TIỂU SỬ và HÀNH TRẠNG Của THIỀN SƯ
THÍCH MẬT HIỂN
(*)
Điều Ngự Tử
TÍN-NGHĨA
(*)
Phần Tiểu sử và Hành trạng đặc biệt nầy, người viết đã in thành
sách một lần, được gởi về tận tay để Ngài đọc trước và đã được
Ngài phê chuẩn rồi - Sau đó, Ngài Viên tịch, người viết y theo
lời dạy của Ngài mà in lại một lần nữa thành sách và cũng đã
được độc giả bốn phương đọc ở trên trang nhà:
www.todinhtudamhaingoai.net. chỉ có thêm một vài nét được rút gọn
trong phần Tang lễ của Ngài. Do vậy mà, người Chủ trương cho in
lên phần đầu của Kỷ Yếu này ;
còn có thêm một bài Tiểu sử từ quê nhà gởi ra, nếu được
in, thì cũng chỉ được in thêm vào sau cuốn Kỷ Yếu nầy như là một
phần bổ khuyết mà thôi.
1.- Thân Thế :
Hòa thượng họ Nguyễn Duy húy là Quảng.
Thọ sanh dưới triều Nguyễn, đời vua Duy Tân năm thứ ba, ngày 04
tháng 03 năm 1907 (tức nhằm ngày
Nhâm Tý 20 tháng Giêng năm Đinh Mùi theo lịch
vạn niên),
tại làng Gịa Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh
Thừa Thiên. Một làng chạy dọc theo dãy Trường Sơn và quốc
lộ số Một, nhưng có một đồng ruộng phì nhiêu nổi tiếng nhất ở
Hương Thủy.
Thân phụ là cụ Nguyễn Duy Bút, một bậc thâm nho lại có nghiên
cứu về Phật học, đạo đức, khi xả báo thân thọ 93 tuổi.
Thân mẫu là
bậc mẫu nghi hiền hòa, hiếu đạo. Nhờ phúc ấm ấy mà ngài đã
sớm xuất gia, tầm sư phỏng đạo.
Lên năm tuổi,
ngài được theo Nho học và Phật học với phụ thân.
Năm Giáp Dần
(1914), được bảy tuổi liền đầu sư với tổ Giác Tiên tại Tổ
đình Trúc Lâm.
2.-
Sự Nghiệp Tu Học :
Với bẩm chất thông minh, ngài học kinh điển rất
nhậm lẹ. Thời công phu mà chúng tăng thường tụng mỗi buổi
sáng, ngài chỉ học trong một tuần là thuộc nằm lòng. Sư
phụ cũng hài lòng mà chúng lý ai ai cũng nể phục. Chuyên
tinh học hành kinh, luật và luận với sư phụ suốt bảy năm liền.
Năm Tân Dậu (1921), nhơn cậu Hoàng Cả
(tức vua Khải Định khi chưa tức vị),
lên chùa lạy Phật và viếng cảnh, nhận thấy ngài thông minh đỉnh
ngộ, cậu Hoàng Cả bèn xin tổ Giác Tiên cho đưa vào hoàng cung để
đào tạo thêm phần Nho học. Nhưng vì quyết chí học đạo giải
thoát, chí xuất trần quá mạnh, ngài chỉ ở trong hoàng cung, nội
phủ vỏn vẹn một năm rồi cũng xin trở lại chùa cùng sư phụ.
Năm Nhâm Tuất
(1922), lên 15 tuổi, được bổn sư cho đăng đàn thọ Sa di Thập
giới tại Đại giới đàn Từ Hiếu.
Pháp danh :
Tâm Hương
Pháp tự :
Mật Hiển
Thuộc giòng Lâm Tế chánh
tông đời thứ 43.
Với đạo hạnh và uy đức ấy, bổn sư cho ngài ra đảm
nhiệm việc sơn môn để phát huy đạo pháp trong thập niên đang
chấn hưng Phật giáo tại miền Trung, mặc dầu trong lúc này ngài
chưa thọ Cụ túc giới.
