
1.- Thánh Phàm Vọng Cung Chiêm

ây đại tùng vươn cao ngàn trượng,
đẹp hơn pho tượng đồng thếp vàng, vững vàng, hùng tráng hơn núi thái, rộng sâu
hơn biển cả, thênh thang như mây trời.
Đó là hình ảnh đại lão Hòa Thượng Trúc Lâm, hiệu Thích Mật Hiển, đời thứ
43, thuộc dòng thiền Lâm Tế, pháp phái Liểu Quán, miền Trung, tỉnh Thừa Thiên -
Huế. Chúng tôi, Tăng sinh khóa học Liểu Quán bốn năm tại chùa Linh Quang và chư
tăng ni trẻ Huế, thường gọi cố đại lão Hòa thượng Thích Mật Hiển là Ôn Trúc Lâm.
Ôn vừa là Phương trượng, vừa là Viện trưởng Tổ đình Trúc Lâm trong tỉnh
nhà. Các Ôn lớn ở Huế hay gọi Ôn
Trúc Lâm là thầy Tăng sự, vì Ôn có đầy đủ uy đức, có cặp mắt sáng, có trái tim
thương hiểu, nhiệt tình hộ trì Tăng bảo.
Chư Tăng ni lớn nhỏ, tu lâu, mới tu ở bất cứ tu viện nào chùa nào ở Huế,
khi nghe đến Ôn Trúc Lâm đều kính sợ, kiêng nể và phục tùng.
Nhờ vậy mà chư sơn môn, Tăng ni cùng các tăng thân tại Thừa Thiên - Huế
có nếp sống rất thanh tịnh và hòa hợp.
Ngoài các bậc giáo thọ trí
đức thâm viễn lỗi lạc như : Ôn Đôn
Hậu, Ôn Trí Thủ, Ôn Mật Nguyện, Ôn Thiện Siêu, Ôn Trí Quang, Ôn Thiện Minh, Ôn
Đức Tâm, Ôn Thiện Hạnh…, trong khóa học Liểu Quán của chúng tôi, còn có Ôn Trúc
Lâm kiểm chứng về giới luật, hạnh kiểm, ý chí, niềm tin về giáo hội, giáo pháp,
lý tưởng giải thoát và ý thức phục vụ theo lý tưởng Bồ tát hạnh. Ôn Trúc Lâm
chuyên dạy về giới luật, oai nghi, nền tảng của Thiền định và phát huy tuệ giác.
“Ôn Trúc
Lâm, hiệu Thích Mật Hiển,
Bậc thanh
tu Tăng sự Thừa Thiên,
Cầm tích
trượng chấn khai tâm địa,
Thánh, phàm,
u, hiển vọng cung chiêm.”
(Sơn
Cư)
Ôn Đức Tâm kể :
“Có một lần các thầy lớn trong Tổng Hội Phật
giáo Thừa Thiên Huế họp bàn Phật sự tối ư khẩn trọng tại chùa Từ Đàm, có liên
quan đến việc tay chân ông Cẩn và chính quyền ông Ngô Đình Diệm ra tay đàn áp,
thủ tiêu nhiều cư sĩ cán bộ Phật giáo miền Trung và khắp cả nước. Buổi họp cần
sự chứng minh của hai đại lão Hòa thượng Thích Giác Nhiên và Thích Giác Nguyên,
tọa chủ chùa Thuyền Tôn và chùa Tây Thiên. Song hôm đó hai ngài vắng mặt, lấy lý
do là không khỏe. Các thầy đại diện trong tổng hội vào mời đến hai lần, nhưng
hai Ôn cũng không chịu đi. Cuối cùng
Ôn Trúc Lâm liền lấy danh nghĩa Tăng sai, cầm tích trượng vào thỉnh vấn hai Ngài.
Khi hay Ôn Trúc Lâm đến, hai Ôn Thuyền Tôn và Tây Thiên lật đật bỏ dỡ bàn cờ,
vội vàng mặc áo tràng đi ra chùa Từ Đàm dự hội, không giám chậm trễ …”
2.-
Trực Tâm thị Đạo Tràng :
Trong kinh Duy Ma Cật có đề
cập tới ba trạng thái đặc thù của tâm bậc đại thánh, đó là trực tâm, thâm tâm và
Bồ đề tâm. Bản chất sinh hoạt hằng
ngày của Ôn Trúc Lâm, hiện lên đầy đủ công năng của ba tâm ấy rất đích thực, rõ
ràng. Chư
tổ cũng thường dạy :
“trực tâm thị đạo tràng”.
Trực tâm là cái tâm chơn
chất, ngay thẳng, thực tiễn, nghĩ sao nói vậy và nói sao làm vậy ;
không cần tìm chữ nghĩa uốn nắn ngôn ngữ, lừa lọc, dua nịnh và lòn cúi.
