BIỂN TRỜI CÙNG XANH
(*)
Thành kính tưởng
niệm Ôn Trúc Lâm
Trung Hải Nhuận

xứ
Huế vào những thập niên 60-70, hễ nghe đến chùa Trúc Lâm thì ai
cũng thích vì cảnh trí
thâm u, rừng thông rợp bóng, tiếng chim líu lo. Thế nhưng, hễ
nghe đến Ôn Trúc thì ai cũng cảm thấy hơi ớn lạnh. Vì sợ Ôn lắm
! Cái cảm giác chung là
thấy mình bất an khi đứng trước Ôn, như kẻ đi đêm hay sợ ma, họ
sợ Ôn lắm. Có người cho rằng sợ Ôn vì Ôn rất nghiêm, có lẽ đúng
một phần. Nếu là Tăng Ni mà ai sơ ý gặp Ôn không chào là Ôn kêu
lại cho ăn một “bớp” ngay tại chỗ. Vì Ôn cho rằng vị đó học Luật
không thuộc, Thầy của vị ấy dạy đệ tử không nghiêm, nên không
chào hỏi bậc bề trên. Giới cư sĩ gặp Ôn họ cũng có cảm giác hơi
sợ vì có cái gì đó khó nói khó tả. Mà thật trông hình tướng của
Ôn cũng thấy sợ rồi ! Có
người nói Ôn là chủ của thế giới siêu nhiên, là người của Mật
tôn, nên nhiếp phục được Ma cho nên Ma nó sợ. Ma sợ thì người
cũng phải sợ theo vì Ma với người có quan hệ mật thiết với nhau.
Có người nói là do đức độ tu hành của Ôn …
Vâng, đại
thể nói về Ôn Trúc là họ nói vậy. Ở Huế từ lớn chí nhỏ ai mà
không biết Ôn Trúc. Thứ đến phải nói Ôn là vị Trú trì của ngôi
cổ tự, là người nối tiếp dòng dõi Trúc Lâm rất nổi tiếng ở Huế.
Ôn lại là nhà tu hành nghiêm túc nên mọi người khó tiếp cận.
Trong cái khó tiếp cận đó thì dáng vẻ bên ngoài của Ôn cũng đã
góp phần không nhỏ. Vóc dáng Ôn mảnh khảnh, ốm
người, mắt sâu, da hơi ngăm đen, dáng đi nhanh nhẹn như
con Báo. Đặc biệt là đôi mắt đen ấy, khi Ôn nhìn vào ai thì cứ
như xoi xỉa vào tận tim gan của người ấy, sắc hơn dao cạo nên
mọi người đều sợ, nhất là bọn trẻ con. Nên hễ nghe đến Ôn Trúc
là họ sợ lắm, ngán lắm. Đó là cảm giác của bọn học Tăng chúng
tôi khi nghe kể về Ôn.
*
Riêng chúng
tôi, lúc còn hành Điệu ở chùa Từ Đàm Huế, có cái may mắn là được
gặp Ôn nhiều lần trong tuần, trong các thập niên 60-70. Bổn sư
chúng tôi là pháp hữu thân thiết của Ôn. Ôn ra Văn phòng Giáo
hội đậu xe ở sân là lên thiền đường của Từ Đàm ngay, vì vậy,
chúng điệu Từ Đàm phải lo đón chào Ôn, thỉnh Ôn vào ngồi. Liền
đó, người thì đi pha trà, đứa thì đi báo cho các Thầy biết là có
Ôn Trúc lên thăm. Khi thì có thầy Thiện Minh, khi thì có thầy
Thiện Siêu, lúc thì có thầy Trí Quang hoặc thầy Trí Nghiêm hay
thầy Huyền Quang (hai Thầy lúc này ra làm việc ở Huế). Đó là lý
do vì sao bọn điệu chúng tôi được duyên may gặp Ôn hầu Ôn nhiều
lần là vậy.
