Cố Hòa Thượng
thượng MẬT hạ HIỂN
Bậc Thầy
của
OAI NGHI và GIỚI LUẬT.
Hòa thượng THÍCH
HUYỀN TÔN (*)
òa Thượng Thích Tín-Nghĩa, ở Mỹ, gốc Huế, đệ tử của Ôn Mật-Hiển,
muốn in kỷ yếu để
làm quà Tết Việt-Nam-Quốc-Lịch 4886, năm từ
lập quốc. Dâng lên bậc thầy khả kính của mình, biết tôi tuổi Đạo
đã hơn 60! Tuổi đời
còn mấy ngày nữa là bát thập, và ngày xưa cũng có thời ở Huế
chẳng lẽ không hiểu gì về bậc Hòa-thượng mà oai nghi giới luật
vô cùng lừng lẫy nầy hay sao? Do
vậy, nên được mời góp một chút gì nghe thấy để dâng cúng Ngài!
Biết đâu Giác Linh Ngài chẳng hoài cố lại những lúc ngồi lật
từng trang Luật dày cộm bắt cụ nhỏ xứ Núi Ấn Sông Trà trả lời
tháo mồ hột hay sao!
Nhớ về cố
Hòa thượng Mật-Hiển mà không tư tưởng đến các Hòa thượng lỗi lạc
cùng thời, thì kể ra cũng là một điều thiếu sót không nhỏ vì
Tăng tài xuất chúng ở đây phải kể là :
Chùa
thiêng khắp đất thần kinh,
Chư tôn tăng trưởng
thông minh tuyệt vời,
Đạo cao đức trọng sáng ngời,
Hoa đàm hương cảnh gió phơi trăng ngàn.
*.-
Nhớ về Cố
Hòa Thượng Thích Mật Hiển :
Năm Mậu-Thân
1968, vì duyên sự rất gấp, tôi về Trung mong nhờ các
Bậc cao đức
: Hòa thượng Mật
Nguyện, Hòa thượng Mật Hiển, Hòa thượng Thiện Siêu, Hòa thượng
Diệu Hoằng, thỉnh họp tại chùa Diệu-Đế…
Nhưng vì chuyện ấy đều ngoài tầm tay ..!
Các ngài chỉ đành an ủi tôi ..!..
Không thể về vội, một ngày không gian mát dịu, tôi
đi lang thang từ cầu Trường-Tiền ngược dòng lên Báo-Quốc
thì gặp hai vị Ni Cô, khoảng cách chừng 40 mét, hai cô đã đứng
lại chấp tay yên lặng rất trang nghiêm !
Tôi hiểu, đây là :
“Oai Nghi
Giới Luật” của
Phật Giáo đất Thần Kinh xứ Huế.
Khi đến gần,
hai cô cúi đầu niệm :
“Nam Mô A Di Đà Phật”.
Tôi cũng thế,
chấp tay niệm :
A Di Đà Phật.
Tôi hỏi :
-. Còn xa quá mà sao
hai cô phải đứng yên lâu vậy ?
Một trong
hai cô đáp, mà trong đôi mắt đen nhánh của các cô như ẩn chứa
một cái gì láu lỉnh tinh nghịch :
-.
“Dạ, Bát kỉnh pháp đó thầy !”.
Tôi thấy ngồ
ngộ nên cũng đùa nhẹ :
-.
Bạt kịnh xự Hụê , cọ
khạc .
-. Dạ !
Bạch thầy :
Chị em con tuân thủ không
nghiêm nhặt sẽ bị ôn Giám-Luật trừng trị đó thầy ạ !.
Hai sư cô ấy
bây giờ ở Mỹ, có lẽ đã lên Ni-Sư, sư bà rồi thì phải !
