Kính, Nhớ :
Ôn TRÚ
C LÂ
M
___o0o___

ọc
thư thầy Tín Nghĩa muốn in tập kỷ yếu về
Ôn Trúc Lâm
(Đại
lão Hòa thượng Thích Mật Hiển), tôi
thật sự xúc động, bùi ngùi nhớ Ôn. Nhiều kỷ niệm bừng dậy trong lòng, trên 10
năm, thì gian không ngắn mà cũng không dài vắng ôn trên cõi đời, nhưng với tôi
thì khác vì từ tết Mậu thân (1968) tôi đã xa Huế mà cũng xa ôn, tính đủ thì cũng
đã gần 40 năm, lúc này 2007 tóc tôi đã bạc nhiều với cái tuổi cổ lai hi. Lúc xa
ôn tôi còn là một thanh niên hăng say sinh hoạt trong ban Hướng Dẫn Gia Đình
Phật Tử Thừa Thiên, trốn chui trốn nhủi, lẫn tránh cả hai phía quốc-cọng vì bên
nào cũng muốn bắt cho được mấy tên chủ trương tuần báo
“THANH QUANG”
cơ quan tranh đấu nghị luận của GĐPT Thừa Thiên cho sự tồn vong của Đạo pháp mà
cuộc vận động của Phật Giáo cho
tự do – hòa
bình – độc lập của dân tộc chưa hoàn
thành.
(Dù với tờ báo này tôi chỉ là là kẻ cầm đèn đỏ chạy
sau các anh Như Tâm, Nguyên Ngộ, Tâm Bản, Tâm Kiễm)
vậy mà cũng trở thành một nhân vật cả hai bên tả hữu đều quan tâm, thật oái oăm
cho cái nghiệp dĩ làm người của tôi, chính trong lúc này mới thấy được tình cảm
của ôn Trúc Lâm dành cho anh em chúng tôi.
Có lần Năm anh em chúng tôi
trốn ở Hoàng Mai tịnh thất được sư bà Thể Quán đặt cho Năm sư cô đực rựa Năm cái
tên thật hay Diệu Tâm
(Khắc Từ)
đang làm sư cô Diệu Thiện ở Diệu Đức, còn 4 đứa :
Diệu Như
(Điệp)
Diệu Minh
(Giác)
Diệu Cảnh
(Kỳ) Diệu
Đài
(Mai) Tâm Như Minh Cảnh Đài là một
câu trong bài kệ của ngài Thần Tú trình sở đắc của mình lên ngủ Tổ. Ôn đã cười
vui, nhắn với sư bà Diệu Không :
-.
“Nói với mấy đứa, dù thất bại hay thành công cũng phải giữ tâm như đài
gương sáng”.
Trong một lần khác, vì ham
chơi Đô-mi-nô mấy anh em tôi vô ý ra góc vườn đứng mà tè,
“Sư cô gì lạ
rứa ? Mấy chị ni ngộ chưa tề ?”.
