CỔ THỤ
TRONG RỪNG THIỀN
TUỆ SỸ
1.-
山有乔木
Sơn hữu kiều mộc.

ừng già, vì
trong đó có cổ thụ. Cây cao, bóng cả sừng sững giữa trời. Từ
những mầm non mong manh, rồi chen chúc với cỏ dại, lau lách ;
năm tháng chồng chất bởi
nắng, gió, nhiều khi giông bão. Những cây cối thuộc chủng loại
thấp hèn bị đào thải dần, những cây đồng loại nhưng non yếu cũng
lần hồi bị đào thải. Còn lại một mình trơ vơ, đứng thẳng, vươn
ngọn lên cao.
Khu rừng ấy,
thoạt đầu tiên chỉ là đám cỏ dại, chỉ đủ chỗ cho rắn rết bò
trườn. Rừng không phải càng lúc càng bành trướng rộng theo chiều
ngang dọc. Rừng lớn lên theo tầm vóc của các cây rừng cứng cõi
chống lại sức tàn phá của khí hậu, của mưa lũ, cho đến con
người. Cho đến lúc, từ những phương rất xa mà có thể trông thấy
tàn ngọn của một cây cao. Rừng già, nhưng không cằn cỗi, thưa
thớt. Cây cao không tiếp sức, cũng không vun bồi, và cũng không
cần che chở cho những cây non yếu. Những gì non yếu đã bị gãy
đổ, còn lại những gì cứng mạnh, tự mình vươn dậy để trưởng thành
những đám cây con dưới bóng cây già. Bấy giờ, rừng không còn là
đám cỏ dại, không còn là tập hợp của những cụm cây con, lùm cây
thấp. Rừng già, và rồi là rừng thiêng, là một cõi oai hùng cho
sư tử, hay hổ báo ; đôi
khi còn là chỗ cho các thần linh, thiện cũng có mà ác cũng có.
Dù thiện hay ác, trong từng thời điểm nhất định, nơi đó là trú xứ
của các Tiên nhân, là chốn hành Đạo của những bậc xuất thế, từ
chốn thâm u làm ánh sáng soi đường cho sinh loại sinh tồn và
tiến hóa, soi vào tận những nơi tối tăm, hiểm ác mà mặt trời rực
rỡ kia không thể soi đến.
Thế nhưng,
rừng già, rừng thiêng luôn luôn cũng là hình ảnh đáng kinh sợ
cho loài người mà tâm tư vốn thấp kém, bị trùm kín trong ước
muốn thấp hèn, bị trói buộc, bưng kín bởi cái thấy, cái nghe
thiển cận. Bóng Người thấp thoáng đỉnh cao ;
nhưng, mây dày phủ kín,
biết đâu mà tìm.
Những tàn cổ
thụ như vậy, trải qua biết bao nhiêu đời, đã là biểu tượng tôn
nghiêm cho rừng Thiền Việt nam. Tuy cũng có nhiều khi nước lũ
cuốn theo rác bẩn tanh hôi từ nguồn cao cuồn cuộn đổ xuống tàn
phá. Lớp cây con bị bật rễ, bị gãy ngang ;
cổ thụ vẫn đứng sững
không hề uốn mình rạp xuống dưới sức ép hung tợn của giông bão.
Người ta tưởng cổ thụ đã trụi lá trơ cành, chỉ chờ đợi khắc
khoải trong bóng điêu tàn để khô héo dần rồi ngả gục ;
để cho rừng già thành bãi
hoang chen chúc cỏ dại, cửa Thiền thành cửa chợ tập nập bọn giảo
đồng:
山有乔松,隰有游龙。不见子充,乃见狡童。
Sơn hữu kiều tùng,
thấp hữu du long. Bất kiến tử sung, nãi kiến giảo đồng
(Kinh
Thi).
Ai có thể
nói gì về những gốc cổ thụ ấy, trong bóng soi của dòng nước khi
trong, khi đục ? Thế hệ
học tăng chúng tôi trưởng thành trong bóng che chỡ của những gốc
cổ thụ như vậy ; có người
nhận thức được điều đó, và cũng có người không hề nhận thức được
; cũng không ít người bị
nước lũ làm bật gốc, bị cuốn trôi theo dòng đời. Riêng những học
tăng trưởng thành dưới bóng sơn môn Huế không ai lại không biết
đến một trong những gốc cổ thụ như vậy của rừng Thiền, một thời
bằng sự nghiêm khắc đã giữ gìn vững giềng mối của Tòng lâm. Khi
hoài niệm về các bậc Cao tăng, như những gốc cây già che chở đàn
cây non yếu, tôi nhớ đến hình bóng khắc khổ, uy nghiêm của Hòa
Thượng Mật Hiển.