Năm Ất Sửu (1927), vừa tròn 20 tuổi, ngài thọ giáo Mật tông với
một vị Pháp sư người Tây Tạng tại nhà ông Lương Tế Xuyên, ở
Quảng Nam (bây giờ là
tòa Hành Chánh của thị xã Đà Nẵng). Theo học
được hai năm, trong chuyến về thăm chùa và sư phụ, ngài định
muốn sang tận Trung hoa để học thêm Mật tông và có cơ hội nghiên
cứu thêm giáo lý Phật đà, thì Tổ bảo ở nhà để cùng sơn môn chung
lo công cuộc chấn hưng Phật giáo đang còn phôi thai, cán bộ thì
hiếm hoi, cuối cùng ngài đành phải vâng lời và ở nhà lo Phật sự.
Lớp Đại học Phật giáo đầu tiên được mở tại Trúc Lâm, sau đó dời
qua Tổ đình Tây Thiên, ngài đã theo học hết tất cả những chương
trình một cách rốt ráo và trọn vẹn. Bẩm chất thông minh
nên ban Giảng huấn vô cùng thương
mến. Đặc biệt Hòa thượng Giám đốc Quốc sư Phước Huệ thường
tấm tắc khen thầm trong lúc chấm bài nộp quyển của ngài cũng như
khi đang giảng dạy tại lớp.
Hòa thượng Phước Huệ vì tuổi già sức yếu, vã lại, cán bộ của đạo
lúc này cũng tương đối vững mạnh, ngài trở về lại Tổ đình Thập
Tháp (Bình Định).
Trước khi trở về, đức Từ Cung (mẹ
của vua Bảo Đại) có thưa hỏi lên ngài Phước Huệ như
sau :
-. “Sau khi Hòa thượng về rồi, chúng con muốn học thêm
giáo lý, kinh điển thì biết làm sao ?”.
Hòa thượng hoan hỉ trả lời :
-. “Sau này
quý vị nào muốn học thêm kinh điển thì nên theo học với chú Hiển
(tức Hòa thượng Thích Mật Hiển bây giờ).
Cũng chính từ
lời dạy ấy của Hòa thượng Phước Huệ, mà năm Đinh Sửu (1937), vua
Khải Định và đức Từ Cung đã cung thỉnh ngài về cung An Định ở An
Cựu để hướng dẫn kinh điển cho Nguyễn Phước tộc.
Vì hoàn cảnh
của đất nước trong thời tao loạn do thực dân Pháp chiếm giữ làm
thuộc địa, việc đi lại ngày càng thêm khó khăn, mọi sinh hoạt từ
chốn thiền môn ra đến dân dã cũng đều bị đình trệ.
Năm Bính Tý
(1936), vừa đúng 29 tuổi mới có Đại giới đàn mở tại Bình Định,
ngài được đăng đàn cầu thọ. Ngài thọ Tỳ kheo và Bồ tát
giới do ngài Phước Huệ làm Đàn đầu, đổ Thủ khoa, được chư vị
Trưởng lão trong đàn giới truyền trao Y bát và Tích trượng.
Tổ Giác Tiên cũng truyền kệ phú pháp như sau :
Tâm Hương
(*)
pháp giới huân,
心
香
法
界
薰
Xứ
xứ kết tường vân,
處
處
結
祥
雲
Phú nhữ
tâm hương tánh,
付
汝
心
香
性
Cừ kim chánh thị quân.
渠
今
正
是
君
(*) Tâm
Hương
là Pháp danh của ngài Mật Hiển. Căn cứ vào Pháp danh để Tổ
đặt kệ phú pháp.
3.-
Ảnh Hưởng Của Ngài Đối Với Đạo :
Ngài là một trong bảy vị giảng sư đầu tiên
“Cốt Tủy Nghi Lễ Phật Giáo”.