Từ giả hai
sư cô, vừa đi tôi vừa suy nghĩ :
“Ôn
Giám Luật là Hòa thượng Mật-Hiển, Hòa thượng trừng trị thế nào
đối với Tăng, Ni trong lãnh vực thuộc quyền của Hòa thượng, điều
đó tôi không lạm bàn, chỉ nói về oai đức lãnh đạo Tăng, Ni trong
trách nhiệm Tăng-Sự của Hòa thượng, không chỉ riêng cho Ni chúng
mà cả chư Tăng hàng
“Cụ thọ” đều phải như vậy.”.
Lần sau, hầu
chuyện với Hòa thượng Giám-Luật, tôi đem cái
‘vừa
đi vừa suy nghĩ’ nói trên tôi trình bày mới thấy
đáng phục về trí tuệ và viễn kiến của Ngài !
…Tôi thưa :
-. Bạch Hòa-thượng,
cái “tinh nghịch láu
lỉnh” mà tôi để ý trong đôi mắt của các cô ấy phải chăng là cái
tùy thời, tùy khúc ?
Dù đó là Bát Kỉnh, nhưng chắc gì một mai ở đây còn, ở kia phai
nhạt thì cũng khó nói !
Nói cách khác, ở đây tuân hành vì lớn nhỏ đều tuân hành !
Ở nơi khác ít người tuân hành thì con chỉ để thờ đó mà
thôi ! Phải vậy
không, bạch Hòa thượng?
Nhìn trong
xa xăm, Hòa thượng Giám-Luật nói:
“Tôi
rất quí thầy, cái nhận xét của thầy, cũng là cái ưu lo của
tôi, nhưng những gì phục vụ của Mật-Hiển đối với đạo pháp,
đâu chỉ có một Mật-Hiển !
Thầy nghĩ xem ?
Thì ra, ý của Hòa thượng muốn nói là ở đâu có giới luật
là ở đó tất có “Một Mật Hiển”
mà không phải Mật-Hiển nầy.”
Tóm lại, Đạo
hạnh và tấm gương “Oai nghi giới luật”
của Cố Hòa
thượng Mật-Hiển, là một mạng lưới Vô-Tướng bao trùm vùng đất Cố
đô, những ai có đạo hạnh từ trong ra đến Lăng-Cô, ngoài vô đến
hết Quảng-Trị thì, đều cảm nhận được cái sóng
“Võng quang”
nầy.
Tới đây, tôi xin kính cung tiến lên Giác Linh Hòa Thượng
câu đối :
*.
密 相 莊 嚴,
戒 德 巍 巍,
神 京 壹 色,
禪 風 遍 處,
萬 人 皈
*.
顯 身
清 淨,
行 修 敬 敬,
帝 域 千 花,
灑 水 薰
香,
齊 祖 仰
*.Mật Tướng Trang Nghiêm, Giới Đức Nguy Nguy, Thần Kinh Nhứt Sắc,
Thiền Phong Biến Xứ, Vạn Nhơn Quy,
*.Hiển Thân Thanh Tịnh, Hành Tu Kỉnh Kỉnh, Đế Vức Thiên Hoa, Sái Thủy
Huân Hương, Tề Tổ Ngưỡng.
Tạm dịch ý :
((không đối chỉnh)
*.-
Mật ngài Tướng cách
trang nghiêm, Giới đức vọi cao, chốn thần kinh một sắc, gió
thiền bay khắp cõi, muôn người tựa,
*.-Hiển bày Thân cốt
sạch trong, Hạnh tu kính ngợi, cõi vua hoa ngàn nụ, nước thơm
rưới lan xa, đều mến tổ.