2.-
山不在高有僊則名
Sơn bất tại cao hữu
tiên tắc danh.
Thanh u,
nhàn tịnh ; đó là cảm
giác của những người du lãm đến các sơn môn. Trong hầu hết các
bài thơ đề vịnh danh lam, từ Đường, Tống bên Tầu qua đến Lý,
Trần bên Ta, đều có chung ấn tượng ấy. Núi Yên tử, trước đó
nghìn năm vẫn vậy ; sau
đó nghìn năm cũng vẫn vậy ; không
vì thêm một chòi tranh, hay một nhà đá mà khác đi. Song, Yên tử
quả thực có đổi khác trong lòng người ;
cho nên sỏi đá vô tri
cũng có lúc trở thành niềm tự hào của một dân tộc, là hồn thiêng
sông núi. Hồn thiêng ấy cũng chỉ thỉnh thoảng chợt sống dậy
trong khoảng khắc, rồi lại rơi vào quên lãng, bởi người sống vẫn
phải lăng xăng với trăm nghìn mối lợi để giành giựt giữa chợ
đời.
“Mù tỏa Lô sơn khói Chiết giang” ;
cảnh đẹp thực, mà chỉ đẹp
cho các ngài văn học bưng chén trà, ngắm ánh trăng, bên khóm
hoàng lan thơm ngát. Ngoài bờ đá kia, khói Triết giang lạnh cắt
da ; một ông câu rách
rưới, ôm cần ngồi đợi mấy con cá ham ăn dại dột lượn đến đớp
mồi. Sông núi đẹp vô tình, hiền lành đối với những người ít nhất
có một vài phút nhàn hạ ; lại
cũng hiểm ác đối với vô số quần sinh khốn khổ vì lẽ sống thường
nhật.
Đồi Dương
xuân, trong trí nhớ, và trong trí tưởng tượng mông lung của tôi,
ở một mõm đá nào đó, vào một thời nào đó, sáng tinh sương người
ta có thể lần theo dấu vết
của đôi bàn chân nhỏ bé nhưng đã chai sạn phong trần, đã
phải hằng ngày trực diện với đói, no, sống chết. Một thời khác,
ban đêm thì một nhóm người từ rừng sâu xuất hiện ban bố mệnh
lệnh, quyết định sống hay chết cho người này hay người kia ;
ban ngày lại nhóm khác
đến thay. Cùng một dân tộc, cùng gọi nhau là anh em dù bên này
sông hay bên kia núi, nhưng khi gặp nhau thì dòng sông được tắm
máu, bến cỏ lăn lóc xác người.
Dễ chừng
suýt soát 40 năm tôi chưa được trở lại Trúc lâm, tuy cũng có lần
trở lại để mong tìm lại vết tích xa xưa, nhưng sự vật biến
thiên, mà lòng người chắc cũng đổi khác. Cái gì cao thì tất phải
xa, càng cao lại càng xa ngoài tầm mắt. Cây đa bến cũ, con đò
năm xưa ; cảm hứng văn
chương ấy có khi là hiện thực trong thi ca nhưng quá xa vời,
không có thực trong đời thường.
Trong những
năm đầu 60, khi tôi còn là chú tiểu lang bạt trong các tỉnh miền
Nam; mà nói một cách khoa đại
lên, thì ngồi ở các bến xe đò nhốn nháo nhiều hơn là ngồi trong
các lớp học thanh tĩnh tại các chùa. Vì vậy, tôi biết rất ít về
Phật giáo Huế ; mặc dù cũng có thời gian ngắn sống ở Huế thời
trẻ nít, sau những ngày mới hòa bình, khi đất nước mới chia hai
; những ngày mà bọn con
nít lên mười của chúng tôi nghe người lớn kể chuyện lội sông Bến
Hải như là chuyện thần tiên hay kiếm hiệp.