Ông Ngô Đình Cẩn, đầy bản chất quan liêu, cậy quyền thế và thường nương
quyền lực gia đình trị để bắt bớ, giam cầm, hạch tội, hà khắc những ai bị vu
khống, bị chụp mũ thuộc phe đối nghịch hoặc không phục tùng chính sách
“Cai trị”
của ông, nên dân chúng ở Huế thường gọi ông Cẩn là Lãnh chúa miền Trung. Thế
nhưng “cụ cố” chúa trùm nầy cũng nể nang Ôn
Trúc Lâm đến tám, chín phần. Có lần
“cụ cố” cùng tay chân, bộ hạ du lãm ngang qua
bờ hồ phía trước chùa Trúc Lâm, ông thấy sen nở mơn mởn gợi cảm, cá lượn đớp bèo
chao động đẹp mắt, cảnh trí hữu tình, thơ mộng diễn ra trong tâm kẻ lãng tử,
“cụ
cố” ra hiệu người hầu cho dừng xa giá rồi bảo bề tôi móc mồi vào
lưỡi câu để được ngồi trên bờ hồ hóng mát và tiện tay bắt cá chùa nuôi làm tiêu
khiển. Trong ẩn sâu đáy lòng kiêu ngạo, tự tôn, tự thị của
“cụ cố”
là muốn “khích”
và “khiêu
chiến” Ôn Trúc Lâm cho thỏa dạ tang bồng. Nhưng ngồi trên bờ hồ của
chùa chưa ấm đít thì
“cụ cố” và đoàn bộ hạ tùy tùng phải vội vàng
rút lui trong kinh sợ vì họ
“được” nghe một thứ hải triều âm sang sảng
như chuông đồng, như sư tử hống từ trong chùa vọng ra :
“Đứa nào câu
cá trong hồ này mà không xin phép đó, tao cho chúng điệu xuống bẻ cần câu, đạp
óc xuống hồ. Tụi bây ở mô mà tới đây phá rối. Con cái nhà ai mà thiếu giáo dục,
thiếu tư cách ; bộ bây tưởng đây là
chùa hoang, vô chủ ha…ha...ha...”
Ôn Trúc Lâm đâu phải không
biết ai câu cá nhưng giả vờ
“dương cung thị oai” thì điểu kinh tứ tán.
Cũng từ sự kiện sống thực nầy và mang thêm ít nhiều tính huyền thọai về
“cụ cố”
với “Thần tăng”
Trúc Lâm, nên lũ mục đồng ở miền trung có bài đồng dao rằng :
“Chúa trùm
cậu Cẩn miền Trung,
Nghe Thần
tăng hét vội dong một lèo,
Tùy tùng hộ
vệ chạy theo,
Hồn phiêu
phách tán khó trèo thang cao.
Trúc Lâm ai
bước chân vào,
Mọp đầu quỳ
gối bờ ao trăng cài.
Khởi tâm
ngạo mạn lý tài,
Một hèo gậy
trúc nhớ đời khó quên.”
(Sơn Cư)
Một lần nọ, trong đại hội kỳ
năm của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có nhiều sóng gió và gần như bị
bế tắc vì sau năm ngày hội nghị mà ngôi vị Viện trưởng và Hội Đồng Điều Hành của
giáo hội chưa được bầu xong bởi sự tranh chấp nhân sự và bất đồng ý kiến của các
đại biểu nhiều miền. Tôi còn nhớ đại
biểu các phái đoàn đề cử ba vị ra ứng cử chức vụ Viện trưởng Viện Hóa Đạo, đó là
Ôn Trí Thủ, Ôn Thiện Hòa và Ôn Huyền Quang. Các phái đoàn đại biểu miền Trung ai
nấy đều trông chờ sự hứa khả và đồng loạt dự tưởng sẽ bầu Ôn Huyền Quang làm
Viện trưởng, hầu có tầm vóc để đối diện với thời sự đang trong cảnh dầu sôi lửa
bỏng của đất nước, song Ôn Huyền Quang thối thác ngay từ phút đầu đề cử khiến
cho đa số các đại biểu thuộc các tỉnh miền Trung hết sức thất vọng.
Nhiều thầy và đại biểu nghĩ là Ôn Trúc Lâm có thể khuyên và làm “áp lực”
với Ôn Huyền Quang được nên “xúi” Ôn Trúc Lâm phát biểu.
Ôn Trúc Lâm sẵn tính trực tâm, đứng lên chỉ và “điểm huyệt” Ôn Huyền
Quang :
“Thầy
được đa số đại biểu đề cử và ứng cử ra lãnh trách nhiệm làm Viện trưởng Viện Hóa
Đạo kỳ nầy nhưng thầy cứ thối thác hoài, khiến đại hội phải ngột ngạt và bế tắc.
Như vậy thầy là người gián tiếp làm cho đại hội bất thành và trực tiếp
phá hòa hợp tăng. Thầy đã phạm giới,
thầy đắc tội với tổ chức và tánh thể thanh tịnh của Tăng già…”
Sau lời
“phán” quá ư
“nặng ký” của Ôn Trúc Lâm, Ôn
Huyền Quang đứng dậy cởi áo tràng đà xếp lại bỏ xuống ghế ngồi và dõng dạc tuyên
bố :
-. “Ôn bảo là con phạm giới phá hòa
hợp tăng, nên con quyết xả giới, làm đệ tử tục gia của Phật.
Con đi tu vì lý tưởng và sự chọn lựa của mình, không ai có thể cưỡng
bách. Con không tu nữa…”
Sau hành động và lời lẽ
khẳng khái của Ôn Huyền Quang, Ôn Trúc Lâm liền đứng dậy lạy Ôn Huyền Quang một
lạy rồi quỳ và nói :
“Tôi vì
Đại hội, vì Phật sự chung của Giáo hội nên nóng lòng mà nói vậy, xin thầy cho
tôi được sám hối lời nói thất niệm của tôi…”
Bằng vào bản tính trực tâm,
thâm tâm và đầy trí tuệ của Ôn Trúc Lâm, khiến Ôn Huyền Quang cảm kích đến rơi
lệ và quỳ dưới chân Ôn Trúc Lâm mà phát lời sám hối.
