Tường Vân. Nói
tóm lại trong một thời gian ngắn, Ôn Giác Tiên đã vận động tổ
chức nhiều Phật Học Viện :
cùng với Hội An Nam Phật Học tổ chức Phật Học Viện Trúc
Lâm - Túy Vân - Báo Quốc. Cùng với chư tôn túc Sơn Môn Tăng Già
xây dựng Phật Học Viện Vạn Phước - Tường Vân - Tây Thiên đào tạo
các bậc lương đống của Phật Giáo như Quảng Huệ, Đôn Hậu, Trí Thủ,
Chánh Thống, Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Hoằng Thơ,
Trọng Ân . . . xuất thân từ Phật Học Viện Tây Thiên ;
Trí Tịnh, Trí Quang, Thiện Minh, Trí Thuyên, Thiện Siêu,
Thiện Hòa, Thiện Hoa, Huyền Quang . . . xuất thân từ Phật Học
Viện Báo Quốc.
Ôn không
bỏ quên Ni Giới. Về Ni Chúng, ni sư Diên Trường là người
không những có công với Ni Chúng mà còn là người xây dựng chùa
Trúc Lâm, nơi khởi điểm của phong trào chấn hưng Phật Giáo. Ni
Sư họ Hồ Đắc, sinh năm 1863 tại làng An Truyền, huyện Phú Vang,
tỉnh Thừa Thiên, Huế. Thân mẫu là bà Công Nữ Thúc Huấn, con gái
của Tùng Thiện Vương, xuất gia năm 1898 tại chùa Từ Hiếu, lúc bà
36 tuổi, sau khi chồng và con trai qua đời, chỉ còn một cô con
gái, sau này là phu nhân của bác sĩ Trương Xướng. Hòa thượng Hải
Thiệu, hiệu Cương Kỷ cho bà pháp danh Thanh Ninh, pháp tự Diên
Trường. Năm 1910 bà được thọ giới cụ túc tại giới đàn Quảng Nam
do hòa thượng Vĩnh Gia làm Đường đầu Hòa thượng. Sau một thời
gian tu tập tại chùa Từ Hiếu, bà được bổn sư ủy thác trùng tu
chùa Phổ Quang gần dốc Bến Ngự để làm cơ sở tu học cho Ni Chúng.
Chùa Phổ Quang về sau Thượng tọa Mật Thể làm Trú Trí, tôi có dịp
làm thư ký cho Thượng tọa biên chép một số sáng tác văn học Phật
Giáo của Thượng tọa. Đệ tử sáng giá của Thượng tọa là Châu Toàn,
kế nghiệp thầy viết chữ Nho rất đẹp, làm Giám Đốc Trường Thanh
Niên Phụng Sự Xã Hội tại chùa Pháp Vân, Sàigòn.
Chùa Phổ
Quang vừa được trùng tu xong, thì đường rầy xe lửa Bắc Nam được thiết lập ngang trước cổng
chùa. Muốn được yên tĩnh, bà tìm một ngọn đồi gần Cầu Lim ở làng
Dương Xuân Thượng, lập chùa Trúc Lâm. Lập
xong, bà vào chùa Tây Thiên xin sư huynh là Hòa thượng Tâm Tịnh
cho phép Sa Môn Giác Tiên về làm Trú Trì chùa Trúc Lâm, còn bà
lập một Ni Xá riêng tại chùa cùng với các ni sư khác như Chơn
Hương, Diệu Hương, Giác Hải . . . cùng nhau tu học. Năm 1925,
đúng vào ngày Phật Đản, bà rước các Hòa thương Tâm Tịnh chùa Tây
Thiên, Huệ Phước chùa Thiên Hưng đến Trúc Lâm tụng kinh Pháp Hoa.
Đến trưa, sau khi bộ Pháp Hoa được tụng xong, bà làm lễ tạ, rồi
vào thiền phòng, ngồi kiết già mà viên tịch, hưởng thọ 64 tuổi.
Ni sư Diệu Hương, một trong những vị ni tu học tại Ni Xá
Trúc Lâm dưới sự hướng dẫn của Ni sư Diên Trường, dưới sự chỉ
dạy của Sa Môn Giác Tiên . Ni sư tục danh là Nguyễn Thị Kiều,
sinh năm 1884 tại làng Dạ Lê Hạ, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa
Thiên. Năm 16 tuổi, được vua Thành Thái tuyển vào cung, phong
làm Mỵ Tân. Năm 20 tuổi vào năm 1904 sinh được một hoàng nữ rất
xinh đẹp. Năm 1915, lúc bà 31 tuổi, vua Thành Thái bị đi đày và
hoàng nữ qua đời vì bị bệnh, bà xin xuất gia học đạo với Hòa
thượng Thanh Thái, trú trì chùa Tường Vân. Bà thọ đại giới năm
1924 tại đại giới đàn Từ Hiếu, năm đó bà được 40 tuổi. Năm 1928
Ni Viện Diệu Viên ở huyện Hương Thủy được thành lập, bà được mời
về hướng dẫn Ni Viện. Năm 1932, một Ni Chúng được thành lập tại
chùa Từ Đàm, bà được mời về hướng dẫn ni chúng. Năm 1934, Ni
viện Diệu Đức được thành lập, bà được mời về làm Tọa chủ. Bà
tiếp tục lãnh đạo Phật Học Viện
dành cho Ni Chúng tại chùa Diệu Đức cho đến năm 1971 khi bà viên
tịch, hưởng thọ 88
tuổi.