Truy Tưởng
về Các Hòa-Thượng mà tôi từng thân cận :
Năm Nhân-thìn (1952), tôi rời vùng Nam
Ngãi Bình Phú ra Tam-Kỳ, Quân đội Quốc Gia trú đóng ở Cao-lâu họ
hộ tống đưa tôi ra Hội Phật giáo Đà-Nẵng… Liên tục nhiều cuộc
diễn thuyết
“chuyện lạ đàng trong” thuở ấy … Rồi sau đó,
trong những năm Giáp ngọ (1954), Ất dậu (1957),
tôi vâng mệnh Hòa thượng Trí-Quang Hội Trưởng Hội
Phật-Học và Hòa thượng Mật-Nguyện Trị sự Trưởng Tăng già, qua
Tường-Vân phụng lãnh Giáo chỉ của Đại lão Hòa thượng Pháp-Chủ về
lại quê nhà, thành lập hai cơ chế Phật giáo và chấp hành điều
động Giáo Hội Tăng Già và Hội Phật Học tỉnh Quảng-Ngãi, tôi phải
thường xuyên ra vào với cấp Trung Ương, nhận chỉ thị với chư Tôn
đức lãnh đạo Giáo Hội và Hội Phật Học tại Thừa-Thiên. Thì giờ dư
rộng trong những cơ hội ấy cũng là nhơn duyên thuận tiện cho tôi
tham phỏng và tiếp nhận ý nghĩa mầu nhiệm của kinh điển từ sự
chỉ giáo mà nhiều nhất là Hòa thượng Đôn-Hậu và Hòa thượng Tăng
cang Quy-Thiện. Riêng về Luật-học cũng được Hòa thượng Mật-Hiển
ôn cố. Hòa thượng Trí- Nghiễm thì luận giải tâm yếu luận Đại
thừa Khởi tín. Phương diện lãnh đạo, tổ chức Tôi cũng được Hòa
thượng Mật-Nguyện hướng dẫn và Tôi cũng đã từng trãi qua năm lần
hợp giảng thuyết với Hòa thượng Đôn-Hậu, Hòa thượng Trí-Nghiễm
(Thiện-Minh) trong
một số các Khuôn hội miền Trung. Nhờ đó, tôi được học hỏi noi
theo gương đức hạnh của các bậc Cao Tăng tiền bối đàn anh nầy
khá nhiều ở giai đoạn hậu cải tổ Sơn môn và phát huy sự nghiệp
Hoằng-pháp trong thời
Ngô-Đình.
*.-&
Hòa thượng Thích Đôn
Hậu và Hòa thượng Thích Thiện Minh :
Năm Ất mùi (1955) : Cũng
là lúc súng kỳ thị đen đúa của giòng dõi thực dân bắt đầu chỉa
thẳng vào trước mũi người Giảng sư Phật giáo, trong những thời
giảng đông đảo nhất tại các vùng quê !
Một khuôn hội điển hình :
Đây là cơ sở Phật giáo huyện Bình-Sơn, Giảng sư do Tổng
hội đưa đi : Cố Hòa
thượng Đôn-Hậu, cố Hòa thượng Thiện-Minh và Tôi, Huyền Tôn.
Hòa thượng Thiện-Minh bị cảm, bảo tôi :
-. Thầy Huyền Tôn cẩn
thận nghe ! Cố gắng
giúp thầy Đôn-Hậu.
Tôi thưa :
-. Dạ, bạch Thượng tọa,
chắc không sao đâu, Thượng tọa đi uống thuốc và nên nghỉ ngơi !.
Cách tổ chức của Phật giáo huyện là họ đóng trụ, giăng giây chia
đôi thính chúng ra hai bên, có đường đi ở giữa khoảng cách hơn
một mét.
Điều mà chế độ gia tô thực thi lúc bấy giờ . . . làm cho lòng
dân ngột ngạt và bất an là một mặt giúp cho các Cơ sở Phật giáo
diễn thuyết công cọng, rồi mặt khác cho cán bộ làm người nghe
giảng, để có cơ hội vấn nạn những vấn đề cũ rích thiếu kiến thức
nhằm hạ nhục người Giảng sư ?