Hành động bất thần và nhanh như chớp của hai bậc thầy lớn trong Giáo hội,
làm lay động con tim của hơn năm trăm đại biểu chính thức trong đại hội. Trong
phút chốc sự ngột ngạt, bế tắc của đại hội được giải tỏa, dẫn tới một bình minh
đầy phép lạ làm rung chuyển hàng chục triệu lòng người con Phật trên quê mẹ Việt
Nam yêu dấu.
“Cây đại
tùng gốc ăn sâu hoắm,
Với hằng
bao nụ thắm vươn vai,
Tâm chánh
trực xâu xuyên lục địa,
Đức khiêm
nhường trời cũng phải kiêng.
Ôn còn đó
linh quang còn đó,
Thể ẩn tàng
lưu hiện muôn nơi,
Rừng Trúc
Lâm trăng chưa hề lặn,
Đêm về
khuya càng sáng lối mòn…”
(Sơn Cư)
3- Với Hạnh Phúc của Chư Tăng :
Hạnh phúc của giới xuất gia,
một trong những điểm tựa lớn nhất của họ là đạo hạnh, trí tuệ và thân giáo của
các bậc thầy đi trước. Ôn Trúc Lâm
không chỉ là Tăng sự của sơn môn Huế mà sự có mặt vào lúc sinh thời của Ôn đã
ảnh hưởng sâu đậm làm tươi nhuận mạng mạch của chư Tăng Ni khắp nhiều miền của
đất nước. Ôn được đức Đệ nhất Tăng
thống, chư trưởng lão tôn đức trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra
đời năm 1964, tấn phong vai trò chủ đạo Viện Giáo Luật của Giáo hội.
Chỉ việc ấy thôi, chúng ta có thể biết và cảm nhận được uy đức cao sâu
vòi vọi của Ôn Trúc Lâm.
Sau biến sử đất nước 1975 và
nhất là sau khi Ôn Trúc Lâm viên tịch, chư Tăng ở Huế gặp những biến động trầm
trọng. Một số lớn chư Tăng trong
tỉnh nhà bị ảnh hưởng hoàn cảnh thời sự nên thiếu sự hòa hợp và nhất trí trong
đường lối tu học và phục vụ. Truyền
thống lễ Bố tát, tụng giới chung của chư Tăng bị gián đoạn. Quan điểm, ý thức và
hạnh nguyện dấn thân vào các lãnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục và dẫn đạo quần
chúng không được nhất trí. Những kẻ
bàng quan vẻ ra một hình dung, tô điểm thêm một số viễn ảnh bi quan là cộng đồng
Tăng Ni tại Huế đã mất đi cái đầu tàu, mất đi sinh phong và vẻ đẹp hùng tráng
của những thời Phật giáo vàng son hưng thịnh ở cố đô Huế.
Đó là một sự thật, nhưng cũng chỉ là những cơn sóng nhỏ nhất thời của giả
tướng bề ngoài. Khi Thiền sư Nhất
Hạnh và giáo đoàn của Ngài từ miền nam Pháp Quốc trở lại thăm cố hương sau hơn
40 năm xa cách, uy tín của Thiền sư và năng lượng giáo đoàn của Ngài đã thổi làn
sinh khí mới trong cái nhìn của chư Tăng Ni ở cố đô Huế.
Bằng chứng cụ thể là sau những ngày tu tập thiền quán của chư Tăng Ni và
phật tử tỉnh nhà dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Nhất Hạnh, Ông đã khai mở được
trái tim thương và hiểu của các bậc thầy lớn ở đây nên truyền thống lễ bố tát,
tụng giới chung của chư Tăng tại trụ sở chùa Linh Quang được tái lập.
Qua sự kiện nầy, một vài bậc thức giả ở trong cũng như ngoài nước bình
phẩm rằng : “Sư Ông Nhất Hạnh cùng
học trò xuất gia của Ngài, tựa như những chiếc phao nổi trên biển cả, giúp một
số thuyền khách vượt thoát tử thần khi thuyền của họ bị đắm bởi những ngọn cuồng
phong và dòng nước xoáy của thời đại.”
Tuy vậy, nhìn cho sâu ta
thấy những thuyền khách kia được thoát nạn là vì họ có tài bơi lội bởi sự truyền
thừa và thuật lặn nước của các bậc cổ đức.
Đạo lực, thân giáo và pháp âm của các bậc cao tăng trong các thế hệ đi
trước đã ảnh hưởng rất lớn, rất sâu đậm đối với các lớp xuất gia tiếp nối ở cố
đô Huế. Trong đó có huệ mạng, tôn
phong và uy đức “Úy ái Kim Bảo” của Ôn
Trúc Lâm, bậc long tượng giáo luật và giới luật của hầu hết chư Tăng Ni khắp mọi
miền.
Các đại lão Hòa thượng cao
đức ở Huế và hình ảnh của Ôn Trúc Lâm dù đã viên tịch, song ân điển, tuệ giác
của các Ngài vẫn còn ẩn hiện trong các giáo hội, trong sinh hoạt các chùa, viện
và trong trái tim, hơi thở của hằng bao Tăng ni Phật tử thừa tiếp đạo nghiệp tại
cố đô Huế và toàn cả nước.