Năm Kỷ Mão (1939) được bộ Lễ và Sơn môn cung thỉnh chức vị Trú
trì quốc tự Thánh Duyên
(tức chùa Túy Vân tại quận Vĩnh Lộc
bây giờ).
Năm Nhâm Ngọ (1942), ngài đứng ra vận động chư Tôn đức Tăng già
để mở Đại giới đàn tại Tổ đình Thuyền Tôn. Thiền sư Mật
Thể và Sư bà Diệu Không đắc giới ở Đại giới đàn này.
Năm 1949-1951, vì nhu cầu hoằng truyền giới pháp, ngài
phải vào tận Sa Đéc để giảng dạy kinh điển cho Tăng Ni ở đây.
Có đến 106 vị theo học với ngài trong thời gian này. Trong
số 106 vị ấy, có vị là cán bộ cao cấp của Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất bây giờ, và, Sư bà
Thích nữ Viên Minh, đương kim Viện chủ Hồng Ân Ni tự, cách Tổ
đình Trúc Lâm 500m, cũng đã theo học khóa nầy.
(trước 30 tháng Tư - 1975).
Năm 1953 -
1955, Sơn môn Tăng già cung thỉnh ngài đảm nhận chức Tổng trị sự
Tăng già Trung Việt.
Năm
Bính Thân (1956), ngài đại diện Giáo hội và chính phủ Đệ Nhất
Cộng Hòa đi dự Đại lễ Phật đản tại Đông Hồi. Nhân dịp này,
ngài đã được đi chiêm bái, thăm viếng các Phật tích, chùa chiền,
thắng cảnh của các nước Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện và Ai Lao
… Khi trở về, ngài có thuật lại chuyến đi này bằng một tác phẩm
nhỏ Phật Đản Đông Hồi
(Năm 1965, người viết có
đọc được một lần, Tết Mậu Thân (1968), chùa chiền bị hư hại, nên
tác phẩm này cũng tan nát theo tủ kinh sách của người viết).
Năm Kỷ Hợi
(1959), Giáo hội và chính
phủ cử đi dự Đại hội Hòa bình thế giới tại Nhật Bản. Ở đây Ngài
đã tham dự Đại lễ Phật đản, sau khi về nước Ngài có thuật lại
một bài viết ở Tập
San Liên Hoa vào mùa Đản sanh 2503 -1959.
(Xin quý độc giả đón đọc ở phần cuối của bài
nầy).
Kể từ năm 1962
trở về sau này, ngài là vị Đặc ủy Tăng sự của Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ngài cũng là vị
Giám luật của Tăng Ni bản tỉnh.
Năm Quý Mão
(1963), ngài là Trưởng ban
tổ chức Đại lễ Phật Đản 2507 tại Thừa Thiên. Cũng trong
mùa Phật Đản lịch sử này đã mở ra một trang sử mới cho Phật giáo
là xóa tan Dụ số 10 mà nhà Ngô
Đình đã lợi dụng để tận dụng trong thời gian cầm quyền đàn áp
Phật giáo cũng như các giáo phái và đảng phái chân chính khác.
Sau ngày Cách mạng 01-11-1963 thành công, Giáo hội đi đến
vấn đề thống nhất các giáo phái Phật giáo ; Hòa thượng Đôn Hậu
là Trưởng phái đoàn miền Vạn Hạnh, ngài là Trưởng phái đoàn Thừa
Thiên - Huế.
Ngài cùng với quý Hòa thượng Thiện Hòa, Trí Thủ đứng ra
thành lập Ban bảo trợ cho các Phật học đường trên toàn miền Nam
Việt Nam.
Năm Ất Tỵ (1965), là Đệ tứ Tôn chứng sư Đại giới đàn Vạn
Hạnh tại Tổ đình Từ Hiếu
(Hòa thượng Trí Chơn, Phó
chủ tịch Giáo Hội PGVN Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ đắc giới
ở giới đàn này).