*
Chùa Từ Đàm
là nơi đặt Văn phòng của Tổng Trị sự Hội Phật giáo Trung phần,
lãnh đạo 17 tỉnh Miền trung, cũng là nơi đặt văn phòng của Tỉnh
hội Phật giáo Thừa Thiên, nên có nhiều Ôn lớn đến ở và làm việc,
vì thế Ôn Trúc thường hay ghé thăm và đàm đạo nên điệu chúng
trong chùa được Ôn biết mặt, nên chúng tôi ít bị la rầy, mỗi khi
gặp Ôn và các Ôn khác đến Từ Đàm. Nhớ lại ngày xưa, chúng tôi
mới 14, 15 tuổi, mà bây giờ, có người trong số chúng tôi đã mất,
đa số còn lại giờ đã là Thượng tọa, Hòa thượng. Hồi tưởng lại
cuộc sống của quý Ôn ở Huế hồi ấy y như mới xảy ra hôm qua,
không có gì phai mờ, mặc dù đa số các Ôn đã là người thiên cổ,
các Ôn đã đi xa và rất xa, ít Ôn còn lại trên thế gian nầy.
*
Là thị giả
và học trò, chúng tôi thường hầu các Thầy lớn tới thăm viếng các
Tổ đình: như Quốc Ân, Tường Vân, Thuyền Tôn, Từ Hiếu, Trúc Lâm,
Quy Thiện, Báo Quốc, Linh Quang, Kim Sơn… đó là các nơi mà các
Thầy của chúng tôi thường qua lại nhiều nhất. Nói là nhiều nhất
nhưng thật sự chỉ có một số chùa như Quốc Ân, Thuyền Tôn, Tường
Vân, Linh Quang, Kim Sơn, Trúc Lâm, Từ Hiếu, Qui Thiện là nhiều
mà thôi. Vì một lẽ có quý Ôn lớn và một số là pháp hữu tâm giao
của Thầy chúng tôi đang ở đó. Do vậy, ký ức về từng Ôn, từng
chùa, từng công việc Phật sự liên quan đến Giáo hội, chúng tôi
không bao giờ quên được. Vì có lúc Thầy chúng tôi thường hay sai
chúng tôi đi đưa thư cho các Ôn, nhờ vậy mà chúng tôi còn nhớ
hình ảnh từng Ôn một rất rõ:
*.-
Ôn Tường Vân (Ht.
Tịnh Khiết) thì rất nghiêm nghị, ngồi trong liêu một mình, lưng
thẳng tắp, gương mặt đậm nét suy tư. Thỉnh thoảng Ôn hay hút
điếu thuốc nhất là về mùa đông khí trời lạnh lẽo.
*.-
Ôn Thuyền Tôn (Ht. Giác Nhiên) thì tuổi già hay chống gậy
ra vườn chỉ cho các Thầy trong chùa trồng cây, săn sóc vườn rau.
Ôn thích nhất là trồng gừng, loại gừng rất cay. Gừng này Ôn chỉ
để làm mứt biếu các thầy mà thôi. Khi trồng Ôn cũng coi ngày, và
khi thu hoạch cũng phải đúng mùa đúng tiết. Ôn thường chăm sóc
các lũ chim đến xin khất thực nơi liêu. Ôn sống giản dị
nhưng rất chu đáo, thỉnh thoảng Ôn cũng xuống thăm chú Ỉn (lợn)
nuôi sau nhà bếp.
*.-
Ôn Linh Mụ (Ht. Đôn Hậu) thì trông rất oai vệ và điềm
đạm. Là giảng sư của các Thầy giảng sư nên Ôn đi đứng nói năng
rất nhẹ nhàng, khoan thai. Ôn thích đàm đạo về Kinh, Luật, Luận
mỗi khi có pháp hữu từ xa về, Ôn tích lũy được nhiều kinh nghiệm
trong việc hoằng pháp nên Ôn thường dạy: Khi diễn giảng phải khế
lý khế cơ. Quần chúng hễ nghe Ôn giảng là say mê đến quên ăn,
quên ngủ.
*.-
Ôn Tây Thiên, Ôn Từ Hiếu, Ôn Vạn Phước… mỗi Ôn một vẻ,
nhưng nét chung là rất điềm đạm, chùa các Ôn là trường chuyên
tu, nhất là tu Tịnh Độ, nên suốt ngày các Ôn chỉ khuyên Tăng Ni
Phật tử cố gắng niệm Phật để cầu vãng sanh. Các Ôn là người sống
rất tình cảm nên được Phật tử và Tăng chúng rất mến mộ.