Những hạt giống trong ba kho
báu “Nhiếp luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới và
nhiêu ích hữu tình giới” đang lớn dậy trong tâm tư và nếp sống của
hằng bao thế hệ Tăng Ni. Những hạt
giống trân quý ấy đã và đang nở đầy những hoa trái và hương sắc ngọt ngào, đủ
phẩm chất để dâng hiến cho con người và thời đại.
Hình ảnh mẫn tuệ và phương
pháp giáo hóa linh động, xảo diệu của Thiền sư Nhất Hạnh cùng giáo đoàn của Ngài
có mặt khắp nơi trên thế giới đông tây là những truyền nhân thừa kế di sản tuệ
nghiệp của chư lịch đại tổ sư, tông môn Việt Nam.
Bằng vào tình huynh đệ, nghĩa đồng môn cùng một gốc rễ, bằng vào năng
lượng của sự tu tập, hành trì giới luật mà sự hòa hợp của chư Tăng ở Huế được
tái lập, những khó khăn được hóa giải, hạnh phúc của mọi giới Phật tử được tăng
trưởng, vươn vai.
“Rừng Mai
lộ hiện bậc cao đức,
Thù thắng
ân duyên góp mặt đời,
Mật Hiển
qua đây tình đọng lại,
Hương thơm
đầu hạ ngược chiều bay.
Gốc rễ tùng
bách cao ngàn trượng,
Vẫy chòm
sao sáng xuống vườn xưa,
Trống pháp
khua vang rền cố quận,
Đèn tâm vô
tận dậy mùa trăng.
Sư tử tiếng
gầm nghe buốt lạnh,
Lượng từ
hóa giải những oan khiên,
Lũ lượt con
yêu về hội tụ,
Sắc không
hợp phố thể chơn thuyên.”
(Sơn Cư)
4.-
Nụ Cười và Cặp Mắt Thần :
Ôn Trúc Lâm có nụ cười kỳ diệu, dấu kín sau cặp thần nhãn của Ôn. Hai mắt
của Ôn, một tý tròng trắng nhiều hơn tròng đen tạo nên khuôn mặt đôi lúc như pho
linh thần. Vị linh thần chưởng quản một vùng đất kinh đô và chư Tăng Ni ở Huế ;
làm chuẩn mực cho tôn phong đạo đức và
truyền thống giống nòi.
Mỗi khi Ôn nhìn ai, đối tượng yếu bóng vía thì cảm giác, tư tưởng và toàn
thân của kẻ ấy như bị thu hồn vào trong thần nhãn của Ôn.
Những người bị mắc “đàng dưới”
mà ta hay gọi là ma hay vong nhập, mỗi khi người thân đem tới gặp Ôn là họ sợ
run lên như cây sậy. Người đó cúi
đầu nhắm hai mắt lại và không dám nhìn Ôn ; có
khi rên lên khe khẻ, gồng mình làm bức giây xích chạy trốn. Nhưng hầu hết những
bệnh nhân bị vong nhập mà được thân nhân tới nhờ Ôn hóa giải thì đều chịu phép.
Ôn hỏi điều chi, vong thức ấy khai hết không dám dấu diếm úp mở.
Nghe hoàn cảnh đau khổ cô đơn đói lạnh đọa lạc và mong ước của vong thức
xong, Ôn lâm râm đọc thần chú đại bi, làm pháp sự quy y và cho vài lời khuyên
dạy là vong thức ấy đi đầu thai.
Người bị vong thức nhập lành bệnh ngay tức thì, không cần dùng bất cứ một loại
thuốc nào cả.
Các đệ tử xuất gia, tại gia
và hầu hết các thế hệ Tăng Ni học trò của Ôn rất kính sợ uy đức của Ôn.
Hầu như mọi giới học trò của Ôn, ít ai khám phá được nụ cười từ bi bí ẩn
dấu kín sau hai mắt trầm mặc, bén nhạy, rực sáng của Ôn. Lý do dễ hiểu là có mấy
ai đủ can đảm để nhìn kỹ vào
“cuộc diện” của Ôn.
Tôi cũng chẳng khá gì. Có một
lần trong lớp học giới luật, tôi nhìn trộm vào đôi mắt của Ôn, Ôn nhoẻn nụ cười
và rọi hai ngọn đèn
“cao thế” của Ôn vào mặt tôi, tôi giật
mình thót ruột và con tim muốn nhảy ra bên ngoài, mồ hôi ướt đẫm toàn thân.
Sau buổi học Ôn gọi tôi vào bàn tổ chùa Linh Quang.
Tôi không biết chuyện gì xảy ra, lo sợ đến nỗi són giải trong quần và
không dám gặp Ôn. Nhưng điệu Đán hầu
quý ôn chùa Linh Quang, tìm tôi và nói là lệnh Ôn Trúc đòi đến hai lần, tôi bất
đắc dĩ phải lên hầu Ôn. Trong bước
chân đi, tôi tập thở sâu để điều hòa nhịp đập của con tim và tôi tự bảo,
“hãy đương đầu với sự thật.