Năm Đinh Mùi (1967), ngài cùng quý Hòa thượng Đôn Hậu,
Mật Nguyện và Thiện Siêu đứng ra mở lớp Chuyên khoa Phật học nội
trú bốn năm tại Tổ đình Linh Quang
(Ở hải ngoại hiện đang hành hóa Phật pháp có các vị như : Thượng
tọa Thích Tín Nghĩa khai sáng Tổ đình Từ Đàm Hải Ngoại tại
Dallas, tiểu bang Texas, Thượng tọa Thích Tịnh Từ khai sáng kiêm
Viện trưởng Tu viện Kim Sơn, thành phố Watsonville, tiểu bang
California, Thượng tọa Thích Thiện Trì tọa chủ chùa Kim Quang
tại thành phố Sacto, CA, đều xuất thân từ khóa này).
Năm Mậu Thân
(1968), được Hội đồng viện Tăng Thống suy cử lên ngôi vị Hòa
Thượng để tán dương công hạnh tu niệm và hành đạo của ngài. Và,
cũng trong năm này, ngài là Giáo thọ A xà lê sư cho Đại giới đàn
mở ra tại Phật học viện Hải Đức, Nha trang.
Năm Canh Tuất
(1970), làm Giáo thọ A xà lê sư tại Đại giới đàn Vĩnh Gia, tổ
chức tại Phật học viện Phổ Đà, Đà Nẵng.
Năm Nhâm Tý
(1972), làm Giáo thọ A xà lê sư cho giới đàn Bảo Quốc.
Năm Quý Sửu
(1973), ngài được suy cử vào Hội đồng viện Tăng Thống.
Trong lúc này,
Hòa thượng Mật Nguyện, pháp đệ của ngài vừa viên tịch, ngài lại
phải nhiếp hóa Tăng chúng của Linh Quang nữa.
Cũng trong năm 1973, Hội đồng lưỡng viện cung thỉnh ngài vào
ngôi vị Giám luật cho Tăng tín đồ toàn quốc.
Năm Ất Mão (1975), làm Giáo thọ A xà lê sư cho giới đàn
Bảo Quốc.
Hiện tại (kể từ năm 1978
đến ngày viên tịch), ngài là Phó Pháp chủ Giáo hội
Phật giáo Việt Nam.
Tháng Tư -
1975, tinh thần dân chúng miền Nam Việt Nam, trong đó có Giáo
hội Phật giáo chịu không biết bao nhiêu là thống khổ dưới mọi
hình thức ; đứng trước mối gian nguy ấy, ngài phải đứng chịu mũi
cắm sào để xử thế với thời cuộc. Không những Ngài chỉ lo
cho Đạo pháp mà còn lo cho cả Đại khối dân tộc nữa.
Trong những
biến chuyển của lịch sử Đạo cũng như Đời, kể từ Nhật, Pháp thuộc,
Đệ nhất, Đệ nhị Cộng Hòa và giai đoạn chuyển tiếp từ năm 1975 về
sau này nữa, không lúc nào mà Ngài không dấn thân để lèo lái vận
mệnh Giáo hội từ Trung ương cho đến địa phương.
Hình ảnh của
Ngài trong các Đại hội GHPGVNTN kỳ 5, kỳ 6, và kỳ 7; nếu không
có ngài trong Đại hội, thì chúng ta cũng thừa biết rằng : Đại
hội khó đi đến thành công.
(Những ai đã biết
đến ngài, những ai đã từng thọ giáo với ngài hay đã từng tham
gia Giáo hội các cấp, có tham dự các Đại hội Phật Giáo Việt
Nam
Thống Nhất tại Trung ương thì rõ ràng nhất).
