Dưới đây là bài thuật lại khi Ngài
cùng phái đoàn Phật giáo Việt Nam qua Nhật Bản dự hội nghi Hòa
bình của 12 nước Đông Nam Á. Ngày trở về Ngài đã ghi lại như sau
:
(Trích Nguyệt San Kỷ
niệm Phật đản 2503-1959, từ trang 45 đến trang 49)
DỰ LỄ PHẬT ĐẢN
Tại NHẬT BẢN
THÍCH MẬT HIỂN

ội nghị vào ngày 27 tháng 03 năm
1959 do lời mời của Phật giáo Nhật Bản, Chánh phủ Việt Nam mời
một phái đoàn gồm có bốn vị Tăng già :
Trung phần là tôi và thầy Nhất Hạnh. Nam Phần một vị là
thầy Thích Thiện Hoa. Bắc phần một vị là thầy Thích Tâm Châu.
Cuộc hội nghị nầy gọi là hội nghị Phật giáo toàn các nước
Đông Nam Á hiện diện chỉ có 12 nước :
Chương trình thảo luận của hội nghị có ba điểm chính như
sau :
1.-
Quan niệm Phật giáo về vấn đề hòa bình, và phương pháp
thực hiện hòa bình.
2.-
Phật giáo đối với nền văn minh cơ khí thế giới hiện đại.
3.- Lập trường Phật
giáo trong tư trào văn hóa thế giới.
Ngoài các phái đoàn đại diện Phật giáo các nước hội nghị có mời một số
văn hào có danh trên thế giới đến để thảo luận.
Ngày khởi hành của chúng tôi là ngày 25-3-59 tại sân bay Tân Sơn Nhứt
Sài gòn, một số Tăng Ni và tín đồ Phật giáo non một ngàn đi đưa
với bao nhiêu cảm niệm nồng nàn. Phái đoàn chúng tôi không khỏi
bồi hồi trong lúc mang trách nhiệm đại diện cho toàn thể Phật tử
Việt Nam để góp phần xây dựng cho nền hòa
bình nhân loại.
Máy bay cất cánh lúc 9giờ 30 sáng đến sân bay tỉnh Tokyo Nhật Bản lối 11
giờ đêm (giờ
địa phương). Đến nơi, ban tổ chức ra đón nồng hậu. Đại sứ Việt Nam cũng cho người ra đón. Chúng tôi
được mời về chùa Sojyjy an nghỉ cùng các phái đoàn Tăng già các
nước trong những ngày hội nghị ở Đông Kinh, Nhật Bản. Trưởng ban
tổ chức Phật giáo là một vị cựu Thủ tướng, ông nầy là một người
Phật tử trong phái Thiệp Thế Tăng.
Tăng già Nhật Bản tổ chức có hai lối tu :
1.- Xuất thế tăng là những
vị Tăng tu hành thuần túy,
2.- Thiệp thế tăng tức là
những vị có gia đình, có địa vị ở xã hội mà đã phát nguyện vào
Tăng đoàn trong mỗi tháng đến chùa. Phái này cũng gọi là tân
tăng, làm việc rất đắc lực cho Phật giáo. Đại để các Thủ tướng,
Bộ trưởng và các Giáo sư trường đại học, đều là phái tân tăng
nầy mà ra cả.
Ngày 27 tháng 03, hồi 10 giờ 20 làm lễ khai mạc tại hội trường Hrbizya.
Lễ khai mạc có Hoàng thân đại diện Thiên hoàng và tất cả Thủ
tướng, Bộ trưởng, tất cả các ngành chánh trị, các đoàn thể công
dân, có trên mấy trăm người. Thủ tướng Nhật đọc bài diễn văn
khai mạc, đại diện các nước đọc các bài diễn từ, bản diễn từ của
phái đoàn Việt
Nam
cũng được toàn thể hoan nghinh.
Sau buổi lễ khai mạc tất cả đều vào phòng hội nghị ba điểm chính trên
được nêu ra, bàn cải các vấn đề rất sôi nổi, chúng tôi nhờ thầy
Thích Thiên Ân và thầy Quảng Minh học sinh Trung Việt và hai
thầy Bắc Việt giúp đỡ việc thông ngôn nên cũng hiểu được nhiều
về đề thảo luận mục đích chính của cuộc hội nghị này là kêu gọi
nhân loại xoay về lối sống hòa bình tức là lối sống từ bi của
Phật giáo. Trong thời gian tham luận, đại biểu các nước đều phát
biểu ý kiến của mình. Phái đoàn Việt
Nam
cũng góp ý kiến và in thành tập, phát cho các đại biểu trong hội
nghị và được hội nghị chú ý một cách đặc biệt
(sau này tôi sẽ lần lượt dịch và in các bài thông điệp ấy).