*.-
Ôn Linh Quang (Ht. Mật Nguyên) thì đa tài, tài nào cũng
có, tài nghi lễ, tài tổ chức điều hành Giáo hội, tài Giáo thọ,
tài Giảng sư, tài
phiên dịch kinh điển. Vai trò nào Ngài cũng xuất chúng hết. Đa
tài như vậy, nhưng rất tiếc là các đệ tử của Ôn chưa sưu tầm hết
gia tài Pháp mà Ôn để lại để cống hiến cho đời.
*.-
Ôn Thiện Siêu là nhà Sư phạm, nhà phiên dịch, diễn giảng,
rất nổi tiếng. Suốt ngày Ôn hết đọc sách này đến đọc sách khác
không bao giờ ngơi nghỉ. Sách gì Ôn cũng đọc, đọc sách và mê
sách là niềm hạnh phúc của Ôn. Đọc và nhớ là biệt tài của Ôn. Đa
tài và tư tưởng thâm thúy chính là Ôn Từ Đàm.
*.-
Ôn Thiện Minh là người đa mưu túc trí. Ôn rất thích chơi
cờ tướng. Hễ đã chơi cờ tướng với ai, nếu thua cả đêm Ôn suy
nghĩ cho ra nước cờ để phá thế bí đó. Có hôm, bốn giờ sáng Ôn đã
thức dậy, kêu người thắng cờ dậy dựng bàn cờ để Ôn phá thế bí
đó. Ôn thích đi kinh lý các tỉnh để nắm tình hình Phật sự, nhất
là các tỉnh có biến động. Ôn trông trầm tĩnh nhưng rất năng
động.
*.-
Riêng Ôn Trúc thì hơi đặc biệt hơn. Đặc biệt ở chỗ Ôn rất trọng
người có
tu, có học, có tài. Nếu người đó bằng Ôn hay hơn Ôn nhưng là
người được Giáo hội giao phó trách nhiệm thì Ôn rất tôn trọng sự
sắp đặt ấy, mặc dù người đó ít tuổi hơn Ôn. Ôn luôn luôn trung
thành với Giáo hội. Khi đã nhận trách nhiệm, Ôn bao giờ cũng làm
gương và đi đầu trong công việc. Ôn luôn trọng người có tài lo
cho đạo. Ôn là bậc đàn anh nhưng khi Giáo hội giao cho đàn em
như các thầy Thiện Minh, Trí Quang, Mật Nguyện, Thiện
Siêu… lãnh đạo thì Ôn rất hoan hỷ. Chúng tôi còn nhớ, mỗi lần
Tết đến, Thầy chúng tôi thường vào Trúc Lâm, Từ Hiếu hay Tường
Vân xin bạch mai về cắm Tết. Hễ thấy Thầy chúng tôi vào là các
Ôn biết ý ngay, kêu các chú lấy cưa ra và nói :
Thầy ưa nhánh nào thì
cưa nhánh ấy. Cái tình của các Ôn đối với nhau thật là quí.
Chính vì vậy mà khi thầy Tín Nghĩa đề nghị chúng tôi viết
về Ôn, chúng tôi rất ngại. Nhưng nể tình Thầy khi còn ở Huế, và
rất thương Thầy khi ba anh em chúng tôi qua Mỹ thầy đón tiếp
chúng tôi rất thân tình, nên chúng tôi không nỡ từ chối. Thôi
thì biết gì viết nấy, nhất là về chùa Trúc Lâm và Ôn Trúc kính
mến.
*
Hôm nay Ôn
đã đi xa, xa lắm, Ôn chắc đã về trời Tây, chúng con ở lại đây
xin ghi một chút ký ức tản mạn về Ôn gọi là con cháu nhớ về
nguồn, một chút lòng thành kính dâng Ôn, bậc Thầy đáng tôn kính
của chúng con.
*
Không có
Phật sự gì dù ở địa phương hay Trung ương mà Ôn không có mặt.