Có khi tổ chức chung với một vị Linh mục áo đen cổ trắng
vừa rao đạo vừa chỉ trích và cố quật ngã với một duyên cớ, mà ai
ai cũng biết rất là cùn mằn ! - Hoặc cho một anh lính mũ đen, áo
đen, quần đen, đặt một cây súng trường trên một bàn nhỏ, để lên
tấm ván kèm báng súng, bình thản canh họng súng ngay vô bàn Phật,
hay ngay trước mặt của vị Giảng sư !
Thực ra, chẳng khủng bố được ai ?
Có ai hỏi thì được trả lời :
-. ể bảo vệ ?
-. “À thì ra là bảo vệ.
Bảo vệ cái kiểu
“Hồng quân thập tự”
bảo vệ đức tin, đức tin đến đâu thì người thiếu đức tin thây
phơi khắp chốn xóm làng.”
Tôi ngồi bên cạnh tay trái của Hòa thượng Đôn-Hậu !
Tôi quan sát, anh lính sửa tới, sửa lui, xê qua, xê lại
rồi nhắm, . . . Điệu
bộ của anh như một người cắm và se sua một bình hoa, một cây
cảnh ! Chứ không
phải là một người sắp ra tay hành động một thủ đoạn ác ý !
Qua phần giới thiệu, đến phần hoan hô sự anh minh của Thủ
tướng Ngô Đình Diệm, . . . Đến diễn văn của đạo hữu Khuôn trưởng.
. . .
Hòa thượng Chủ giảng nói nhỏ :
-.Thầy Huyền-Tôn, cây
súng cách độ bao xa vậy ?
Tôi đáp :
-. Dạ, “Cở hơn 30
thước” !
Hòa thượng hỏi :
-. Sợ không ?
-. Dạ, hổng có đạn ạ !
Chỉ lắp toàn bông hoa thôi ạ !
Hòa thượng, không nói gì thêm, ngài lặng lẽ chỉ những vết đứt
sâu trên đôi cổ tay của ngài mà bọn Pháp trong thời tái chiếm
chúng đã trói ngài và thầy Trí-Thuyên, . . . và hành hạ rồi giết
thầy Trí-Thuyên. Thầy cũng là bậc xuất chúng, Thầy chết vì thực
dân tây dương ! Thầy
là pháp lữ của Hòa thượng Trí-Quang.
. . . Tôi
nhìn vào lòng súng của anh chàng lính Quốc gia, một anh lính dễ
thương, mà lòng nghe văng vẳng bài thơ của ai đó :
“Nhà sư không muốn gây ra chuyện !
Vì bởi quân xâm tuốt lưỡi dao.
. . .”.
Tôi buộc miệng ngâm nho nhỏ :
Miền Trung Nhiều Gió
Nhiều Mưa,
Khắp nơi kỳ thị dạ thưa, cũng nhiều !
Buổi giảng thật vui, anh lính cũng cười với mọi người, khi nghe
một câu hỏi cắt cớ :
-. Thưa thầy, người
vót cây tăm nhang để bột nhang dính vào, họ làm từ hồi nào vậy
thầy ?
Hòa thượng Đôn-Hậu bịt miệng ngó tôi mà cười !
Thính chúng đều cười !
Còn tôi, thì ngẫn tò te !
“Bố ơi !
Con chưa nghiên cứu điều nầy !”
Như để vừa lòng anh bạn vừa hỏi. Hòa thượng Giảng sư hỏi anh :
-. Anh vui lòng tìm
cái anh làm bột nhang hỏi giùm anh ta tạo “bột nhang” để làm
nhang thời nào nhé !
Được không ?
Quần chúng cười ầm và vỗ tay !
Anh ấy cũng cười !
Và anh hiểu anh vót cây tăm nhang, cũng là cái anh làm
bột nhang.
*.- Hòa thượng Pháp chủ Ôn Tịnh-Khiết, HT. Đôn-Hậu, HT. Trí-Quang, HT.
Thiện-Minh, HT. Mật-Nguyện, HT. Mật-Hiển, v. v. . .