Sư bà Thể Quán hoảng hốt la to, chúng tôi sực nhớ mình là
“sư cô giả”
nên ngồi xuống, nhưng không còn kịp nữa, vì thế mà bị lộ. Mờ tối, một đại đội
cảnh sát dã chiến bao vây cả khu vực quanh chùa Trúc Lâm, Hồng Ân và Hoàng Mai
tịnh thất. Ôn đã tìm cách báo động để anh em chúng tôi tìm lối thoát thân. Tối
hôm ấy, do sự thành khẫn cầu nguyện của đại chúng hai chùa Hồng Ân và Hoàng Mai
tịnh thất cũng như chúng tôi, đức Quán Thế Âm đã thị hiện độ thoát như trong
kinh Pháp Hoa
(phẩm Phổ Môn) mà đức Phật đã dạy
(sự linh ứng
này tôi đã viết Một bài trong tập san Phật Ân). Đặc biệt trong tết
Mậu Thân (1968) ôn đã bao bọc che chở cả nhóm chúng tôi tá túc tại chùa Trúc
Lâm. Khi chiến sự đang sát phạt nhau dữ dội mà chùa Trúc Lâm đang nằm trong địa
bàn kiểm soát bộ đội MTGP, họ đã biết trong nhóm chúng tôi có Thiếu úy Luyện là
An ninh Quân đội, Trung úy Hoài là Công binh, dường như có Thiếu tá Nhơn
(Trần Ngọc
Nhơn), đều là quân nhân Phật tử tham
gia phong trào tranh đấu của Phật Giáo. nhưng họ chưa bắt vội vì còn bận đánh
nhau và chờ lệnh, họ chỉ ra lệnh
“nội bất xuất ngoại bất nhập”, nghĩa là
giam lỏng chúng tôi trong chùa, lại một lần nữa ôn không ngại nguy hiểm vạch
đường chỉ lối cho chúng tôi thoát thân, đứa thì xin xuống hồ hái rau rồi dọt,
đứa thì xin đi rút rơm về nấu cơm rồi chuồn, đứa thì xin qua Hồng Ân kiếm thức
ăn rồi cút, mà điểm hẹn là chùa Kim Tiên ; đến
tối thiếu mặt anh nào là xem như đã về hầu Phật hoặc được ăn cơm vắt. Lạy Phật,
người trước kẻ sau chúng tôi đã đủ măt tại chùa Kim Tiên đúng hẹn, không sức mẻ
đứa nào. Không hiểu, sau đó ôn trả lời với họ ra sao khi chúng tôi vắng mặt, đi
mà không trở lại như đã xin, nhưng tôi tin với sự khôn khéo và lòng can đảm của
ôn thì ngoài bạo lực mấy chàng này thuộc hàng hậu bối sánh sao nổi với bậc cao
thủ tiền bối dày dạn kinh nghiệm như ôn.
Trước khi rời khỏi Huế, bôn
tẩu vào Nam, chúng tôi phải né tránh cả hai phe Quốc-Cọng, bên quốc gia kết tội
chúng tôi là Việt cọng nằm vùng gặp đâu xử đó. Bên giải phóng thì tìm bắt vì
chúng tôi không cùng giới tuyến thuộc thành phần thứ ba, nguy hiểm, dễ bị địch
kéo lôi, đúng là hoàn cảnh lưỡng đầu thọ địch. Thấy tình hình ở Huế khó có đất
dung thân, mỗi người tự tìm cho mình một con đường sống dù vẫn liên lạc nối kết
với nhau. Riêng tôi phải thay tên đổi họ, tên Diệu Như không còn thích hợp vì là
đực rựa, tên Lệ Dũng hay Đoàn Đình Điệp thì ai cũng biết xưa nay, lúc này tôi
chưa có pháp tự. Nhớ buổi ban đầu đến với đoàn Đồng ấu Phật giáo rồi Gia Đình
Phật Hóa Phổ ở chùa An Phước rồi sau đó có tên là GĐPT Minh Tâm, tôi lấy cái tên
này vì thấy cũng hay tại có kỷ niệm lúc ấu thơ, ý này có Tâm Bản và Tâm Kiểm
tham gia, nhưng sợ Bổn sư rầy vì tự tiện đặt tên. Tôi đem việc này trình ôn Trúc
Lâm, ôn cười đôn hậu ‘yên tâm’, chữ Minh Tâm hay lắm hơn nữa chỉ là pháp hiệu
thôi thì có gì mà ngại, nếu ông già râu có rầy thì cứ trình lên ôn Mật Hiển đặt
cho pháp hiệu và xin pháp tự sau, thế là tôi yên tâm với pháp hiệu của mình. Kể
từ đó tôi có pháp hiệu Minh Tâm cho đến bây giờ và gần 10 năm sau sư phụ tôi mới
cho pháp tự, do đã quen nên chữ Minh Tâm trở thành tên thường dùng, nên khi nào
ai gọi tên Minh Tâm, giới thiệu Minh Tâm, ký tên Minh Tâm tôi đều nhớ đến ôn Mật
Hiển.
Đến năm 1989 một kỷ niệm
đặc biệt nữa về ôn : Trong một dịp về
Huế lên Trúc Lâm thăm ôn. Sau nửa giờ thầy trò hàn huyên, ôn còn thăm hỏi chuyện
hoằng pháp, chuyện chùa chiền, việc tu học, Phật sự, hàn huyên xong, tự nhiên ôn
nhìn thẳng vào mặt tôi đột ngột hỏi :
-.