Bà là một Ni trưởng rất từ ái đối với Ni
chúng, rất cung kính đối với chư tăng, dù là một chú tiểu. Tôi
còn nhớ năm 1947 sau khi sư phụ thọ nạn tại chùa Linh Mụ, sắp
sửa bị quân Pháp chôn sống, may nhờ ông Tôn Thất Hối báo tin cho
đức Từ Cung, qua Nam Phương Hoàng Hậu, sư phụ thoát nạn, sai tôi
lên chăm sóc chùa. Năm ấy tôi mới 17 tuổi. Một hôm ra vườn làm
cỏ, y áo để trong chùa, chỉ mặc chiếc quần đùi, bị kẻ trộm lấy
hết. Tôi ở trần, mặc quần đùi, đi chân không về chùa Diệu Đức
nhờ các cô anh em đồng sư Thanh Quang, Diệu Lý, Diệu Bảo may áo
quần. Sư bà Diệu Hương, mà chúng tôi thường gọi là Bà Mỵ, Giám
Đốc Ni viện Diệu Đức không những cho ăn cơm mà còn vui vẻ ngồi
tiếp chuyện. Kỷ niệm suốt đời tôi không quên được.
Trong số các Ni sư, Sư bà
Diệu Không
là người tích cực hoạt động. Bà tên là Hồ
Thị Hạnh, sinh năm 1905 tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, Tỉnh
Thừa Thiên, theo học với Sa Môn Giác Tiên tại chùa Trúc Lâm,
xuất gia năm 1942, thọ đại giới năm 1944 tại giới đàn Thuyền Tôn
do Hòa thượng Giác Nhiên làm Đường Đầu Hòa Thượng, giới đàn nầy
tôi được thọ Sa Di. Khi chưa xuất gia bà đã có công vận động xây
cất Ni viện Diệu Viên và Ni viện Diệu Đức. Bà là Viện chủ của Ni
viện Hồng Ân, là bổn sư của Ni Sư
Trí Hải,
Thư Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, một
dịch giả Phật học danh tiếng của Việt Nam.
Tôi còn nhớ khi sư bà lúc chưa xuất gia, thỉnh thoáng ghé hầu
thăm Ôn Tây Thiên, Ôn Linh Mụ. Tăng chúng trong chùa xôn xao,
cho biết đó là bà Cao Xuân Xang, một nữ cư sĩ, không những có
lòng hộ đạo mà còn là một người thông hiểu Tam Tạng, được học
đạo với Hòa thượng Phước Huệ, với Ôn Giác Tiên. Tôi có phước
duyên được bà săn sóc trước khi xuất ngoại du học và sau khi trở
về nước. Có lần thấy tôi không vui. Lúc đó vào năm 1961. Bà hỏi
thăm phải chăng tôi cần phương tiện áo quần, xe cộ, vì sư bà
thấy tôi mặc cái áo tràng nâu vá nhiều chỗ và đi chiếc xe đạp
lạch cạch. Bà đề nghị mua xe hơi cho tôi . . . Sau khi tôi ra
đời bà vẫn thường xuyên đến nhà thăm viếng mỗi lần có công việc
Phật sự vào Sàigòn .
Việc làm tiếp của Sa môn Giác Tiên là đào
tạo hàng cư sĩ tại gia. Trong số những người theo học tại Phật
Học Viện Trúc lâm do Hòa thượng Phước Huệ, viện chủ chùa Thập
Tháp, Bình Định làm chủ giảng là bác sĩ
Lê Đình Thám,
pháp danh Tâm Minh, đệ tử của Ôn Giác Tiên
từ năm 1928. Ôn đã cổ võ, hướng dẫn bác sĩ Lê Đình Thám và các
thân hào nhân sĩ Huế như cụ Ưng Bàng, Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn
Khoa Tân, Viễn Đệ, Nguyễn Khoa Toàn, Ưng Bình, Bửu Bác, Trần
Đăng Khoa, Lê Thanh Cảnh, Lê Quang Thiết, Trương Xướng, Tôn Thất
Quyên, Nguyễn Xuân Tiêu, Hoàng Xuân Ba, Lê Bá Ý, Tôn Thất Tùng .
. . hầu hết những danh gia vọng tộc chốn kinh đô, cùng nhau
quyết tâm, theo đà chấn hưng Phật giáo thế giới, thành lập Hội
An Nam Phật Học, với danh xưng tiếng Pháp là
Société d’Études et d’Excercice de la
Religion Bouddhique en Annam,
một tổ chức nghiên cứu, học hỏi giáo lý và
thực hành giáo lý Phật . Từ Hội này, mỗi tỉnh ở Trung Việt đều
có Chi Hội, mỗi xã đều có Khuôn Hội. Và cũng từ tổ chức này phát
sinh Đoàn Phật Học Đức Dục dành cho thanh niên Phật Tử, đoàn
Đồng Ấu, tiền thân của Gia Đình Phật Hóa Phổ, của Gia Đình Phật
Tử Việt Nam.
Dưới sự hướng dẫn của Ôn Giác Tiên, Sơn
Môn Huế cùng Hội An Nam Phật Học hướng đến hai mục tiêu :
Đào tạo tăng tài và chỉnh lý tăng giới. Ngoài việc thành
lập các trường Phật học, Ôn còn đề ra chương trình chỉnh lý tình
trạng Tăng sĩ.
Chỉnh lý Tăng Giới.
Sau bao nhiêu năm ly loạn, tình trạng tăng
giới thật hết sức bi thảm. Thượng tọa Mật Thể trong cuốn Việt
Nam Phật Giáo Sử Lược trang 188 viết :
“ . . . Tăng đồ
trong nước dần dần sa vào con đường trụy lạc, cờ bạc, rượu chè,
đắm trước thanh sắc . . . ở Trung Kỳ phần nhiều thì họ có vợ có
con một cách công nhiên, không còn áy náy, nhứt là Nam Kỳ ông
thầy bà vãi lại càng hỗn độn hơn nữa . . .”