Thỉnh thoảng
tìm thấy đâu đó một vài số báo Viên âm của Hội An nam
Phật học,
biết một số vị giảng sư danh tiếng của miền Trung ;
ấn tượng về Phật giáo Huế
qua những trang sách, trang báo như thế, trong khi lưu lạc bụi
đường như thế, bây giờ cũng thật khó mà mô tả được nó như thế
nào. Trong đó, có một ấn tượng mà những chú tiểu bụi đường hình
như rất lưu ý, nếu có ý tưởng một ngày nào đó hành cước về đất
Thần kinh. Ở đó, có một vị Thầy nghiêm khắc, không chỉ với chúng
điệu trong chùa, mà với bất cứ ai, gặp bất cứ đâu, tất nhiên bất
cứ đâu trên đất Thừa thiên Huế, miễn là
“đầu tròn áo vuông”, mà đi đứng
không phải phép, phục sức không phải đạo, thì hãy coi chừng, bị
phạt ngay tại chỗ. Chuyện kể dù thực hay hư cũng là cách điệu
hóa một thời sinh hoạt Phật giáo Huế, với quy cũ Thiền môn
nghiêm khắc.
Những lúc về
Huế thăm bà con, tôi không có duyên may để phải cẩn thận cử chỉ
đi đứng của mình giữa chỗ đông người, vì những chỗ tôi đi và đến
bấy giờ là những nơi mà hầu như không hề tìm thấy dấu chân của
các bậc cao tăng đại đức. Tất cả hiểu biết của tôi từ chỗ
“dọc
đường gió bụi” về bậc tông tượng của tòng lâm là
như vậy, với tất cả sự tôn kính xa vời.
Lần đầu tiên
tôi được hầu chuyện Ôn Trúc Lâm khoảng chừng sau 1963, khi
Thượng tọa Giám viện, tức Hòa thượng Trí Thủ, khiến tôi ra Huế
tham vấn Ôn Quy Thiện một số vấn đề, những công án Thiền chẳng
hạn, trong văn học cổ Phật giáo Việt nam ;
nhân đó tôi cũng được
nhắc nhở lên Trúc lâm bái phỏng ngài Mật Hiển. Ấn tượng đầu tiên
của tôi không phải là hình ảnh vị Sư trưởng nghiêm khắc, dò xét
cử chỉ môn sinh để trách phạt ; thay
vì thế, là nỗi buồn của người cha mất con. Ôn hỏi thăm tôi về
người đệ tử trưởng. Huynh ấy được Ôn gởi cho Thầy Nhất Hạnh để
theo học tại Vạn Hạnh, cùng chung với tôi một lớp. Huynh ấy có
lẽ là người duy nhất được Ôn gởi đi tham phương hành cước, nói
theo ngôn ngữ Thiền môn thời xưa ;
như cha già gởi con trẻ
du học với tất cả thương yêu và hy vọng. Nhưng khi hay tin người
đệ tử ấy do duyên đời chướng ngại nên thoái thất sơ tâm, tình
thương yêu vẫn còn, mà kỳ vọng thì mất mát. Sự việc như thế
không phải hiếm hoi trong nhà chùa. Song ở đây, trong đôi mắt mà
trước kia tôi hằng có ấn tượng bởi cái nhìn nghiêm khắc, bất
chợt thoáng bóng tiếc thương một chiếc lá đang bị cuốn theo
chiều gió. Ấn tượng ấy bình thường mà cũng dị thường ;
tâm tư xúc cảm của người
thường không dễ gì phô diễn thành lời cho chính xác.
Một đôi khi
ở lại trên chùa vài hôm, cảnh trí Trúc lâm khi ấy không có gì
gọi là cuốn hút đối với tôi. Thật sự, cho đến bây giờ, dù cố
gắng mà vẫn chưa có xúc cảm gì đặc biệt gọi là văn chương về một
ít bài thơ đề vịnh cảnh chùa mà tôi được đọc. Âu cũng là cảm
hứng cá biệt của từng người. Thế nhưng, từ một góc nhìn nào đó, Trúc lâm có những nét quyến rủ đặc biệt. Thiên nhiên ở đây, những cây rừng, dòng suối, hình như không hài hòa hay như tranh vẽ được mô tả theo luật thơ. Tôi muốn nói đến ấn tượng về một thiên nhiên cau có. Những cành cây lớn nhỏ chỉa ngang, chỉa dọc. Khe suối tuy cũng róc rách, nhưng những bờ cây gai góc gây cảm giác châm chích. Mọi thứ ở đây thường xuyên trong tình trạng gây hấn với nhau, nhưng cùng tồn tại và trưởng thành mà không hề có vẻ khuynh loát nhau, triệt hại nhau. Đấy là một thứ thiên nhiên nghịch lý, trái nghịch giữa xung đột và che chở ; chống trái nhau mà lại y tựa nhau ; hòa trong bất hòa. Trong đó, sinh vật được che chở trong giới hạn mà nó đi lại thích hợp và tùy thuận, nhưng cũng bị trừng phạt nghiêm khắc nếu vượt qua giới hạn an toàn nào đó. Thủa xưa, đức Phật nhiều lần đề cập đến các khu rừng mà thậm chí các đạo sỹ lánh đời cũng phải cảm thấy kinh sợ. Phật nói : những ai mà tâm tư còn ô nhiểm, khu rừng ấy thật là đáng kinh sợ.