Ôn là bậc cha mẹ sinh mình ra bằng giáo pháp, luật nghi, mình là giảng
sư, là con cưng của giáo hội, có chi mà phải lo lắng, sợ hãi, rụt rè…”
Tôi nghĩ không sai, hôm ấy Ôn đã đón tôi bằng đôi mắt thương và nụ cười
từ ái. Ôn tự rót và trao cho tôi một
tách trà nóng rồi Ôn bảo tôi ngồi cùng uống trà với Ôn. Tôi không dám cứ đứng
khúm núm và khoanh tay bên cạnh Ôn, song cuối cùng phải tuân lệnh Ôn, tôi ngồi
xuống trên một chiếc ghế nhỏ mà tôi ra hiệu cho điệu Đán đem vào giúp tôi có chỗ
ngồi đúng phép.
Hôm đó là một lần, một hải
đảo hạnh phúc mà tôi được nương tựa và tôi được sống đời, thật khó quên. Ôn nhìn
thẳng vào tôi mĩm cười thanh thoát và chậm rãi như lời phú chúc, gởi gắm xoáy
vào tâm tôi :
“Hãy là một bậc Thánh sống để có niềm tự
tin và tự tại. Bậc thánh sống là người có cái tâm chánh trực, ngay thẳng, không
sợ hãi bất cứ một điều gì trong ta và ngoài ta. Như cả cái già cái đau và cái
chết, ta hãy xem chúng với chân như của ta là một, không hai không khác. Già,
đau và chết là một sự thật. Ta tu là ta muốn đạt tới sự thật. Muốn đạt được sự
thật mà ta sợ sự thật là cái sợ vô lối, không đáng. Muốn đạt được cái tâm tự tại,
không sợ hãi bất cứ điều gì trong cuộc đời và trong khi đối đầu thì ta phải tập
quán chiếu “vô ngã tính”. Vô ngã tính là không có cái gì là thật cả, chúng là
duyên sinh, là duyên hợp, là thay đổi theo hoàn cảnh và điều kiện.
Chúng là giả danh, là không chơn thật. Một bậc thánh là một người đã giác
ngộ được thân tâm và vạn pháp là vô thường, vô ngã. Giác ngộ là vừa nhận biết và
vừa thân chứng, chứ không phải nghe hiểu suông bằng lý thuyết. Chứng được chân
lý về vô ngã rồi thì ta đạt được khả năng vô úy, tức là không còn mang tính rụt
rè, nhút nhát, sợ hãi nữa.
Nếu mình chứng nghiệm thực sự về chân lý vô ngã thì trong tâm không còn vướng
mắc về cái khổ và cái vui, cái thường và cái đoạn, cái thêm và cái bớt, cái có
và cái không, cái đến và cái đi, cái mất và cái còn, cái sinh và cái diệt, cho
đến niết bàn và sinh tử đều là hoa đốm trong hư không.
Phá được cái ngã rồi ta chính là bậc thánh sống. Thánh tức là vượt lên trên cái
thiện và cái ác. Và sống là sống trực giác, sống tự nhiên như đói ăn, khát uống,
mệt nằm ngủ, hết thở thì vô quan tài, không có gì phải vướng
mắc, lo lắng và sợ hãi nữa. Đối với người như vậy, phiền não sinh tử không còn
khuấy nhiễu, lay động họ nữa. Nhưng khi chưa chứng được thánh trí, con đường và
lý tưởng của người xuất gia và Bồ tát hạnh là phải lấy giới làm gốc. Thiếu hành
trì giới luật, oai nghi thì ta không thể có định lực và không phát huy được sự
hiểu biết sâu sắc về chân lý.
Chứng rồi vô ngã tướng,
Mất còn như hư không,
Lòng an vui tự tại,
Thủy chung nếp vô cùng,
Nương vào đâu để sợ,
Có gì đâu để lo ?
Đến đi như mây nước,
Có sông nên có đò,
Có nước mới có cá,
Có đất nên có chân,
Có mũi nên có thở,
Có đêm nên có ngày…
Khi Ôn dạy xong bài kệ tôi liền ngộ câu “có thì tự mảy may có, không thế gian
này đều không…”
Ngày xưa tôi chuộng việc học
và chuộng ghi nhớ những gì đáng nhớ, nên tôi thường thủ cái máy ghi âm nhỏ trong
túi, đó là “người
bạn” thân thiết giúp tôi phát triển, đãi lọc, ứng dụng trong chương
trình học vấn, tu tập và nuôi lớn tâm linh. Nhờ vậy mà những lời Ôn Trúc Lâm phú
pháp, tôi đã nhớ rất rành rẽ và thực hành suốt trên ba mươi bảy năm qua vẫn chưa
xong.
5.-
NiềmTin được Gởi Gắm :
Nhờ được học kinh điển, giới
luật và cách sống bình dị của các Ôn ở Huế suốt trong bốn năm trong khóa học
Nội Trú Liểu Quán mà tôi được thừa hưởng ân
huệ, phúc đức của các Ôn khá sâu đậm. Giáo hội và quý Ôn ở Huế đã hết sức quý
mến tin cậy, nên gởi gắm tâm tư và thao thức của mình cho các huynh đệ trong
khóa học Liễu Quán rất nhiều. Đặc
biệt là những truyền trao về kinh nghiệm tu chứng và phương sách ứng phó, thiệp
thế với quần chúng, chính quyền và mọi biến thiên của thời đại…
Chúng tôi xin ghi tóm yếu
vài lời dặn dò của quý Ôn giáo thọ trong khóa học và trong lễ mãn khóa chương
trình tu học bốn năm của khóa học nội trú Liễu Quán, tổ chức vào những năm
1967-1971 tại chùa Linh Quang, Thừa Thiên - Huế.