Lúc một giờ rưỡi chiều ngày 29 tháng 3 - 1959, lễ Phật nhập Niết bàn
cử hành tại thao trường
Tokyo City, cuộc lễ bắt đầu bằng một bản nhạc
hòa tấu vĩ đại do những nhạc sư Ấn Độ đã truyền dạy cho nhạc sĩ
Nhật Bản. Bản nhạc này diễn tả tinh thần đại thể của Kinh Thủ
Lăng Nghiêm, Kinh Bát Nhã v..v..., đó là một nhạc phẩm kỳ công
của Phật giáo. Tiếp đó các danh ca trình diễn các tuồng Phật từ
lúc xuất gia đến khi nhập diệt, bằng các điệu bộ kỳ thú.
Lễ xong hội nghị tiếp tục thảo luận tới 12 giờ ngày 31 tháng 3 năm 1959
mới làm lễ bế mạc ;
Phái đoàn Việt Nam tặng ban tổ chức một bức sơn mài vẽ hoa sen
tiêu biểu cho tinh thần Đại thừa Phật giáo và tặng Thiên hoàng
một bức chơn dung của Thiên hoàng với những nét vẽ nổi. Sau đó
phái đoàn Việt
Nam
được đặc biệt đón vào đại nội để làm lễ trao tặng phẩm vật kỷ
niệm. Hoàng thân tiếp đón thân mật và tỏ lời cám ơn Phật Giáo
Việt Nam.
Sau cuộc đại hội chúng tôi được tiếp xúc nhiều nhân vật Nhật Bản, nhận
thấy Nhật Bản là một nước Phật hóa rất sâu xa, vì tôi đã tìm
thấy ở họ có những nét đặc điểm như sau :
-. Họ rất tín lý nhơn quả.
-. Dân chúng Nhật Bản không
tham lam trộm cướp, ra đường không lượm của rơi.
-. Tinh thần tự trọng rất cao.
Đức dục và trí dục được phát triển mạnh, nhất là tinh thần dân
chủ được biểu dương rất cao trong những cuộc biểu tình tự động
của dân chúng, điển hình như cuộc biểu tình yêu cầu ở nhà ông
Thủ tướng, để hỏi số tiền lớn do ông làm nhà cho người con gái
do đâu mà ra. Nhưng cuộc biểu tình rất có trật tự và sau khi
thỏa mãn về những lời giải thích của ông Thủ tướng thì dân chúng
kéo nhau ra về một cách êm thấm.
Ở Nhật có nhiều thắng cảnh và người Nhật cũng rất ưa chuộng những thắng
cảnh ấy. Đặc biệt nhất là khắp nơi thắng cảnh đều có xây tượng
hoặc thờ Phật.
Trong việc giáo dục gia đình những người mẹ Nhật Bản không quên nhắc nhở
con cái ghi nhớ và học tập đức từ bi của Phật.
Trong những ngày lễ các gia đình kéo nhau đến chùa lạy Phật hoặc xem
kinh, bởi thế chùa chiền ở Nhật lúc nào cũng đông đúc. Do đó ở
mỗi chùa đều có một khách sạn riêng để tiếp khách thập phương.
Cuối ngày 31 các phái đoàn bắt đầu lên xe đi thăm các thị trấn,
đồng thời để làm lễ Phật đản ở các thị trấn
ấy. Đến thị trấn nào cũng đều có ông Thị trưởng và toàn dân cầm
cờ Phật giáo để tiếp đón các phái đoàn vào một ngôi chùa hoặc
một công viên để làm lễ Phật, đại khái cuộc lễ sau khi tụng niệm
rồi thì mời các phái đoàn đi biểu diễn theo các đoàn xe hoa. Xe
các đại biểu đều có cắm cờ và biểu ngữ của mỗi nước có hàng Phật
tử đi theo, đưa cho các đại biểu những cuộn dây ngũ sắc dài hằng
trăm thước gọi là dây liên lạc, xe chạy thì các dây ấy kéo dài.
Nhứt là từ khi các phái đoàn từ giả một Thị trấn nào các hàng
Phật tử đi đưa các phái đoàn lên máy bay các mối dây liên lạc
được đưa lên. Tình mến tríu đã làm cho họ phải tươm nước mắt,
các phái đoàn rất cảm động.
Từ Tokyo đi đến Kyoto
là một thủ đô Phật giáo nên có nhiều cảnh chùa rất đẹp to lớn
được dựng lên từ thời xưa.