Tiếng nói và hình ảnh của ngài cũng đủ để cho lòng người bớt
tham, sân, và si. Cuộc đời ngài là bóng mát từ bi. Đúng là bậc
danh tăng, thiền đức. Xứng đáng với các đức tính Đại hùng, Đại
lực, Đại trí và Đại từ bi.
Ngài thường dạy đồ chúng sống theo hạnh của ngài Bách
Trượng thiền sư là :
-. “Nhất nhật bất tác nhất
nhật bất thực”.
Nghĩa là :
-. Một ngày không
làm là một ngày không được ăn.
Đệ tử của ngài dù có theo tân học, nhưng vẫn sống đúng
theo quy củ thiền môn như ngài đã dạy. Đặc biệt Tổ đình Trúc Lâm
sống theo nông thuyền dù bất cứ chế độ nào.
Những ai đã được tôi luyện ở chốn già lam Trúc Lâm, ít ra
cũng có được một số kiến thức căn bản về Phật pháp, đạo hạnh để
tự tu niệm và hành trì.
Hiện thân của ngài cùng với cảnh trí thiền viện Trúc Lâm, thật
xứng đáng :
-. “Y Bát mai sau,
truyền gốc đạo,
Tre già, măng mọc ngắm càng xinh …”
(Đoàn Lục Quán)
Cuộc đời ngài luôn luôn gắn liền với Đạo pháp và Dân tộc.
Không lúc nào mà ngài không lo nghĩ và để tâm cho Tăng Ni và
quần chúng Phật tử cũng như đồng bào.
Bẩm tính cương trực, vừa mật cũng vừa hiển, phù hợp với
đạo hiệu của Ngài. Sư bà Diệu Không đã tặng ngài một bài thơ
đúng với Pháp hiệu, bẩm tánh và hạnh nguyện của ngài như sau :
Hòa thượng kim triêu ngoại
thất tuần,
Hoa niên xuất tục thậm gian truân,
Trực tâm nhất niệm kinh thường diễn,
Phật tánh viên dung luận quán quân.
MẬT tại ý trung vô trú trước,
HIỂN ư tướng ngoại hữu nghiêm huân,
Đồng trần ly nhiễm nan tư nghị,
Huấn thị ban truyền đại chúng tuân.
Diệu
Không - Giáp Dần - 1975
Và cụ Đoàn Lục Quán cũng biết về hạnh nguyện và bẩm
tánh của ngài nên cũng đề thơ tặng như sau :
Mật Hiển thanh niên
tánh hiếu kỳ,
Thâm uyên nguyệt tại thiểu nhân tri,
Đáo giả ân cần chơn Phật tử,
Lai sanh đương kế cửu liên trì.
Đoàn
Lục Quán
Trước cảnh Đạo pháp đang gặp phải lắm đau thương, Dân tộc
thì lâm
vào cảnh lầm than khốn khổ ; Tăng Ni thì bị đày xa xứ, kẻ thì
tù tội không có ngày về, hằng ngày Ngài cứ than dài thở vắn cho
tình đời nghĩa đạo. Một ngày như mọi ngày, với tuổi đời ngoài
tám mươi mà vẫn kéo bộ cái thân già ốm yếu ra tận văn phòng Giáo
hội để làm điểm tựa và niềm tin cho Tăng Ni tín đồ bản tỉnh,
nhất là lớp Tăng Ni trẻ tuổi có tâm đạo nhiệt thành, một lòng dĩ
chí phụng đạo.
4.-
Những Ngày Cuối Cùng :
Đầu Xuân năm Nhâm Thân (1992), ngài như có linh cảm cho sự ra đi
của mình, nên trong ngày húy nhật của đấng thân sinh, ngài đã về
quê thăm viếng mộ phần của Tổ tiên lần cuối cùng những nấm mồ
quý kính.