Muốn phục hưng Phật Giáo, phải chấn chỉnh
Tăng Già. Qua nhận định ấy, Ôn vận động chư tăng và Hội An Nam
Phật Học thực hiện kế hoạch chỉnh lý, gồm hai điểm chính :
A.-
Thành lập Hội Đồng Giám Luật ở cấp
trung ương cũng như địa phương để giám sát giới hạnh của Tăng
Ni. Dưới cấp tỉnh là địa phận. Mỗi địa phận có một vị giám luật
chịu trách nhiệm báo cáo mọi hành động vi phạm giới luật của
Tăng Ni trong địa phận lên cấp Tỉnh để giải quyết, nếu giải
quyết không được lên cấp trung ương để phán xét.
B.-
Tổ chức các Ban Nghi Lễ do các vị
“thầy
cúng” đảm trách. Những vị
này làm lễ cầu an, cầu siêu, hướng dẫn tang lễ, chỉ được mặc áo
màu xám năm thân, không được mặc áo tràng, áo nhật bình, y màu
nâu hay vàng. Họ ở nhà hoặc ở chùa riêng để hành nghề chứ không
được ở thiền viện và tổ đình, nơi
dành riêng cho Tăng Ni tuân thủ giới luật. Muốn làm thầy
cúng tối thiểu phải giữ một hay hai giới trong 5 giới
(Viên
Âm số 14, tháng 3 năm 1935)
Hàng cư sĩ ủng hộ chương trình chỉnh lý này
bằng cách :
a.- Không nhận
người phá giới là tăng sĩ.
b.- Vất bỏ những
điệp qui y, thọ giới do các ông thầy tu phá giới cấp phát.
c.- Công bố tên
tuổi những ông thầy phá giới nếu có đủ bằng chứng.
d.- Bảo vệ và cúng
dường hàng thanh tịnh tăng.
e.- Không tham dự
vào những công việc không phù hợp với Chánh Pháp.
f.- Tích cực tham
gia công tác hoằng dương Chánh Pháp, chỉnh đốn Tăng Già.
Sở dĩ các vị thanh tịnh tăng quan niệm nghi lễ có tính cách tiêu
cực như vậy vì đó là phản ứng cần thiết đối với tình trạng đương
thời, chuyên lo cúng kính, đốt vàng, đốt mã mà không lo học đạo,
tu đạo, gây ảnh hưởng không mấy thuận lợi cho Phật giáo.
Về lãnh vực đào tạo Tăng tài, có hai hệ
thống : Hệ thống
Phật Học Viện do Sơn Môn tổ chức và hệ thống Phật Học Viện do
Hội An Nam Phật Học tổ chức. Chương trình học Phật của Phật Học
Viện do Hội An Nam Phật Học lúc đầu gồm 3 cấp, mỗi cấp 5 là năm
: Tiểu Học, Đại Học, Tham Cứu
(Hậu
Đại Học).
Sau khi tốt nghiệp Tiểu Học Phật Học mới
được thọ Sa Di, sau khi tốt nghiệp Đại Học, được thọ Tỳ Kheo.
Trường An Nam Phật Học khai giảng năm 1933 tại chùa Vạn Phước,
số học tăng là 50 vị. Năm 1936 Phật Học Viện dời về chùa Túy Vân
gần biển và cuối năm ấy dời về chùa Báo Quốc. Thầy Trí Độ làm
Giám Đốc từ năm 1935. Đến năm 1938 học tăng của Trường còn lại
45 vị, trong đó 15 vị được học bổng của Hội An Nam Phật Học, số
còn lại tự túc. Năm 1943 trong kỳ thi tốt nghiệp, trong số 45 vị
chỉ có 6 vị đủ điểm :
Thiện Siêu, Trí Tịnh, Trí Quang, Thiện
Minh, Trí Thuyên, Thiện Hoa ,
4 vị khác đủ điểm thi viết nhưng thiếu
điểm phỏng vấn, nhưng được vớt trong đó có
Phan Thơ
(Hoằng
Thơ).
Chương trình 15 năm trên đến năm
1944 được thu gọn thành 6 năm :
2 năm Sơ Đẳng, 2 năm Trung Đẳng và 2 năm Cao Đẳng. Sau
khi tốt nghiệp có thể được tiếp tục vào Ban Nghiên Cứu 3 năm
trước khi vào dạy các trường Phật Học. Số học tăng của khóa học
này là 60 vị, trong đó 10 vị được học bổng của Hội An Nam Phật
Học, trong đó có Trí Không và 50 vị tự túc. Năm 1944 Phật Học
Đường Báo Quốc được dời về Tùng Lâm Kim Sơn, ở xã Lưu Biểu,
huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vì tình hình tài chính, Trường
phải dời vào Nam, lúc đầu đến chùa Vĩnh Tràng ở Mỹ Tho, sau đến
chùa Phật Quang ở Trà Ôn, tỉnh Trà Vinh. Đến thời Cách Mạng
Tháng Tám, Trường bị tan rã, một số tăng sinh còn lại về sau đến
chùa Ấn Quang, Chợ Lớn.
Hội An Nam
Phật Học từ năm 1934 khuyến khích mở các Phật Học Đường cấp Sơ
Đẳng tại các Tỉnh. Hội An Nam Phật Học lúc đầu đặt trụ sở tại
chùa Từ Quang, Nguyệt San Viên Âm đặt tòa soạn tại 13 Đường
Champeau, Huế, về sau dời về chùa Từ Đàm, Huế.