Đây là những di huấn “tối hậu” của quý Ôn, mà các huynh đệ trong khóa học
chúng tôi hầu như ai cũng nằm lòng và trân quý hơn cả trái tim, hơi thở của mình.
*.-
Ôn Đôn Hậu, Phương trượng chốn tổ Linh Mụ quốc tự dạy :
“…Quý anh
em không những chỉ là con ruột, con cưng của Giáo hội, mà còn là con của đức
Phật, con của quê hương đất nước, con của tổ tiên nòi giống và con của vạn loài
chúng sanh, nên vai trò, trách nhiệm và địa vị của anh em luôn luôn gắn bó với
tất cả và vượt lên trên tất cả. Địa
vị của bậc Chúng trung tôn trong đó có hình ảnh của quý anh em, của chư Tăng Ni
trong mọi thế hệ và thời đại, muôn đời vẫn là những chiến sĩ can trường, nhẫn
nại, kiên định và bền chí. Ta hãy dùng gươm trí tuệ, năng lực từ bi để xóa bỏ
thù hận, bạo động và hành vi tàn sát, mầm móng của chiến tranh. Chính thể nào
cũng là con người, những phe lâm chiến dù chiến thắng hay bại trận cũng đều là
con người sinh ra cùng một bầu thai của mẹ, mẹ Việt Nam và mẹ trái đất màu xanh.
Vì vậy thù hận, tàn sát, để kiến lập một nền độc lập, tự do, hòa bình là
trái với tinh thần nhân bản, trái với lương tâm và hoàn toàn trái với lời đức
Phật dạy. Chúng ta là những chiến sĩ dựng dậy tình người và tình đồng loại,
quyết không tham chiến, không gia nhập phía nầy hay bên kia để tàn hại lẫn nhau.
Hãy hành trì giới luật, hãy thực tập thiền định, điều hòa hơi thở để làm
chủ tâm thức bởi khả năng định tỉnh và tuệ giác. Ta quyết không lạc vào tà kiến,
không để dục vọng, vô minh dẫn lối đưa đường…”
*.-
Ôn Mật Nguyện, Phương trượng Tổ đình Linh Quang
:
“…Chúng tôi và
Giáo hội nuôi dưỡng, bồi bổ thêm vài mặt về chiều sâu, quán chiếu kinh tạng,
luật tạng và luận tạng cho quý anh em trong suốt thời gian bốn năm.
Thời gian ấy thật quá ngắn ngủi so với thời gian đức Bổn Sư chúng ta
thuyết giáo 49 năm. Tuy vậy, những
điều mà quý tôn đức, quý bậc giáo thọ và chúng tôi chia xẻ, trao gởi cho quý anh
em trọn bốn năm qua cũng tợ như những mồi lửa của những bó đuốc được thắp lên,
những bóng đèn được lau sáng để cho bóng tối nhường bước trong tâm tư, trong đêm
tối thiếu trăng sao đối với kẻ lữ hành băng qua khu rừng đầy lang sói, thú dữ.
Chúng tôi ước mong quý anh em tiếp tục, tinh cần trau dồi giới hạnh, định
lực, trí tuệ không gián đoạn trong lý tưởng giải thoát, giác ngộ, phục vụ quần
sanh, đạo pháp, quê hương và xứ sở.
Anh em là kẻ thừa tự sự nghiệp trí tuệ, là những châu ngọc vô giá của Giáo hội
và Quê hương.
Chúng tôi là những người thừa kế thầy
tổ, anh em là những người thừa kế chúng tôi và chắc hẳn là những mồi lửa mà
chúng tôi đã thắp, hâm nóng nhiệt huyết của bậc trượng phu, bước tới chân trời
cao rộng, mãi mãi được truyền trao cho nhiều thế hệ Tăng ni, Phật tử hôm nay,
ngày mai. Chúng tôi, quý anh em ắt
hẳn là những giọt mưa, những sợi nắng, những hạt
nước trong dòng sông chảy về
biển tuệ vô tận. Chỉ có trí tuệ mới thắp sáng cuộc đời, mang hạnh phúc, niềm
tin, hóa giải nổi khổ đau cho tất cả và muôn loài chúng sanh…
Đức Phật
khai đạo lý,
Hiển trí
tuệ, từ bi,
Hóa giải
mọi đau khổ,
Xây niết
bàn nhân gian.
Như lai
thường căn dặn,
Đức và trí
tròn đầy,
Hạng tỳ
kheo thanh tịnh,
Hãy chia
nhau lên đường.
Phát Đại
nguyện Bồ tát,
Dấn thân
diễn tam thừa,
Quảng độ
hằng sa chúng,
Thấy rõ
phật tự thân…”
*.-
Ôn Thiện Siêu, Phương trượng Tổ đình Từ Đàm :
“…Các anh
em nên thấu cái đạo lý “tri hành hợp nhất”.
Chúng ta học đạo và tu đạo cùng một lúc, chứ không phải hôm nay học ngày mai mới
thực hành. Tu và học gắn liền với nhau. Chính trong khi học cũng là lúc chúng ta
đang trở về với sự giác tỉnh, với Phật trong lòng và trong tự thân.