Khi mô Minh Tâm vô Sài gòn ?
-.
Dạ, bạch ôn một hay hai hôm nữa.
Tôi trả lời, ôn nghiêm nét
mặt như ra lịnh :
-. Mai vào ngay đi, đừng ở nán thêm
vài hôm nửa, không tốt đâu, rắc rối lắm đó, cố niệm Phật đi.
Hơi ngỡ ngàng lo ngại, tôi
dạ rồi trở về, cũng may có thầy Tâm Hòa và người cháu cũng vào theo trong chuyến
này, lời ôn dặn không phải đùa nhưng tôi cứ ngỡ là rắc rối như từ lâu đã xảy ra
với tôi khi từng bước đi được
“người ta” theo sát vì cái tính ngang bướng
của mình hay chỉ là một thành phần hay tranh đấu ;
vâng lời ôn tôi sắp xếp vào Nam sớm hơn
dư định một ngày. Trên lộ trình, ba người đồng hành, những điều xảy ra tôi dựt
mình lo lắng, về đến chùa tôi vẫn chưa yên tâm, thì ra ôn đã thấy tai hoạ đến
với tôi, khi lên xe từ Huế vào Đà Nẵng đến Phú Lộc tự nhiên xe phát hỏa bốc cháy
chúng tôi ngồi trước ca-bin bên cạnh tài xế nhanh chân nhảy ra ngoài thoát hiểm,
chỉ có anh lơ xe chữa lửa không khéo bị phỏng một cánh tay, hành khách vô sự.
Chúng tôi đón xe khác vào Đà Nẵng, tôi đến thăm thầy Từ Mẫn bệnh nặng, thị giả
ngăn cản khó khăn mà lại để mấy bà Phật tử vào thăm tự do, chúng tôi đợi gần cả
giờ vẫn chưa thăm được, gai bồ đề lại khởi lên, đại náo phổ đà một trận, kể cũng phiền, thầy Tâm Hòa có
dịp chọc quê
“thua xì lác, gỡ bài cào”. Sáng hôm sau đón xe từ Đà Nẵng vào Quy
Nhơn, xe mới đến Quãng Ngãi thì tài xế lạc tay lái, xe trúc xuống lề đường, may
phước chẳng ai hề hấn gì ; lóp ngóp bò
ra khỏi xe, đón xe khác, lần này thầy Tâm Hòa không còn chọc quê tôi nữa mà xoay
qua đứa cháu :
-.
Vía
của mày nặng quá, chuyến xe nào cũng tai nạn, may mà chưa chết.
Tôi nhớ lời ôn nên chỉ âm
thầm niệm Phật. Tối đó tôi đến chùa Long Khánh, Quy Nhơn lễ Phật và vọng hướng
về Tổ đình Trúc Lâm lễ ôn đã qua hai tai nạn mà thoát được rất hi hữu.
Hôm sau ra bến xe Quy Nhơn,
chúng tôi chọn chiếc xe mới nhất, đẹp nhất dù giá đắt để về Sài Gòn, trên xe
khách rất ít, tài xế đã lớn tuổi chạy khá cẩn thận, tôi thấy vẫn chưa yên tâm,
vừa nói chuyện với thầy Tâm Hoà nhưng trong lòng vẫn niệm Phật. Đến Tuy Hòa trời
đổ mưa, xe vẫn chạy bình thường, xe qua cầu Bàn Thạch gần đến Hảo Sơn, mưa lớn
hơn, khi gần đèo Cả tự nhiên xe tăng tốc độ, đường trơn xe phóng như bay, tài xế
luớ quớ không làm chủ được tốc độ, không dám thắng chỉ chạy lạn qua tả, lạn qua
hữu, nếu gặp xe ngược chiều chắc là tan xác cả đám, trên xe nhốn nháo, tôi và
thầy Tâm Hòa đủ thời gian bảo nhau, lần này thì chết chắc rồi :
-.