Hệ thống Phật
Học Viện do Sơn Môn tổ chức, có nhiều lớp :
Lớp Đại Học mở ở chùa
Trúc Lâm năm 1935 do thiền sư Giác Tiên làm giám đốc, lớp
Trung Học mở
tại chùa Tường Vân do thiền sư Tịnh Khiết điều khiển. Lớp Tiểu
Học mở tại chùa Vạn Phước do Sa Môn Mật Khế đảm đang. Hòa thượng
Phước Huệ từ Bình Định ra làm đốc học dạy cả hai lớp Đại và
Trung Học. Năm 1937 cả ba lớp dời về chùa Tây Thiên.
Trường Ni
được khai giảng lần đầu tiên tại chùa Từ Đàm năm 1932 do Ni sư
Diệu Hương làm giám đốc. Cuối năm ấy chùa Diệu Đức ở xã Thủy
Xuân được tạo lập, Ni Học Đường được dời về chùa Diệu Đức, chùa
Từ Đàm trở thành hội quán của Hôị An Nam Phật Học.
Năm 1945 số học tăng của Phật
Học Viện Kim Sơn không đi vào Nam cọng với số học tăng Tây Thiên
qui tụ tại chùa Linh Quang do Thầy Trí Thủ làm Giám Đốc. Trong
thời di tản, một số tăng sinh về Sịa, sau trở về Huế, đến qui tụ
tại chùa Báo Quốc. Phật
Học Viện Báo
Quốc về sau dời vào Nha Trang, cuối cùng một số đến Già Lam,
Sàigòn.
Mọi công việc đang tiến hành, từ việc đào
tạo Tăng tài, đào tạo cư sĩ, chấn chỉnh nội bộ, thì Ôn lâm bệnh
và viên tịch ngày mồng bốn tháng mười Âm Lịch, năm 1936, hưởng
thọ 56 tuổi. Ôn ra đi, Phật Giáo Miền Trung mất một bậc lương
đống, chùa Diệu Đế và Trúc Lâm mất vị Thầy gương mẫu, Hội An Nam
Phật Học vắng bóng bậc Chứng Minh Đạo Sư, bác sĩ Tâm Minh Lê
Đình Thám, Hội Trưởng Hội An Nam Phật Học, sư bà Diệu Không, Ni
Trưởng và Giám Đốc Ni Học Viện Hồng Ân mất đi vị bổn sư. Vắng
bóng Ôn mọi người thấy như thiếu ánh trăng tỏa chiếu Rừng Trúc
(Trúc Lâm),
thiếu tiếng chuông cảnh tỉnh nơi phồn hoa
đô hội
(Diệu Đế),
thể hiện trong câu đối :
*.-
Trúc Lâm không quải tam canh nguyệt
*.-
Diệu Đế tri văn ngũ dạ chung.
Ngài ra đi như tiếng vọng đâu đây lời giảng
đạo :
*-.
Vân nạp Bắc lai, đàm luận di tuần khâm Giác chỉ
*-.
Trúc Lâm Nam vọng, vãng sinh hà xứ mịch Tiên tung ?
(Xem Nguyễn Lang :
Việt Nam Phật Giáo Sử Lược III,
tr. 85- 88)
Lúc sinh tiền Ôn Giác Tiên được bổn sư Tâm
Tịnh trao cho bài kệ đắc pháp như sau :
Giác đạo kiếp không
tiên,
Không không Bát nhã
thuyền,
Quả nhân phù hạnh
giải
Xứ xứ đắc an nhiên.
Tạm dịch :
Đường giác
không kiếp trước,
Thuyền Bát nhã
chân không,
Nhơn quả hóa
hợp giải,
Ở đâu cũng thung dung.
Bóng hình ấy, âm hưởng ấy sống mãi mãi
trong lòng người mặc dầu trên 70 năm trời đã trôi qua. Nhìn về
dĩ vãng mới thấy bóng hình ấy, âm hưởng ấy sáng rỡ và vi diệu
như thế nào. Vào thời bấy giờ, sau bao nhiêu năm ly loạn, chùa
chiền bị phá hủy, Phật Giáo suy đồi :
“ . .
. các cảnh chùa trong nước đã thành những cảnh gia đình riêng,
không còn gì là tính cách đoàn thể của một tông giáo nữa. Họ
sống trong Phật Giáo hầu hết chỉ còn dốt và quên. Quên để khỏi
biết đến bổn phận - bổn phận chân chánh của một Tăng đồ !
Ở trong Tăng đồ thì như vậy, ở ngoài tín đồ thì cũng ngơ
ngác ù lòa, tin bướng theo càn, ít ai là người hiểu đạo lý.”
(Thích
Mật Thể : Việt Nam
Phật Giáo Sử Lược, Nhà Xuất Bản Phú Lâu Na 1993, tr. 189)
Ôn ra đi, nhưng may mắn Ôn còn để lại nhưng môn đồ danh tiếng :
Sa môn Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể ;
Ni sư Diệu Hương, Diệu Không, Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám
. . .