Là những vị Đại sư kiệt xuất trong cõi đất Thần kinh của
những thập niên 40, 50 và 60. Kiệt xuất ở đây là ý muốn nói trỗi
bậc trong vai trò lãnh đạo !
Hòa thượng Thiện-Siêu, HT. Thiện-Minh, HT. Mật-Nguyện, HT.
Mật-Hiển . . . đã về với Phật !
Hòa thượng Trí-Quang vẫn còn khang kiện đang dịch kinh và
tịch tịnh trong cảnh thiền môn ở Việt-Nam. Hòa thượng Tâm-Châu
Viện Trưởng 64 thì ở hải ngoại.
Riêng Hòa thượng Thích Trí Quang cũng lắm oái oăm có hai ba hệ
tư tưởng đua nhau tranh cãi, bảo vệ, chống đối, thù nghịch !
Đúng hay sai vẫn chưa thấy ngã ngũ ! ?
Nói chưa ngã ngũ, là nói chưa ai chịu chứng minh để quả quyết
cái tư tưởng dị biệt hoặc dân tộc, hoặc ngoại lai của mình mà
không bị ruồng bỏ của dư luận.
-. Lấy cái gì để làm
thế đứng trung đạo để mà phân biệt ai là phải, ai trái ?
Lập một cái thế
“giữa”
của điểm giữa và nó là cái
“Giữa”
của Bốn bên đều phải công nhận là vòng
“trung tâm”.
Đứng ở đó để mà phân biệt. Nhưng cái vòng nầy cũng không
phải là tôn giáo !
Không phải y vào sự hiểu biết lệch lạc !
Cũng không phải câu chuyện chứng cớ !
Lại càng không phải nơi phe ta, phe địch !
Vậy cái vòng tròn
“Công lý”
đó ở tại đâu ? ? ?
Theo quan điểm đích thực Việt Nam phải đứng vào phong hóa Việt Nam để
mà nhận xét vị Hòa thượng nầy đúng hay sai !
Vì sao ? ? ?
Nếu đứng về mặt tôn giáo nầy mà bình luận chỉ trích thì bị bị
tôn giáo khác công kích, vì Hòa thượng Trí-Quang là tu sĩ Phật
giáo, nên ta không thể đứng bên Phật giáo mà bình luận được, tất
tôn giáo khác bát bỏ ;
mà chưa chắc một số nào đó cùng Phật giáo đồng thuận !
Còn lấy lý của Thiên chúa thì các tôn giáo khác kể cả
Phật giáo và luôn cả nhân dân Việt Nam
không bao giờ chấp nhận. Lịch sử còn đó. Ai là người dân Việt
không mất gốc, không bán cha mẹ cho ác quỷ, không dâng đất Tổ
tiên cho dị chủng !
Mạnh dạng đứng giữa non sông làm người Việt-Nam, không chịu hạ
mình làm con thú be be. Thì người Việt-Nam đó có đủ quyền và tư
cách để nói việc của Việt-Nam, của
Phật-Giáo Việt-Nam.
Hòa thượng (Tín-Nghĩa)
Chủ trương Kỷ yếu ơi !
Lòng tôi kính ngưỡng tới tất cả, nên tôi ôm hết mớ tư
tưởng kính nhớ ấy, chắc ngài cũng không lấy làm lạ chứ ?
Tôi xin phép dừng bút ở đây và xin niệm :
Nam Mô Kính Lễ Chư Tôn Tăng Già
Gia !
____________________________________________
Ghi chú :
(*)
Đại
lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn hiện là
:
-.
Thành viên Sáng lập Phật
giáo Việt Nam và Giáo hội Phật Giáo Việt Nam tại Úc châu,
-.
Trưởng lão Chứng minh Đạo sư Giáo hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất Hải Ngoại

(xem tiếp)
Please press HOME
to go back to the main web page
HOME