“Niệm Phật đi mà chết”.
Lúc này thì chiếc xe nó bay
chứ không phải chạy, chúng tôi nhắm mắt chờ chết. Rầm, chiếc xe đứng lại vì nó
cởi lên một con lương cao mà ngày trước người Mỹ làm để đề phòng xe lước xuống
sông hồ. Khi định thần nhìn kỷ thì 1/3 chiếc xe đã nằm ngoài bờ sông còn 2/3 cởi
lên con lương ấy, chúng tôi không thể bước xuống được, vì bước xuống tức là nhảy
xuống sông nên phải leo qua phía tài xế mới ra ngoài được. Dù trời mưa lạnh mà
ông tài xế vẫn toát mồ hôi, mặt thất thần, hành khách ra khỏi xe an toàn không
một tì vết. Có lẽ lúc này mặt mày tôi căng thẳng lắm nhưng miệng không rời khỏi
câu niệm Phật, cả xe thoát chết trong đường tơ kẻ tóc.
Thâm tâm tôi nghĩ
“Sự bất quá
tam” ba lần thoát chết trên một chuyến đi, tôi âm thầm vọng về cố đô
Huế, về Tổ đình Trúc Lâm bái tạ ôn. Tưởng thế là yên, khi chia tay với thầy Tâm
Hòa ở ngã ba Vũng Tàu, thầy Tâm Hòa còn vói theo :
-.
Đến
đây là an toàn rồi đó, chúc khỏe.
Tôi cười nhưng trong lòng
vẫn còn e ngại, lên ngồi trên xe Lam tôi vẫn không ngớt niệm Phật và thầm nhớ
thương ôn. Tâm phục khẩu phục, xuống xe ở ngã ba cầu Tam An, chỉ còn hơn một cây
số là đến chùa, đoạn đường ngắn giữa rừng cao su, tôi đi bộ, mỗi bước chân là
một câu niệm Phật như đi kinh hành, đến trước văn phòng nhà máy cao su thì chú
tiểu Thiện Nhơn đạp xe ra đón, tôi chẳng chịu lên xe bảo nó :
-.
Thoát hiểm ba lần rồi còn mấy trăm thước để thầy đi
bộ.
Thiện Nhơn lại tha thiết
khẩn khoảng :
-.
Nào là xe còn
mới đạp nhẹ lắm, nào là trời nóng đi bộ mỏi chân, nào là con đạp xe rất vững.
Tôi lại xiêu lòng, leo lên
ngồi sau yên xe đạp, và dặn :
-.
Cẩn thận nghe con.
Xe chạy chưa quá 20 mét đến
trước trạm y tế nông trường. Không rõ lý do, tự nhiên xe nhào xuống đường đất đỏ,
đá sỏi ngổn ngang, tôi chống tay đứng dậy không được, cái chân kẹt vào trong căm
xe, nhìn xuống đường là một vũng máu, sao chẳng thấy đau đớn gì !
Mấy vị y tá trong trạm xá
chạy ra đỡ tôi dậy, bây giờ mới biết cái chân tôi tét một đường dài hơn một tấc,
một mãng thịt da lật ngược. Y tá dắt tôi vào trạm làm thuốc, khâu trên mười mũi,
lúc này mới thấy đau, chữa trị gần hai tháng mới lành, và bây giờ cứ mỗi lần
thấy cái thẹo dài một tấc, tôi lại nhớ ôn.
Chuyện lạ có thật trong một
chuyến đi. Giờ này tôi viết lại, vẫn thắc mắc về sự cảnh báo của ôn, có cái gì
huyền bí, cái gì đó khó hiểu. Nhưng thôi, vâng lời ôn con đã vào trước một ngày
mà liên tiếp tai nạn, nếu không nghe lời ôn có lẽ... biết sao mà nói …
Kính lạy Giác Linh Ôn,
con với Ôn có những kỷ niệm đặc biệt đó, rất nhỏ, nhưng với con nó lớn vô cùng,
viết lại vài dòng kỷ niệm về Ôn, nhớ thương Ôn với vô vàn kính mến.
Lạy ôn.
MinhTâm.
(xem tiếp)