Sa Môn
Mật Khế
là một thiên tài, là một cột trụ vững chắc
cho nền chấn hưng Phật Giáo Miền Trung. Mật Khế sinh năm 1904,
cùng năm sinh với Ôn Đôn Hậu, tên Lê Chánh, tại làng Thần Phù,
xã Thủy Phù, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Năm 9 tuổi xuất
gia làm chú tiểu theo hầu Ôn Giác
Tiên. Năm 19
tuổi thọ Sa Di, pháp danh Tâm Địa, tự Mật Khế. Năm 1924, thọ Cụ
Túc giới, cũng cùng một lượt với sư thúc Đôn Hậu
(về sau là Đệ Tam Tăng Thống),
tại đại giới đàn Từ Hiếu do Hòa thượng Tâm
Tịnh làm Đường Đầu Hòa Thượng. Là một giới tử xuất sắc nên được
chỉ định làm Thủ Chúng Sa Di. Năm 22 tuổi ông cùng với sư thúc
Đôn Hậu được gửi vào Thập Tháp, Bình Định học với Hòa thượng
Phước Huệ và sau khi Hòa thượng Phước Huệ ra dạy ở Trúc Lâm ông
lại ra theo để tiếp tục học. Năm 1933, vừa 29 tuổi, ông được bổn
sư Giác Tiên ủy thác đứng ra thành lập Trường Phật Học Sơ Cấp
tại chùa Vạn Phước, năm 1934 ông cùng sư thúc Giác Nhiên, Trú
Trì chùa Thuyền Tôn
(về sau là Đệ Nhị Tăng Thống)
và bổn sư mở Trường Phật Học của Hội An
Nam Phật Học tại chùa Trúc Lâm. Ông là Trị Sự Trưởng của Sơn Môn
Thừa Thiên, giảng sư Hội An Nam Phật Học. Những bài giảng của
ông được đăng trong Báo Viên Âm.
Năm 1934 ông và sa môn Trí Độ với tư cách
là
“phóng viên”
của báo Viên Âm đi Quảng Ngãi dự giới đàn
Thạch Sơn vừa để nghiên cứu tình hình Phật sự trong tỉnh vừa
viết phóng sự về đại giới đàn cho báo Viên Âm. Năm 1935 ông đứng
ra tổ chức đại lễ Phật Đản với sự tham dự của Hoàng Đế Bảo Đại.
Ngày 10 tháng 5 năm 1935 trong lúc Đại Lễ Phật Đản đang được cử
hành tại chùa Diệu Đế thì ông trút hơi thở cuối cùng tại chùa
Trúc Lâm bên cạnh bổn sư Giác Tiên, người đã viết một bài kệ
trao cho ông đọc, đọc xong ông từ từ nhắm mắt, hưởng thọ 31 tuổi.
Bài kệ như sau :
Tâm Địa quan hàm
pháp tính viên
Tây Lai diệu chỉ
hiểu Nam
thiên
Hoạt nhiên trực
triệt Tào Khê lộ
Miễn tại linh đình
ngũ thập niên.
Tạm dịch :
Cõi tâm bao hàm
pháp giới tánh,
Trời Nam sáng tỏ
ý Tây truyền,
Bỗng nhiên thấu
triệt Tào Khê lộ,
Khỏi mất công dài
năm chục năm.
Sa Môn Mật Khế viên tịch. Phật
Giáo Miền Trung mất một bậc lương đống. Nhớ năm nào khi mới được
24 tuổi ông đã cùng người anh em đồng sư,
bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám cùng nhau sát
cánh học đạo, nghiên cứu kinh luận, chung lo Phật sự. Ngày an
táng ông, một người bạn thân thiết, cư sĩ Vân Đàn đã làm hai câu
đối chữ Nôm để tiễn đưa người tri kỷ :
*.-
Rừng Mai đạp tuyết, cay đắng trải bao phen, cơ hóa độ
còn nhiều, hy vọng chứa chan, tằm kéo tơ lòng thêu sử Phật,
*.-
Sàng Trúc trổ hoa, tỉnh mê trong nửa kiếp, tình tương
tri quá nặng, sầu trường man mác, quyên rơi giọt lụy gọi hồn
thiêng.
Khóc không thành tiếng, nức nở trong tâm can,
nỗi đau thương vô vàn. Thương tiếc một thiên tài ngắn ngủi, chỉ
nửa kiếp người, nửa kiếp hiến dâng, kéo tơ lòng, dệt thêu trang
sử Phật !
Sa Môn
Mật Thể là
một tăng sĩ trẻ, thông minh, phóng khoáng. Ông tên là Nguyễn Hữu
Kế, sinh năm 1912 tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Thủy, Tỉnh
Thừa Thiên. Xuất gia năm 12 tuổi tại chùa Trúc Lâm, pháp danh
Tâm Nhất, đệ tử của
Ôn Giác Tiên, sư đệ của Sa Môn Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện.
Ông học với Hòa thượng Phước Huệ, rồi tại Phật Học Viện Trúc
Lâm, đồng thời được mời làm giảng sư Hội An Nam Phật Học và dạy
Trường Sơ Đẳng Phật Học tại Vạn Phước. Năm 1937 ông được sang
Trung Quốc du học tại Phật Học Viện Tiêu Sơn, nhưng vì chiến
tranh Trung Nhật ông phải trở về nước. Năm 1941 ông cho xuất bản
cuốn Phật Giáo Yếu Lược
và Phật Giáo Khái Luận, năm
1942 cuốn
Kinh Vô Lượng Nghĩa
và Xuân Đạo Lý, tập văn thơ
và khảo luận, với chủ đề Xuân là Sứ Mạng Phật Hóa, với bài khảo
luận Phật Giáo với Hiện Đại
xem văn hóa Phật Giáo là giải pháp cho mọi
hoài nghi, đau khổ, bê tha, trụy lạc, là nguồn cảm hứng, là lâu
đài hy vọng thời đại.
Năm 1941 ông được mời vào dạy tại Phật Học
Đường Lưỡng Xuyên ở Trà Vinh. Năm 1943 nhà xuất bản Tân Việt Hà
Nội cho ra đời cuốn Việt Nam
Phật Giáo Sử Lược với Bài Tựa
của Trần Văn Giáp và lời Tán Ngữ của Hòa thượng Phước Huệ chùa
Thập Tháp.