Đường đi xe điện trong vườn đều lót ciment và đá, sở này cách sở khác
100 thước, họ nói chuyện với nhau bằng điện thoại. Từng phòng
chừng lối 500 vị ở, cư sĩ giúp việc và dự bị xuất gia chừng 1000
người. Vị nào cũng phải tốt nghiệp đại học thế gian rồi mới vào
xuất gia học Phật, nên trình độ Tăng giới của họ rất cao ;
Học cả đời và đạo một cách rất rành mạch, phần nhiều Tăng
Ni của họ là các giáo sư trường đại học hoặc ở các trường tư
trong chùa, hoặc dạy các trường của nhà nước.
Người Nhật họ rất ham học, đọc sách và nghe giảng, người tại nhà cũng
học Phật một cách rành mạch rồi tùy theo bổn nguyện, theo tôn
phái nào thì thực hành theo tôn phái ấy.
Đại để chúng tôi đi thăm viếng được các thị trấn sau này :
Kyoto, Nara, Osoka, Fukkorokos, Hiroshima, một đoàn khác
cũng đi các thị trấn Kyoto, Nara, Osoka, Uragoya, Yamagata rồi
đồng trở về Tokyo.
Các chùa ở Nhật Bản chia thành 12 Tôn như :
Tịnh độ tôn, Thuyền tôn, Luật tôn, Tào động tôn, Mật tôn,
Nhật liên tôn v.. v ... Chùa nào đều tổ chức theo lối tu hành
của Tôn mình phụng sự. Tiếc một điều là chúng tôi không được dịp
viếng Cao giả sơn, có đến mấy trăm nhà tu của 12 Tôn, và rất
thuần túy Phật giáo xưa còn để lại, tiếc vì chưa có dịp để được
đi viếng.
Trong các Tôn, Tôn Thuyền rất khó. Tôi có ở lại một chùa tu tọa Thuyền,
có dự một khóa Thuyền quán, hàng trăm vị ngồi tọa thuyền trong
một nhà thuyền, một thời tọa Thuyền phải một giờ ngồi im lặng,
nếu ai ngủ gục sẽ
bị phạt ba hèo rất nặng, đó là lối
“Bản át”
của Thuyền tôn để dẹp trừ ma ngủ gục. Nhà thuyền có các vị
Thuyền chủ và giám sát thường xách bản đi kiểm soát, nếu nơi
đằng hắng không nghe trả lời thì y pháp phạt ba hèo đau điếng.
Các cư sĩ phải theo pháp Thiệp thế tăng cũng vào tu các Thuyền viện, nam
theo nam, nữ theo nữ, thật là lối tổ chức có quy mô trật tự của
Phật giáo.
Kết luận cuộc hội nghị này đã đưa lại tình thân hữu giữa giới Phật tử
Đông Nam Á. Riêng tôi được gặp lại các sư Tích Lan, Trung Hoa,
Ấn Độ đã được gặp một lần tại Đông Hồi kỳ năm kia. Họ rất vui
mừng như anh em ruột một nhà cùng nhau tái ngộ, và rất hy vọng
được dịp sang Việt Nam thăm các hàng Phật tử.
Các sư Nhật Bản rất nhã nhặn trong sự đón tiếp khách Tăng ;
họ đối với phái đoàn Việt Nam có tình thân thiện hơn, vì đồng
theo một tôn chỉ phụng sự Đại thừa Phật giáo. Chúng tôi cùng với
các sư Trung Hoa có bàn cùng với các sư Nhật sẽ tổ chức một cuộc
hội nghị riêng của các nước Đại thừa Phật giáo để đồng hoạch
định môt chương trình cho tương lai Phật giáo đồ về phái Đại
thừa, chúng tôi rất mong cuộc dự thảo ấy sẽ được thực hiện một
ngày rất gần.
Các sư Nhật Bản rất khen các Du học Tăng Việt Nam. Thầy Thích Thiên Ân đã đậu bằng
Master nhập học lớp văn học bác sĩ và thầy Quảng Minh ngày nghỉ
học cũng có dự các lớp tu Thuyền. Nói tóm lại bao nhiêu điểm
nhận xét của tôi nói trên đều là những điều mắt thấy tai nghe,
có lẽ cũng không được đầy đủ, vì thì giờ eo hẹp.
Ngày 14 tháng 4, chúng tôi về đến Sàigòn, tính ngày đi và ngày về có gần
21 ngày trời, vì số tiền cho đổi quá eo hẹp, nên thời hạn cho
một tháng mà chúng tôi phải về trước thời hạn ấy. Để đáp lại
lòng nhiệt thành của quý vị trong cơ quan Chính phủ và của toàn
thể Phật giáo đồ đã giúp đỡ phái đoàn Phật giáo, tôi thành thật
ghi lên đây lời tri ân thâm đậm.
Thích Mật Hiển
(xem tiếp)
Please press HOME
to go back to the main web page
HOME