Không có Phật sự gì khi Ôn nhận mà không hoàn thành. Ở địa
phương nhỏ nhất là Đặc ủy Tăng sự, lớn nhất là Trưởng Ban Trị
sự. Ở Trung ương lớn nhất là Phó Pháp chủ, là thành viên Viện
Tăng thống. Khi Ôn nhận trách nhiệm Trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội
Phật giáo Thừa Thiên là ngày nào Ôn cũng có mặt ở Văn phòng Giáo
hội để chỉ đạo, ký văn thư giấy tờ hành chính. Ôn có mặt chả lẽ
các thầy dưới không có, nên chẳng ai dám vắng mặt. Ở Trung ương,
là thành viên Viện Tăng thống, là Phó Pháp chủ, Ôn đều có mặt
mỗi khi có văn thư cung thỉnh hội họp. Ôn tự coi đó như là bổn
phận. Chúng tôi nhớ như đúc, mỗi lần họp đại hội ở tại chùa Ấn
Quang (Sài Gòn), hay sau này là chùa Quán Sứ (Hà Nội), bao giờ
Ôn cũng có mặt trên hàng ghế chứng minh. Sự có mặt của Ôn là sự
bình yên cho Giáo hội. Nơi nào Ôn có mặt, nơi đó Ôn đều thể hiện
vai trò Tăng sai của mình.
*
Nhớ lễ Phật
đản năm 1963, Ôn là Trưởng Ban tổ chức, thầy Thanh Trí là Phó
ban. Khi đoàn rước Phật từ chánh điện chùa Diệu Đế lên chùa Từ
Đàm, đi qua cầu Tràng Tiền và đến trước tòa tỉnh đường Thừa
Thiên thì biểu ngữ đồng loạt xuất hiện. “Đả đảo dụ số 10, đả đảo
gia đình trị, đàn áp tôn giáo” thì Ôn đến tịch thu ngay nhưng
càng tịch thu thì biểu ngữ càng xuất hiện nhiều hơn nên Ôn phải
về Từ Đàm trước. Khi họp Ban tổ chức, biết rõ mọi việc là do quý
thầy sắp đặt, Ôn chỉ trách khéo: Tại các Thầy không cho tôi biết
trước! Trách thì trách vậy thôi nhưng rồi sau đó Ôn lại hoan hỷ
ngay, chứ không để bụng lâu bao giờ.
*
Nghi lễ
Phật giáo là món ăn tinh thần rất quan trọng trong đời sống chư
Tăng Ni và tín đồ Phật giáo. Nghi lễ Phật giáo Huế vốn ảnh hưởng
hát bộ và nghi lễ cung đình Huế nên sản sinh ra một dòng nghi lễ
đặc biệt, không nơi nào có được. Muốn theo học thông suốt về lý
thuyết lẫn thực hành nghi lễ ấy không phải ai cũng làm được.
Trong số những người thực hành được thì chỉ có vài Ôn thôi, được
gọi là thiên bẩm, có năng khiếu về nghi lễ. Ôn Trúc đặc biệt nắm
vững nghi lễ truyền thống Phật giáo Bắc tông cộng với cách hành
trì nghi lễ Phật giáo Tây Tạng. Ôn là một nhân vật đa tài có một
không hai ở Huế. Vì Ôn đã từng học nghi lễ Mật tông với các thầy
theo truyền thống Tây Tạng, Ôn cũng từng vào học ở nội cung dưới
triều Nguyễn, và nhất là học nghi lễ với các bậc thầy nghi lễ ở
Bình Định, nên Ôn giỏi cả lý thuyết lẫn thực hành về khoa nghi
Phật giáo. Chính vì vậy, lúc đương thời, Ôn là người nổi tiếng
có uy lực trị ma quỷ, trị bịnh điên hay nhất. Nhất là con nít
khó nuôi, đem lên Ôn trị thì sau đó chắc chắn về sẽ hết bịnh
ngay. Ôn thường dạy, trị bịnh cốt ở cái tâm. Tâm ngay thì bịnh
lành. Tâm đây là tâm từ bi, tâm bao dung rộng lớn, tâm thương
người thương vật khiến ma quỷ phải nể sợ, nên có người nói Ôn là
chủ của ma quỷ, trị đâu lành đó.