Sa Môn Mật Thể là người có chí lớn, đã
xuất bản tài liệu nhan đề là
Cải Tổ Sơn Môn Huế.
Năm 1944 ông thọ Cụ Túc Giới tại đại giới
đàn Thuyền Tôn, được chọn làm Thủ Chúng Sa Di, đại giới đàn mà
sư bà Diệu Không thọ Tỳ Kheo Ni giới và người viết bài này thọ
giới Sa Di. Cũng vào năm này ông được mời làm trú trì chùa Phổ
Quang.
Thích
Mật Thể theo kháng chiến cho đến năm 1961 thì qua đời tại Nghệ
An, hưởng thọ 49 tuổi. Từ năm 1957 đến 1961 vì chống lại chính
sách đè nén Phật giáo của chính quyền Miền Bắc, ông bị quản thúc
tại Hà Tĩnh và Nghệ An, bị cô lập trong một căn nhà lá ở miền
quê. Trong thời gian ấy ông đã sáng tác được cuốn
Thế Giới Quan Phật Giáo
được Viện Đại Học Vạn Hạnh xuất
bản năm 1967 với Lời Tựa của Thích Đức Nhuận, chủ bút tạp chí
Vạn Hạnh.
Sa môn
Mật Nguyện,
một môn đồ xuất chúng khác của Ôn Giác
Tiên, sư đệ của sa môn Mật Hiển, sinh ngày 19 tháng 8 năm 1911
tại làng Phú Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, tên là Trần
Quốc Lộc, xuất gia năm 1926 làm đệ tử của Ôn Giác Tiên tại chùa
Trúc Lâm, thọ Sa Di năm 19 tuổi, pháp danh Tâm Như, tự Mật
Nguyện, theo học trường Phật Học Tây Thiên. Năm 1937 vào Bình
Định thọ đại giới tại đại giới đàn Tịnh Lâm, ở lại học thêm nội
điển với Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp. Ông được mời làm
giảng sư cho Hội An Nam Phật Học lúc 20 tuổi khi đang còn là Sa
Di, được mời dạy
trường Phật học Báo Quốc. Năm 1954 được bầu làm Trị Sự Trưởng
Sơn Môn Tăng Già Trung Việt. Năm 1959, tại Đại Hội Tăng Già Toàn
Quốc kỳ II tổ chức vào ngày 10 tháng 9, 1959, được bầu làm Trị
Sự Phó Giáo Hội Tăng Già Việt Nam. Năm 1968 được mời làm Chánh
Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất miền Vạn Hạnh.
Ngày 18 tháng 8 năm 1972 viên tịch tại chùa Linh Quang Huế,
hưởng thọ 62 tuổi.
Chùa Linh Quang hiện nay do hai đệ tử là
Sa Môn
Tánh Tịnh
và
Khế Viên quản
nhiệm, không những duy trì được sắc thái chùa ngày xưa mà còn tu
bổ, nới rộng, trang nghiêm thêm. Những người đệ tử khác như sa
môn
Tánh Thiệt,
Khai sáng kiêm Trú trì chùa Thiên Minh tại
Lyon, Pháp Quốc, một ngôi chùa bề thế ở nước ngoài, với vô số
Phật tử Việt Pháp tích cực hoạt động. Sa môn
Khế Chơn,
hiện nay là trú trì chùa Thiên Minh, một
giảng sư có tài xứ Thần Kinh và Sa Môn
Tánh Đạt,
tiếp nối dấu chân hoằng pháp của bổn sư
hoạt động Phật sự tại ngôi chùa trong bệnh viện Huế.
Sa Môn
Mật Hiển,
một môn đồ độc đáo của Ôn Giác Tiên, sinh
ngày 4 tháng 3 năm 1907, tại làng Dạ Lê Thượng, xã Thủy Phương,
quận Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên. Năm 7 tuổi theo hầu Ôn Giác
Tiên, năm 15 tuổi
(1922)
thọ giới Sa Di tại giới đàn Từ Hiếu, pháp danh Tâm Hương, tự Mật
Hiển. Năm 20 tuổi theo học Mật Giáo với một vị sư người Tây Tạng
tại Quảng Nam.
Năm 1935 theo học trường Phật Học tại Trúc Lâm do Hòa thượng
Phước Huệ làm chủ giảng. Năm 1936 thọ Cụ Túc Giới tại giới đàn
Bình Định, được
chọn làm
Trưởng Chúng. Năm 1937, lúc 30 tuổi, vua Khải Định và đức Từ
Cung mời về cung An Định để hướng dẫn cho dòng họ Nguyễn Phước
tộc. Năm 1939 được Bộ Lễ và Sơn Môn cung thỉnh làm trú trì chùa
Thánh Duyên tức quốc tự Túy Vân.
Sau khi bổn
sư viên tịch, sa môn Mật Hiển kế thừa bổn sư làm Trú Trì chùa
Trúc Lâm. Chùa này từ năm 1951 chính thức trở thành trụ sở trung
ương của Sơn Môn Tăng Già Thừa Thiên và Trung Việt. Mùa đông năm
1951 sau Đại Hội Tăng Già Trung Việt họp tại chùa Linh Quang,
ông được cử làm Trị Sự Trưởng của Giáo Hội Tăng Già Trung Việt,
văn phòng đặt tại chùa Linh Quang. Năm 1956 đại diện Tổng Hội
Phật Giáo Việt Nam
tham dự Lễ Phật Đản tại Đông Hồi. Năm 1958 tham dự Đại Hội Phật
Giáo Thế Giới tại Nhật Bản. Năm 1972 làm Đặc Ủy Tăng Sự của Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Năm 1981 là Phó Pháp Chủ Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam. Khi Hòa thượng Thích Đôn Hậu viên tịch
ngày 23 tháng 4 năm 1992, ngài nhận lãnh trách nhiệm làm Trưởng
Ban Tổ Chức tang lễ. Tang lễ xong, ngài lâm bệnh và viên tịch
ngày 17 tháng 5 năm 1992, thọ thế 86 tuổi và 79 hạ lạp.