Có lẽ hình
ảnh Ôn Trúc lâm đối với tôi từ trước đã được phác họa theo
chuyện kể của các thầy các chú từ miền Trung vào Nam.
Rồi từ một điểm nhìn khác, đứng ngay giữa núi rừng Trúc lâm,
ngay giữa gai góc châm chích, sự nghiêm khắc mà người ta thường
có cảm giác lạnh lùng đáng sợ, đáng tránh, bất chợt được thấy là
nơi che chở an toàn cho những bước chân non yếu, dễ bị cám dỗ và
sa ngả trên đường đời.
Người ta kể
trước chùa có hồ nước hình chữ S. Hồ nước thì tôi còn nhớ như
in, nhưng hình chữ S thì không hiểu sao tôi quên mất, không còn
chút ấn tượng gì. Áng chừng hình thể hồ nước như vậy do chính Ôn
Trúc lâm tạo hình dáng, mà ngụ ý tất nhiên cũng khá rõ ràng.
Thay vì không nhớ được hình dáng hồ nước, tôi lại nhớ đến mấy
pho tượng nhỏ được biết do chính Ôn nắn. Tượng không đẹp, vì
không theo tiêu chuẩn nghệ thuật nào cả ;
hoàn toàn tự phát theo
cách nghĩ của người nghệ sỹ mà qua đó rất dễ nhận thấy là không
nhìn cái đẹp của đời theo con mắt thế gian. Nghệ sỹ thường mơ
ước sáng tạo, dựng lên hình ảnh thế giới của mình nhưng phải
được mọi người chiêm ngưỡng. Người đạo sỹ cũng dựng lên một thế
giới tĩnh lặng cho chính mình, nhưng không phải để cho người đời
đến thưởng ngoạn, giải trí. Danh sỹ trí thức viết lên sách :
“Để
cho thân và danh này cùng mục nát với cỏ cây”
rồi ký
tên vào đó, rồi in và phổ biến sách ấy không chỉ muốn cho đời
nay mà muốn cho cả nghìn đời sau đều biết ai đã nói câu ấy.
Sau hậu liêu
của Ôn, tôi còn nhớ có treo một cặp sáo dọc. Tôi chưa hề được
nghe Ôn thổi sáo. Vào đêm khuya, khi đứng trước sân chùa trong
bóng
âm u, tuy
không thấy rõ hồ nước và con suối, nhưng cái tĩnh mịch khiến
người ta dễ mường tượng âm hưởng của sáo len lỏi qua mấy lùm cây
man dại. Những lúc ấy tôi muốn vào lấy trộm sáo của Ôn ra dạo
vài khúc. Có những điều mà tư duy không thể vươn tới, duy chỉ
bằng âm vận được sáng tạo theo ước lệ bởi cảm thức riêng biệt
của con người. Không dễ gì tìm thấy tình cảm vừa u uất và ưu ái
của thiên nhiên trên một cánh gai nhọn ;
cũng vậy, không dễ gì
khám phá những nét đẹp bất chợt, phù du chung quanh một Lão Tăng
trong dáng vẻ nghiêm khắc, làm biểu tượng cho quy cũ, mực thước
của tăng già.