Vậy khi ra trường đừng tưởng là xong việc, mà xem đây như một cơ hội tốt
để tiếp tục đào luyện thân, tâm cho có an lạc, có sự giải thoát, có sự tự tại để
làm chủ mình và giúp những người chung quanh trở về với chánh đạo, với chân lý.
Là Tăng sĩ phải luôn làm lợi mình, lợi
người về phương diện giải thoát, đoạn khổ, đắc lạc.
Làm một vị xuất gia đầu tròn, tăng tướng trang nghiêm bên ngoài mà không
tự lợi mình, lợi người trên phương diện giác ngộ, tăng trưởng tâm linh, đạo đức
thì hạnh của ông thầy tu như bị lạc dẫn, sai lầm và tuyệt chủng trí. Thế cho nên
khi ra làm thầy thiên hạ, mình phải có đạo lực, phải có chủ kiến và phải lấy Tam
Bảo làm chỗ tựa nương. Chúng ta đôi khi lắng nghe dư luận để sửa sai sự khuyết
điểm, yếu kém về giới hạnh, kinh nghiệm làm Phật sự.
Nhưng đôi khi chúng ta cũng phải bước trên dư luận đố kỵ, hẹp hòi,
thù hận, gian trá và xảo quyệt
của ma vương.
“Dù ai nói ngã nói nghiêng, ta đây đứng vững như kiềng ba chân”.
Muốn tiến bộ trên đường tu và phục vụ, chúng ta phải hằng nương tựa nơi
các bậc minh sư và bạn lành. Minh
sư, bạn lành là thiện tri thức của ta và cho ta, giúp ta thành tựu hơn nữa đường
tiến trình đạt đạo, giáo hóa và phục vụ nhân sinh…”
*.-
Ôn Mật Hiển, Phương trượng Tổ đình Trúc Lâm :
“Chúng ta tu tâm, hiển
tánh, chăm chỉ hành trì những điều chư Phật, lịch đại Tổ sư truyền trao.
Điều ấy rất đúng, không ai có thể chối cải và không thể lơ là bỏ qua.
Nhưng người tu sĩ Việt Nam chúng ta cũng phải học xa, thấy rộng để kịp đà
tân tiến văn minh khoa học hiện đại mà truyền bá chánh pháp cho thích nghi với
mọi sinh hoạt xã hội loài người.
Chúng tôi được hai lần đi dự đại hội Phật giáo quốc tế, một lần ở Tích Lan và
một lần ở Nhật Bản với phái đoàn có thầy Nhất Hạnh. Chúng tôi nhận thấy mình rất
kém, thua xa các nước Phật giáo có nền văn minh kỷ thuật khoa học. Vấn đề hành
chánh, phương pháp hướng dẫn, điều hành tổ chức, kỷ thuật máy điện tử, cho đến
cách trình bày giáo pháp mang tính thực tiển và khoa học, nhất nhất đều rạng rỡ,
linh hoạt, hấp dẫn và mang tính thu phục, xoáy sâu trong tim gan, tâm khảm quần
chúng. Nhìn lại nền phật giáo Việt Nam của chúng ta thì tựa hồ một tổ chức thu
hẹp, khiêm tốn, chậm chạp nhiều mặt, nhất là về mặt đưa đạo Phật vào trong các
lãnh vực sinh hoạt của con người thời đại…
Các thầy, các vị Tăng Ni học ra trường
trong một giai đoạn, chớ vội quên gốc rễ truyền thống giới luật và oai nghi,
nhưng cũng nên luôn luôn cầu tiến, học tập thêm cái hay, cái thực dụng và thực
tế của các tổ chức Phật giáo tây phương và thế giới…”
Có lẽ Ôn Trúc Lâm là vị Tăng
“chịu chơi” trong việc sử dụng xe hơi đầu tiên trong giới thầy tu ở Huế.
Ôn tự quyết định mua xe, học cách sửa xe và lái xe.
Ôn không cần dùng tới tài xế lái xe và sửa xe như Ôn Mật Nguyện, Chánh
đại diện miền Vạn Hạnh, sư đệ của Ôn.
Có một lần anh em trong khóa học Liểu Quán chúng tôi được nghỉ học mười
ngày để tham gia công tác từ thiện, cứu trợ nạn nhân bão lụt miền Trung, Ôn Trúc
Lâm lái xe đến chùa Linh Quang gọi thầy Giới Hương, thầy Quảng Hạnh và tôi đi
tham quan sinh hoạt của một tu viện Thiên Chúa Giáo thuộc dòng Thiên An ở Huế.
Ôn bảo với chúng tôi
:
“…Chúng ta nên tới đó một lần để thấy nếp sinh hoạt của các linh mục và các
chủng sinh của họ. Cách cấu trúc tu
viện, phòng xá và lề lối giáo dục sinh hoạt hằng ngày của họ khác với cách tổ
chức chùa viện Phật giáo mình nhiều lắm.
Có cái họ phải học nơi Phật giáo của mình nhưng có cái chúng ta cũng nên
học hỏi nơi họ, nhất là cách tổ chức mang tính khoa học và trở về với nếp sống
thiên nhiên có liên hệ tới sự bảo dưỡng sức khỏe, quân bình thân và tâm, lý trí
và tình cảm. Người ta có hồ bơi, có
sân chơi quần vợt, tennis và phòng đánh bóng bàn,
có sân bóng rổ, sân tập thể dục và chạy bộ.