*
Chùa Trúc
Lâm ở Huế nằm trong vùng đất gò đồi, mặt chánh điện hướng về núi
Ngự Bình, tháp tổ Nguyên Thiều, xa xa là tháp tổ Liễu Quán và
đối diện núi Thiên Thai chùa Thuyền Tôn. Ngày xưa muốn đến Trúc
Lâm thì phải đi qua cầu Lim, men theo con mương đê đào quanh co
theo đồi dốc mà vào. Cảnh trí còn nguyên sơ, dân tình sống mộc
mạc, làm buổi hôm ăn buổi mai. Nay thì đã khác. Học trò đến mùa
thi cử, muốn yên tĩnh để ôn bài thì vào để xe trước vùng hồ rồi
đi lên chùa tìm chỗ thích hợp để học ôn thi vì
ít ai quấy rầy. Du khách thì phải theo con dốc dưới hồ
mới vào chùa được. Xung quanh chùa có rừng cây đủ loại, nhiều
nhất là thông, đủ che mát cho cho toàn vùng và tô điểm cho chùa
thêm xinh. Vì là vùng đồi lại có ngôi chùa nằm trên đó nên cái
gì trông cũng lạ mắt. Nhưng ngôi chùa và cổng Tam quan ngày xưa
coi hơi ngồ ngộ là vì Ôn Trúc tự tay xây lấy. Trong từ điển của
chùa không có từ thuê thợ. Ôn là thợ và là thợ cả kiêm kiến trúc
sư của chùa. Đích
thân Ôn chỉ huy đệ tử làm chùa và xây dựng chùa. Chùa do đó
trông hơi khác lạ so với chùa khác. Khi vào Trúc Lâm, chúng tôi
thường ra trước sân ngắm các tác phẩm của Ôn. Như cái cổng tam
quan, mấy pho tượng Ôn tự tạo trông thật ngộ nghĩnh. Có lẽ vì
đắp bằng tay nên Ông nào Ông nấy hình dáng như Tề Thiên Đại
Thánh, mỗi tượng mang một dáng vẻ. Thế nhưng có nhiều người
thích. Thích vì nó mộc mạc, chân chất, hợp cảnh núi rừng cô
tịch. Vật liệu thì đơn giản, dễ kiếm và dễ có như đất sét, vôi,
xi măng. Đó là những tác phẩm do chính Ôn tự tay làm. Nay thì đã
mất.
Chùa Trúc
Lâm nổi tiếng cũng vì một lẽ nữa, vì nơi đó có Ôn Giác Tiên và
các đệ tử tu sĩ cũng như cư sĩ nổi tiếng một thời. Bổn sư là
người đầu tiên nghĩ đến tiền đồ của dân tộc và đạo pháp là Hòa
thượng Giác Tiên đã tự thân đứng ra vận động để mở trường, mời
thầy về dạy học. Đó là trường học đầu tiên trong các chùa ở Huế.
Chính trường này là tiền thân của các trường Phật học ở Huế mở
ra rộng rãi sau này. Thầy trò Ôn Giác Tiên như
Ht. Mật Tín, Ht. Mật
Khế, HT. Mật Hiển, HT. Mật Nguyện, Ht. Mật Thể, … và đặc biệt có
đệ tử tại gia là Trưởng giả bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám là
những vị xứng đáng được tuyên dương, ghi công đầu cho nghành
Giáo dục Phật giáo.
*
Ôn Trúc là
bậc Thầy đáng kính, là người nối tiếp sự nghiệp của Thầy Tổ và
các huynh đệ trong đạo và ngoài đời để lại, làm rạng rỡ cho Tông
môn, đào tạo một
thế hệ Tăng Ni có học để phục vụ cho Giáo hội, Đạo pháp và Dân
tộc. Ôn cũng là người đưa giáo dục của xứ Huế vào miền
Nam
thắp ngọn đèn thiền tại đó. Ông đã vào dạy cho Tăng Ni ở Sa Đéc
trong một thời gian dài, nên Ôn cũng là một trong các bậc Giáo
thọ sư nổi tiếng trong Nam. Ôn
Trúc xuất thân tu học trong một tòng lâm nổi tiếng ở miền Trung.