Cũng trong dịp tết Nhâm thân này, chư Thượng Tọa, Đại Đức Tăng
Ni trong Ban Trị sự đã đến Tổ đình Trúc Lâm để đảnh lễ và chúc
thọ ngài. Khác hẳn những năm trước, năm nay, ngài đã dạy Tăng
chúng Trúc Lâm lạy đáp lễ Ban Trị sự, rồi ngài ân cần khuyên nhủ
với giọng nghiêm và buồn làm sao, như là những lời di huấn tối
hậu :
“… Tôi cám ơn quý Thầy. Trong năm
qua, quý
Thầy đã cùng tôi chung lo việc Giáo hội, tuy có nhiều cực nhọc,
song cũng có nhiều kết quả tốt. Tôi thiết tha mong mỏi quý
Thầy hãy thương mến, hòa hợp với nhau để chung lo Phật sự ; thấy
thành công quý Thầy đừng kiêu hãnh, thấy khó khăn cũng đừng nản
lòng. Hãy lấy xả lợi làm vinh hoa, lấy khó khăn làm sự tác
thành. Có như vậy, quý Thầy mới thành tựu đạo nghiệp chí
thượng, ngõ hầu báo đáp được thâm ân Phật Tổ và không bội phản
hạnh nguyện nhập thế, xuất trần của mình …”
Sau đó, Ngài lần lượt đi thăm các bậc Tôn túc trong
Giáo hội, chiêm bái các Tổ đình, khuyên dạy và nhắc nhủ chư Tăng
Ni và đồ chúng cố gắng tinh cần tu học, phục vụ chánh pháp, lợi
lạc quần sanh.
Ngài vừa đứng ra nhận lãnh trách nhiệm Trưởng ban tổ chức
tang lễ cho cố Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Chánh thư ký xử
lý viện Tăng Thống mới viên tịch trong ngày 23 tháng 04 năm 1992
; tang lễ vừa xong, Ngài thọ bệnh.
Ngày
15-05-1992 (tức ngày 13 tháng Tư
năm Nhâm Thân), Giáo hội Thừa Thiên cử một Ban Đại
diện gồm chư Tôn túc trong Giáo hội vào vấn an ngài và cũng để
trình ngài hay là : Giáo hội sẽ trang trọng cử hành Đại lễ Phật
đản 2536 tại Từ Đàm đúng vào lúc 9 giờ sáng ngày Rằm ; đồng
thời thỉnh ngài chứng minh tinh thần cho ngày đại lễ.
Hàng Giáo phẩm
trong Giáo hội đứng chung quanh ngài, thưa hỏi :
- Ôn có mệt lắm không ?
Ngài trả lời :
- Tôi tuy trong người có
mệt, nhưng, các Thầy cứ yên tâm lo lễ Phật Đản, xong lễ tôi mới
đi.
Thật là một lời dạy vô cùng quý giá, ngài đã biết trước
giờ viên tịch, chọn ngày Phật Đản và đợi cho lễ Phóng sanh đăng
trên dòng Hương Giang hoàn tất, kết thúc chương trình tuần lễ
Đản Sanh của đấng Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni.
Đúng vào lúc
21 giờ 40’, ngày Rằm tháng Tư năm Nhâm Thân
(tức Chủ
nhật, ngày 17 tháng 05 năm 1992), ngài xả báo thân
để về cõi tịnh giữa tiếng tụng kinh niệm Phật của Hòa thượng
Thiện Siêu và đông đủ chư Tăng Ni trong Ban trị sự cùng môn đồ
tứ chúng. Ngài hầu Phật đúng ngày trăng tròn đức Phật thị hiện
Đản Sanh.
Lễ nhập tháp vào ngày 22 tháng Tư,
(tức Chủ nhật, ngày 24 tháng 05 năm
1992).
Ngài thọ thế
86 tuổi. Suốt 79 năm liền ngài ở tại Trúc Lâm Đại Thánh tự, hạ
lạp 57 tuổi đạo.