Hòa thượng Mật Hiển, Lâm Tế Chánh Tông đời
thứ 43, ra đi trong lúc Phật Giáo Việt Nam đang trong cơn sóng gió. Thượng
tọa Viên Minh và môn đồ chùa Huyền Không tỏ lòng thương tiếc
trong bài thơ đầy xúc cảm :
Thiên cổ lung linh
ngọn nén hồng,
Người đi sương nước
lệ ngàn không.
Kim Cương, bút phất
tờ mây trắng,
Viên Giác, trăng
đeo vạc áo sồng.
Bỏ bến, thung dung
thuyền Mật độ,
Vào đời, thanh thản
gót chơn tông.
Nhiên nhiên, khí
tiết bừng trăm trượng,
Hạo hạo, nghi dung
ngút vạn tòng.
Hiên lặng, cỏ rền –
Thơ nở chữ,
Tháp nghèo, sỏi đá
– Đạo đơm bông.
Trường giang, nhạn
quá tâm lưu phụng,
Rừng Trúc, non linh
tuệ nhật đồng.
Hiện nay tổ đình
Trúc Lâm do sa môn
Lưu Hòa
và
Lưu Thanh
quản nhiệm, không những đã có công trùng
tu mà còn làm cho chùa thêm trang nghiêm, rộng rãi. Sa môn
Lưu Đoan,
khai sơn Trú trì chùa Như Pháp tại Trà
Vinh và thường đi đó, đi đây hoằng truyền chánh pháp ;
sa môn
Tín Nghĩa,
khai sáng Tổ Đình Từ Đàm Hải Ngoại tại
Texas, Hoa Kỳ, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Cư Sĩ, Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Hoa Kỳ, Văn Phòng Hai Viện Hóa Đạo,
sa môn
Tín Đạo,
Giảng sư trường Cao Đẳng Phật học Gài Gòn,
sa môn
Tín Huệ,
Trú trì chùa Việt Hoa ở Đồng Nai, sa môn
Thanh Toàn,
Trú trì chùa Tịnh Giác ở An Cựu, sa môn
Tâm Trí,
trú trì chùa Kim Cang ở Đồng Nai, sa môn
Tâm Minh,
khai sáng chùa Trúc Lâm, Tổng vụ Trưởng
Tổng vụ Nghi lễ Giáo hội Phật gi
áo
Việt Nam Thống nhất Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, sa môn
Tâm Huệ,
khai sáng chùa Trúc Lâm và hoằng pháp tại
Thụy Điển.
Nếu ta
nhìn vào sơ đồ dưới, ta sẽ thấy công hạnh hoằng truyền đạo pháp
của tổ đình Trúc Lâm do Hòa thượng Giác Tiên lãnh đạo đã đào tạo
ra những nhân tài xuất chúng, có ảnh hưởng lớn đến nền phục hưng
Phật Giáo trong nước và hoằng truyền chánh pháp ở nước ngoài như
thế nào.

Ngôi nhà Tây và nhà Hậu, cảnh
cũ gắn bó với đời Ôn
*
*
*
Dưới đây, Sơ Đồ truyền
thừa trực tiếp
từ Tổ Liễu Quán xuống
trực hệ đệ tử Hậu duệ của Tổ GIÁC TIÊN,
Khai sơn Trúc Lâm Đại thánh tự
(trang kế)

Muốn đi từ chùa Tây Thiên đến chùa Trúc Lâm
có nhiều ngả đường : Đường
xa, đường gần và đường tắt. Con đường xa là con đường chính, từ
Nam Giao qua Trai Cung, lên Cầu Lim, đi ngang nhà bà Đốc Xướng
đến chùa. Đường gần đi ngả sau chùa, qua chuồng bò, đi đường
làng, lội qua suối đến chùa. Đường tắt đi trước chùa, băng qua
nương sắn, băng qua đồng, lội qua suối, đến chùa. Tôi thường đi
đường tắt. Con đường này chỉ các điệu trong chùa biết mà thôi và
đi có vẻ vất vả, phải băng nương sắn, băng qua hàng rào gai.
Nhưng nó ngắn hơn
Hoạt nhiên trực triệt Tào Khê lộ
Miễn tại linh bình ngũ thập niên
Con đường Tào Khê hay là suối Tào Khê ?
Mỗi lần từ Tây Thiên đến
Trúc Lâm, lội qua khe nước trong đầy ghềnh đá, tôi tưởng mình
đang lội qua suối Tào Khê. Giờ đây thì suối nước không còn trong
nữa.
Ba chục năm sau, khi không còn ở chùa Tây
Thiên nữa, tôi đến hầu thăm Ôn Mật Hiển,
đi bằng con đường xa, con đường chính. Ôn nổi tiếng
nghiêm khắc. Hình dáng Ôn đúng là hình dáng của một tổ sư Lâm Tế.
Tôi nhớ đến ngài Lâm Tế học đạo với ngài Hoàng Bá Hy Vân. Mỗi
lần vấn đạo là mỗi lần ăn gậy trúc mà không biết đã phạm lỗi gì.