Trong khi mình chỉ biết tụng niệm, riu ríu làm việc, đè nén mọi ức chế,
thiếu năng động, thiếu ý thức và thiếu tự tin nơi diệu lực của bản thân và của
Phật Pháp…”
Những tâm tình của Ôn hồi đó
cá nhân tôi không hề để bụng, nghĩa là tôi không thấy rõ được tình thương và
thâm ý sâu xa của Ôn về việc chăm sóc đời sống chúng điệu, Tăng Ni trong các
chùa viện. Không thấy được sự ước
vọng, thao thức của Ôn về việc đem đạo vào đời và hiện đại hóa Phật Giáo.
Đợi cho đến khi qua Hoa kỳ học hành và hoằng pháp, tôi mới thấy rõ những
lời dạy vàng ngọc của Ôn đối với bản thân và liên hệ đến các sinh hoạt và sự
phát triển của các cộng đồng tăng thân Tăng Ni xa gần.
Bản thân tôi hồi nhỏ ở Việt Nam thì thiếu ăn uống, thiếu dinh dưỡng và
thiếu tập luyện thể dục, thiếu điều độ giờ giấc và sự nghỉ ngơi đúng phép khoa
học vệ sinh nên hồi còn nhỏ ở Huế bị bệnh thương hàn nhập lý suýt chết.
Khi đến Hoa kỳ phải giải phẩu đường ruột và tim mạch tốn trên ba trăm
ngàn mỹ kim mới cứu được tánh mạng.
Từ đó tôi mới thấu hiểu một cách sâu sắc lời dạy và sự nhắc nhở khéo léo của Ôn
Trúc Lâm năm xưa. Tôi bắt đầu biết bảo hộ sức khỏe, chú ý nhiều tới việc luyện
tập thể dục, khí công và thiền định.
Tôi cũng bắt đầu thương hiểu và để ý nhiều đến tình huynh đệ, sức khỏe của các
học trò, của chư Tăng Ni xa gần.
Trong khi hướng dẫn những khóa tu thiền quán ở Hoa kỳ, tôi đã sử dụng thêm
phương pháp dinh dưỡng, khí công và cây gậy dưỡng sinh của cụ Mai Bắc Đẩu để
hướng dẫn và quân bình nếp sống thân tâm của các thiền sinh. Tôi đã cố gắng
chiêm nghiệm, thực tập lời dạy của Ôn không ngừng trong việc đem đạo Phật đến
gần với quần chúng trong mọi sinh hoạt của xã hội và thời đại mà tôi đang tiếp
xúc.
“Thiền tập
chuyển hóa khổ đau,
Pháp môn đệ
nhất nhiệm mầu xưa nay.
Định tâm
niệm Phật mỗi ngày,
Neo theo
hơi thở niệm này, niệm sau.
Khí công đả
huyệt trường xuân,
Cường thân
kiện thể công huân tu trì.
Hạnh lập mở
lượng từ bi,
Khai minh
tuệ giác sống đời vị tha.’’
(Sơn
Cư)
*
* *
NHỚ ÔN NHƯ GỌI MẸ
YÊU
(Bài
thơ Tưởng niệm Ôn Trúc Lâm thay lời kết.)
Tình Ôn
nắng ấm sang thu,
Bình minh
xuống ngỏ ao tù vàng bay.
Gọi Ôn
trong nỗi đời say,
Tình Ôn
muôn thuở nơi nầy gần xa.
Thần Tăng
bước xuống ta bà,
Chuyển
thành tịnh độ tưởng là nằm mơ.
Bên Ôn từ
thuở còn thơ,
Tử sinh
trường mộng đá chờ giọt sương.
Hóa thân
trong cõi vô thường,
Bây giờ Ôn
đã trên đường về ngôi.
Con ngồi
đếm chiếc luân hồi,
Nhìn quanh
sáu nẽo bờ môi hoa cười.
Gọi Ôn đêm
tối ba mươi,
Thuyền chèo
ngược bến đưa người qua sông.
Biển đời
sóng vỗ mênh mông,
Dáng Ôn
vững chải thong dong mây chiều.
Mắt Ôn rõi
xuống cô liêu,
Trái tim mở
rộng tình yêu vô bờ.
Gọi Ôn
tiếng gọi con thơ,
Sữa thơm
của mẹ ban sơ còn nhiều.
Nhớ Ôn con
gọi mẹ yêu,
Đỉnh non
lụa nắng hải triều triều dâng.
Gọi Ôn nhẹ
gánh bâng khuâng,
Tim con nhỏ
xuống giọt mừng ngàn năm.
Gọi Ôn
tiếng vỗ sông hằng,
Trúc Lâm
muôn thuở trăng rằm còn nguyên.
THÍCH TỊNH TỪ
(*)
Ghi chú :
(*)
Cựu Học Tăng Thích Tịnh Từ, nay là
ngôi vị Hòa thượng, Khai sáng chùa Từ Quang tại thành phố Cựu Kim Sơn (San
Francisco, CA.), khai sáng kiêm Viện trưởng Tu viện Kim Sơn (CA) và khai sáng
kiêm Viện trưởng Tu viện Liên Trì (AL)
(xem tiếp)