Tóm lại, cuộc
đời của Hòa thượng Thích Mật Hiển đối với đạo là :
Một cuốn Trường hàng Tỳ ni Nhật dụng
.
Đối với dân
tộc là một trang sử vàng son cho những ai muốn làm Cách mạng,
nhất là cách mạng bản thân.
Mặc dầu ngài
đã chọn con đường đi và ở đúng với Phật pháp là :
- “Sanh nhi bất sanh,
tích Thế tôn Sa la song thọ thị hiện Niết bàn,
Tử nhi bất tử, tằng Đạt mạ chích lý Tây quy”.
Và cũng thuận thế gian :
Sanh viết ký như tử viết quy,
nghĩa là:
Sống gởi thác về.
Nhưng than ôi ! Là con người, là chúng sanh
thì không ai mà không đau lòng xót dạ, không ai mà không khỏi
ngậm ngùi rơi lệ vì :
Trước cảnh dầu sôi lửa bỏng về thời cuộc của Dân tộc và
Đạo pháp trong hiện tại, thì Ngài từ giả tất cả.
Sự ra đi của
ngài là một mất mát lớn lao không những chỉ cho Giáo hội mà còn
chung cho cả đại khối dân tộc, đặc biệt là miền Trung và Cố đô
Huế.
Rất khó mà có
được một vị thứ hai như ngài có cùng một tấm thân, một bẩm tính
vừa nhu, vừa cương vừa hiển lại vừa mật để đứng ra lo giềng mối,
kỷ cương cho lớp Tăng Ni hậu tấn ;
làm trụ côt chính để gánh vác hai mặt Đời và Đạo.
Mặc dầu ngài
đã rủ áo, buông tay đi vào cõi vô sanh diệt ; nhưng đạo phong,
âm ba của ngài vẫn còn vang vọng mãi mãi trong lòng Tăng Ni và
Tín đồ Phật giáo cũng như quê hương cẩm tú Việt Nam. Hậu bối và
là đệ tử của ngài (người viết và
là đệ tử trực tiếp của Ngài) xin mạo muội cúng dường
câu đối :
*.-
MẬT
(*)
tại ý trung, thiền đăng tục diệm ư chánh nhơn, tác tòng lâm chi
mô phạm,
+.-
密
在
意
中,
禪
燈
續
燄
於
正
因,
作
叢
林
之
模
範.
*.-
HIỂN
(*)
ư tướng ngoại, tổ ấn cao quang ư thục quả, vi tứ chúng chi chiêm
y.
+.-
顯
於
相
外,
祖
印
高
光
於
續
果,
為
四
眾
之
瞻
依.
(*)
Hai
chữ đầu viết hoa là Pháp hiệu của ngài, là bổn sư của người viết.
Trong tang lễ của cố Đại lão Hòa thượng chư Tăng Ni và
Phật tử toàn quốc về tham dự cúng dường cả hàng trăm bức liễng,
đối và vòng hoa. Đại để là những câu được rút ra từ kinh Phật.
Tuy thế, cũng có một số câu hoặc bài thơ đặc biệt nói lên
sự thương tiếc và uy đức tu niệm cao diệu của ngài.
Thầy Tâm Chơn, hậu duệ của ngài Hồng Khê cúng dường câu
đối :
*.-
MẬT
hạnh dụng thần lợi nhân lợi vật ly trước tướng,
*.-
HIỂN
công viên tựu đương quán đương chỉ ứng thiền cơ
.
Chư Tăng và Phật tử chùa Hải Quang, Sài Gòn cúng dường bức
liễng bốn chữ
- Tạc Dạ Chi Mai
Trường Cao cấp Phật học cúng bốn chữ :
- Phật Pháp Đống Lương
Khuôn Giáo hội Lương Quán cúng bốn chữ :
- Sơn Hà Bi Lệ
.