Ôn từng học với Bổn sư là Hòa thượng Giác Tiên, với Hòa thượng
Quốc sư Thích Phước Huệ (ở Bình Định). Ôn cũng đã từng học ở Tây
Thiên đại học đường do Hòa thượng Phước Huệ chủ giảng. Với ngần
ấy năm khi Bổn sư còn tại thế, với vị thầy là Quốc sư, uyên thâm
về Phật pháp, nên Ôn rất giỏi về Kinh, Luật, Luận. Sau này, Ôn
đã đem kiến thức uyên áo ấy, dạy lại cho các thế hệ Tăng Ni khắp
cả nước. Nhờ vậy mà một số các vị Tăng Ni trẻ ấy nay họ đã bước
vào đời cũng với cương vị là giáo thọ, là giảng sư, là trú trì,
là nhà lãnh đạo đầy tài năng đang đảm trách đào tạo thế hệ Tăng
Ni trẻ để phục vụ cho đạo cho đời.
*
Ở Huế, mùa
đông mưa dầm dề và kéo dài lê thê, có năm cả mấy tháng không
thấy mặt trời. Vừa lạnh, vừa thiếu thốn đủ thứ. Thế nhưng Phật
sự thì Ôn đâu có từ nan. Các đạo hữu trong Hội mới nghĩ cách mua
xe hơi để chở các Ôn đi giảng, đi quy y và làm lễ ở các vùng
nông thôn, ngặt nỗi khi có người mời thì lại không có tài xế. Do
đó các Ôn phải đi học lái xe. Ôn Từ Đàm học lái thì lủi ngay
xuống ruộng, Ôn Thiện Minh thì tông vô bờ… duy chỉ có Ôn Trúc là
vững vàng hơn cả vì Ôn lái xe đi không quá 20 km/h. Có người khi
thấy Ôn lái xe liền nói xe rùa của Ôn bò ra đấy bây ơi !
Chắc chắn là họ nói Ôn
lái xe chậm hơn rùa rồi. Ôn lái xe từ chùa Trúc Lâm ra văn phòng
Giáo hội, rồi vào chùa Từ Quang nghỉ, chiều Ôn lại lái về. Sau
giải phóng, xe Ôn bắt buộc phải đăng ký lại, phải có bằng lái
xe. Có lần Ôn lái xe ra Từ Đàm thì bị thổi phạt. Ôn xuống xe
cười cười rồi nói: Thôi nhờ các anh giữ giùm cho. Thế là Ôn cuốc
bộ về chùa. Khi công an giao thông báo cáo về đồn sự việc, lãnh
đạo tỉnh phải lái xe lên chùa trả lại cho Ôn và xin lỗi. Từ đó,
hễ thấy xe Ôn Trúc là họ phải dè chừng. Ở Huế, đối với Phật
giáo, Ôn là người có uy tín nhất, vì Ôn là Trưởng Ban Trị sự, là
Phó Pháp chủ, là Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, ai cũng biết Ôn.
Từ đó hễ có lễ lược hay hội họp gì, xe ở dưới tỉnh phải lên đón
Ôn, vì họ sợ Ôn lái xe lắm.