3.-
Cùng chung
một nguồn gốc, cùng một dân tộc, cùng thừa hưởng một di sản tinh
thần đạo lý, Phật giáo Việt nam dần lan rộng trên khắp ba miền
theo nhịp tiến của lịch sử, nhưng mỗi miền vẫn có sắc thái riêng
biệt. Tuy cũng hành
trì chung một giới bổn nhưng tòng lâm thanh quy mỗi miền vẫn có
những nét riêng. Khi hoàn cảnh lịch sử thuận tiện, bốn chúng đệ
tử Phật, với nhiều tông phái khác nhau, cùng hòa hiệp thành một
giáo hội duy nhất, với danh nghĩa là Giáo hội Phật giáo Việt nam
Thống nhất, mà Ôn, tức Hòa thượng Mật Hiển được suy tôn vào ngôi
vị Giám luật thuộc Viện Tăng thống. Trách nhiệm của ngài Giám
luật là duy trì giềng mối và sách tấn việc hành trì giới luật
của toàn thể Tăng già Việt nam, không phân biệt hệ phái. Trong
cương vị đó, nhân cách của ngài Giám luật không chỉ đơn giản
biểu lộ đức tu trì của cá nhân ngài, mà phản ảnh cụ thể tinh
thần sinh hoạt của toàn thể Tăng già Việt nam, trong một thời
điểm nhất định. Sự hiện diện của ngài có khi hữu hành, có khi vô
hành, như cổ thụ trong rừng già ;
có khi đứng mà chịu giông bão để che chở những cây con ;
cũng có khi chỉ đứng trơ
vơ đó. Nhưng sự hiện diện ấy, dù trong tình trạng hay hoàn cảnh
nào, chính do sự hiện diện ấy mà khu rừng được kính trọng gọi là
rừng già.
Đó là nói
chung về uy đức của ngài Giám luật đối với toàn thể tăng trong
toàn quốc. Riêng trong một địa phương cá biệt, như Thừa
thiên-Huế là nơi sinh trưởng và hành đạo của ngài, sự hiện diện
gần gũi ấy đã ảnh hướng nhất định đến sinh hoạt Thiền môn một
thời. Không chỉ dừng lại ở một thời, mà ngay cả khi thời thế
thay đổi, nhân tâm ly tán, Tăng-già có nguy cơ tan rã dưới sức
ép đa dạng của xã hội, hình ảnh của ngài trong quá khứ vẫn hiện
diện vô hành đủ uy đức để duy trì giềng mối Tăng luân, mặc dù có
thể hầu hết tăng ni thế hệ hiện tại ở Huế khó có thể mường tượng
được phong thái vừa nghiêm khắc vừa từ ái của ngài Giám luật
trong quá khứ như thế nào. Thế hệ trưởng thành của chúng tôi
trong hiện tại, dù trực tiếp hay gián tiếp tiếp nhận được sự
giáo huấn giới luật của ngài, vẫn cảm nhận một cách cụ thể ấn
tượng được che chở bởi thành trì giới luật mà chính ngài Giám
luật là vị tướng quân đứng trấn giữ suốt trong những thời kỳ
nhiễu nhương của đất nước và của đạo pháp. Tất cả chúng tôi, bất
kể hiện đang đứng ở đâu trong hàng ngũ tăng già, đều có chung ấn
tượng như vậy.
Phật
dạy, tâm vô thường, pháp vô ngã. Mọi hình ảnh dù là của đấng Chí
tôn cao cả, cho đến một lúc nào đó cùng phai nhạt trong lòng thế
gian. Hình ảnh của Ôn có lẽ cũng phải mờ dần theo sự đi xuống
của nhiều thế hệ tiếp nối, tùy theo dòng xoáy thăng trầm của đạo
đức xã hội. Hình ảnh của Ôn, hình ảnh của ngài Giám luật của
Giáo hội, của vị Tăng trưởng duy trì giềng mối Tăng luân, không
thuần cố định bởi tầm vóc của một cá nhân, mà đó là biểu tượng
của Tăng già giữa lòng thế tục, được hóa thân theo từng thời đại
khác nhau, để duy trì mạng mạch của Chánh pháp tồn tại và thích
ứng theo từng biến động của xã hội. Trong tôi, hình ảnh của ngài
bất diệt, là ngọn giới đăng hóa thân nhiều kiếp, có thay đổi
hình hài, nhưng giới thân và pháp thân vẫn không sinh không diệt.
Ngọn giới đăng ấy vẫn tiếp tục soi đường cho thế hệ chúng tôi,
những người đệ tử, hay những môn sinh trực tiếp hay gián tiếp
của ngài, soi đường để chúng tôi vững chân và tự tin trên bước
đường hành đạo đầy chông gai hiểm trở và gian trá này.

(xem tiếp)
Please press HOME
to go back to the main web page
HOME