Ngài Thích Thiện Trí và chúng Hiếu Quang cúng dường câu :
*.-
Chiên đàn hương
phong ly đẳng Chúng,
*.-
Trúc Lâm hoa vũ ức cao
Tăng.
Hòa thượng Thích Trí Quang dạy :
- Mật hạnh của ngài, chúng
ta không thể tư nghì, mà chỉ có Phật và Bồ Tát mới hiểu được nên
Hòa thượng cúng dường câu :
“ Nam Mô
Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật”.
Đặc biệt Thượng tọa Viên Minh và môn đồ chùa Huyền Không
cùng quý vị ký tên đã cúng điếu cũng như khóc thương về ngài
bằng những vần thơ :
Thiên cổ lung linh ngọn nến hồng,
Người đi sương nước lệ ngàn không,
Kim
Cương, bút phất tờ mây trắng,
Viên Giác, trăng treo vạt áo sồng.
Bỏ bến, thung dung thuyền
mật độ,
Vào đời, thanh thản gót chơn
tông,
Thiên nhiên, khí tiết bừng
trăm trượng,
Hạo hạo, nghi dung ngút vạn
tòng.
Hiên lặng, cỏ rền – thơ nở
chữ,
Tháp nghèo, sỏi đá - đạo đơm
bông,
Trường giang, nhạn quá tâm
lưu phụng,
Rừng Trúc, non linh tuệ nhật
đồng.
Mùa Phật Đản 2536 – chùa Huyền Không
cẩn bút.
*
* *
Bài dưới đây không nhận được quý danh với bài thơ :
Hương Từ Rừng Trúc
Đầu đà giới hạnh nghiêm
thông,
Đạo phong cao ngất, trăng
rằm trời thu.
Viên dung Phước Huệ song tu,
Ngàn năm còn thoảng Hương Từ
Trúc Lâm.
Khóc Thầy
Nhớ thương, thương nhớ nỗi
đầy vơi,
Rừng Trúc từ nay vắng bóng
Người,
Tiếng ngọc Niết Bàn là ngọn
sóng,
Trang kinh Bát Nhã sạch hiên
đời.
An nhiên my khép bờ hư ảo,
Thanh tịnh trăng chìm cánh
viễn khơi.
Dâng nén trầm hương dâng
khói tỏa,
Nhớ thương, thương nhớ nỗi
đầy vơi.
Ngọc Quế
* * * * * * * * * * *
Tiễn Biệt
Vầng trăng soi sáng dặm trường,
Người đi để lại tình thương vô bờ.
Mây sầu giăng kín hồn thơ,
Trúc Lâm vắng bóng Ôn, chừ buồn tênh.
Trăm năm giấc mộng vô tình,
Người đi, con ngỗ dáng hình còn đây.
Cuộc đời đạo hạnh cao dày,
Uy nghiêm phước tướng, tỏa đầy thiền môn.
Tuệ Tâm
Từ nơi vùng trời xa
thẳm, cách quê hương mến yêu bằng nửa quả đất, vọng về Tổ đình
Trúc Lâm dâng nén tâm hương và cúng dường một vài tâm sự lên Sư
Phụ, tỏ tất dạ bùi ngùi với những Cảm niệm
mộc mạc. Mặc dầu trước khi ra đi cũng đã được hầu cận bên Ngài,
đảnh lễ, tâm sự và được Ngài chứng minh cho.
Mùa Phật đản nầy (1993), Ngài rũ áo ra đi, để lại bao
nhiêu thương cảm riêng đối với hàng hậu học xuất gia cũng như
tại gia ở Hải ngoại nói chung và Tổ Đình Từ Đàm Hải Ngoại nói
riêng ; mùa hoa Ưu
Đàm nở cũng là ngày Sư Phụ ngồi lên đài sen ở cảnh giới Di Đà
tịnh độ. Đệ tử tỏ tấc dạ như sau trước linh đài của Ngài :
(xem tiếp)
Please press HOME
to go back to the main web page
HOME