Các thầy, các chú thường ăn gậy trúc của Ôn mà không biết mình
đã làm gì nên nỗi. Tuy bề ngoài khắc khổ, nhưng bên trong đầy
lòng nhân hậu, cưu mang nên dù có ăn gậy mà vẫn thấy lòng mình
thoải mái ! Gặp Ôn, Ôn kể
chuyện ông Tỉnh Trưởng mời Ôn đến chùa Túy Vân đón Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu đến thăm chùa,
vào lúc Phật Giáo và chính quyền không mấy thân thiện. Là
chủ chùa, Ôn có bổn phận đón khách đến thăm chùa. Là đại diện
của Giáo Hội tại Miền Trung, Ôn phải giữ lập trường của Giáo Hội.
Thật tấn thối lưỡng nan.
Để giải quyết vấn đề, Ôn quyết định về chùa nhưng không
ra bãi trực thăng đón Tổng Thống mà chỉ ở trong chùa đón khách
đến vãng cảnh . Một cách xử sự rất khéo léo, nói lên tài ứng phó
của Ôn.
Ba chục năm sau, trở về thăm chùa cũ, Ôn
không còn nữa. Ôn đã viên tịch trên mười năm. Kỳ này tôi đến
chùa bằng một con đường thứ tư, từ ngã chùa Hồng Ân đi vào sau
lưng chùa, nơi mà Ôn đã làm lễ hạ huyệt, cho phép mẹ tôi nơi an
nghỉ cuối cùng.
Lộ trình hoằng hóa mà sư tổ Giác
Tiên mạnh dạn cất bước thật dài muôn vạn dặm. Thái Hư Đại Sư
trên đường phục hưng Phật Giáo Trung Hoa
chủ trương Cách Mạng Giáo Chế, Cách Mạng
Giáo Học, Cách Mạng Giáo Sản. Hòa Thượng Giác Tiên, trong nỗ lực
chấn hưng Phật Giáo Việt Nam cũng đã thành lập nhiều Phật Học
Viện, đào tạo nhiều tăng tài,
thành lập Hội Đồng Giám Luật, chỉnh đốn nội bộ Tăng Già,
giúp thành lập Hội An Nam Phật Học, phối hợp Tứ Chúng trong
nhiệm vụ chung, mở đầu cho thành quả Tổng Hội Phật Giáo tương
lai và làm hạt nhân cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Nhưng rồi chiến tranh, ly loạn, biến chuyển
xã hội, xu thế thời đại thay đổi. Con đường hoằng hóa bị gián
đoạn, lộ trình hoằng đạo nhiều gập ghềnh, chông gai.Vấn đề chỉnh
đốn nội bộ Tăng Già, dung hợp Tứ chúng ngày càng thêm phức tạp.
Kỹ nghệ hóa, thành thị hóa, cách mạng tín học, hoàn cầu hóa . .
. bao nhiêu vấn đề mà trước đây ngay Thái Hư Đại Sư trong chủ
trương Cách Mạng Giáo Chế, Cách Mạng Giáo Học, Cách Mạng Giáo
Sản cũng không thể dự liệu. Chúng ta có cảm tưởng như đang đi
dật lùi trên lộ trình dài vạn dặm.
Kinh nghiệm hoằng đạo của các
nước Tích Lan, Thái Lan, Đại Hàn, Nhật Bản có cung cấp cho ta
ánh sáng nào ? Làm
thế nào để có thể đáp ứng nhu cầu thời đại, theo xu thế văn hóa
thời đại ? Làm thế
nào để con người thấy sự hiện hữu của đạo pháp là cần thiết ?
Làm thế nào để Phật Pháp không bị đứng ngoài lề xã hội ?
Làm thế nào để thể hiện hạnh nguyện Bồ Tát, vui cái vui
của thiên hạ và buồn cái buồn của thiên hạ ?
Làm thế nào để báo đáp ơn đức chư Phật, Thầy Tổ, Chúng
Sinh ? Làm thế nào
để xứng đáng con cháu của tổ Giác Tiên, người có công xây đắp
đại lộ hoằng hóa.
Tôi cảm thấy lo ngại vì giờ đây Tăng Già
không hòa hợp, Tứ Chúng không cùng một lòng. Mỗi người đứng
riêng một chỗ. Tường thành ngăn cách ngày càng cao. Đồng sàn mà
dị mộng. Nhịp cầu liên hệ bị tháo gỡ . . .
Nhưng may nhà thơ Trụ Vũ cho tôi hy vọng :
Nắng reo trên lúa
Gió bay trên cờ
Lũy tre vững hiện mái chùa
Ấm tay đại thụ mát bờ quê hương.
Và rồi Vũ Hoàng Chương trong cái đau khổ tận
cùng, vẫn lấp lánh nét từ bi :
Sáu ngả luân hồi đâu đó
Mang mang cùng nín thở
Tiếng nấc lên từng nhịp bánh xe quay
Không khí vận mình theo, khóc òa lên nổi gió
Người siêu thăng . . . giông bão lắng từ đây
bóng người vượt chín từng mây
nhân gian mát rượi bóng cây Bồ Đề
Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc
lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi
Chỉ người ngồi : một thiên
thu tuyệt tác
trong vô hình sáng chói nét từ bi.
Trí Không
cẩn bái

Ghi chú :
(1) Hàng chữ
nhỏ ở dưới của mỗi vị có thể là Khai sơn hoặc là Trú trì hay
Giám tự, v.. v…
(*)
Những chữ Hoa và được viết theo font chữ Arial là Hậu duệ của tổ
Giác Tiên, là đệ tử của quý Ngài Mật Hiển, Mật Nguyện và Mật Thể,
và là Trúc Lâm Pháp phái.
(Xem tiếp)
Please press HOME
to go back to the main web page
HOME