Ở Huế, bây
giờ thì chùa nào cũng có thể gọi là Tổ đình được hết, vì Ban
Tăng sự Trung Ương quy định chùa nào trên 100 năm thì được liệt
vào chùa tổ. Do đó, ở Huế, chùa được trên 100 năm thì rất nhiều
nên đa số được liệt vào chùa tổ. Nhưng chùa tổ loại xưa có thể
đếm trên đầu ngón tay: như chùa Từ Đàm, Linh Mụ, Quốc Ân, Từ Lâm,
Thuyền Tôn, … thì gọi là chùa Tổ. Có lần chúng tôi vào lễ Tổ ở
chùa Quốc Ân, thầy Trụ trì ở đó viết một tấm biển nhỏ đề Đại Tổ
đình Quốc Ân. Chúng tôi nhìn nó, suy nghĩ nhiều và không dám
bình phẩm. Chỉ biết
vào chùa lễ Tổ rồi quay về. Truyền thống ở Huế, nếu đúng là ngày
Kỵ Tổ, Tăng chúng không ai bảo ai tất cả đều quy tụ đầy đủ. Quý
Ôn lớn, quý Thầy lớn khi đến kỵ Tổ thì ở hai liêu bên hông chánh
điện. Ngày Kỵ Tổ của ngài Nguyên Thiều ở Quốc Ân vào thập niên
60, 70, chúng tôi hầu Thầy vào kỵ ở đó thì thấy các Ôn các Thầy
đủ cả. Hàng lớn nhất có Ôn Thuyền Tôn, Ôn Tây Thiên, Ôn Từ Hiếu,
Ôn Tường Vân; kế đến là Ôn Linh Mụ, Ôn Trúc Lâm… Trong số quý Ôn
đến kỵ Tổ thì Ôn Trúc bao giờ cũng là người đến sớm nhất. Nơi
nào có Ôn Trúc thì con cháu, các thầy cô đều có mặt rất sớm vì
sợ Ôn gặp mặt là nhắc nhở. Riêng ở Trúc Lâm, kỳ Kỵ nào cũng rất
đông con cháu. Đông nhất là Ni bộ. Các Sư bà bao giờ cũng cho
các cô qua lo trước đó vài hôm. Mua sắm các thứ, dọn dẹp vệ sinh,
quét tước rất chu đáo. Ôn thường đi lên, đi xuống kiểm tra, hỏi
han rất thân tình. Dặn dò xong Ôn lên ngồi trên phòng khách.
Khách đến thì Tăng cũng như tục đều được Ôn tiếp rất vui vẻ.
Trái với khi Ôn ra khỏi chùa. nghiêm nghị… không những ở Trúc
Lâm Ôn săn sóc như thế mà ở các tổ đình lớn
khi có kỵ giỗ Ôn cũng quan tâm, lo lắng như vậy, nhất là
Túy Vân khi Ôn còn làm trú trì. Thật là một sự lo lắng hiếm có
đối với một vị Trưởng lão đạo cao đức trọng như Ôn. Từ việc
trong chùa như kỵ giỗ, đến việc Giáo hội dưới thời của Ôn bao
giờ Ôn cũng lo rất chu đáo.
Về cuộc sống của Ôn như việc ăn mặc, y áo cho đến chỗ ngủ,
nghỉ trong liêu của Ôn cũng rất đơn giản, không cầu kỳ, không
sang trọng quá, nếp sống thiền môn đã trang bị cho Ôn một nếp
sống như vậy.
*
Có một lần
Giáo hội cử Ôn đi dự lễ ở Nhật, Ôn kể: Khi chuẩn bị hành lý, vì
gấp quá nên Ôn quên không thay đôi dép mới mà mang đôi dép quá
cũ. Khi qua Nhật ra phố mua được một đôi mới để thay đôi cũ. Ở
khách sạn Ôn thay xong và để đôi dép cũ lại ở đó. Tưởng thế là
xong. Nào ngờ, khi Ôn di chuyển qua khách sạn khác được một hôm,
thì Ôn liền nhận được cái hộp do Bưu điện chuyển đến, mở ra thì
chính đó là đôi dép cũ mà Ôn quên bỏ vào giỏ rác. Khách sạn cũ
họ tưởng là Ôn quên. Kể từ chuyến đi ấy, khi về chùa Ôn có sự
thay đổi hẳn. Nhà vệ sinh, buồng tắm… Ôn đều cho xây cất mới hết.
*
Cuộc sống
của Ôn Trúc là bản sao của nếp sống thiền môn ở Huế. Ôn không có
bằng cấp Đại học ở đời, nhưng những vị Tiến sĩ từ Sorbonne như
thầy Thiện Châu, ở Nhật như thầy Thiên Ân, ở Mỹ như thầy Mãn
Giác, khi gặp Ôn ai cũng thi ân và đảnh lễ. Cách tu cũng như học
thức của Ôn trong đạo ít ai sánh bằng.
*
Những ngày cuối
đời ở tuổi 85, mặc dù biết mình lâm trọng bệnh khó qua, nhưng Ôn
vẫn tỉnh táo, dặn dò con cháu và các Thầy trong Ban Trị sự Giáo
hội về những Phật sự phải làm và hãy cố chu toàn các Phật sự mà
Giáo hội đã giao phó. Thật là một bậc Long tượng có một không
hai ở đất thần kinh có một cuộc sống nghiêm túc như Ôn.
Kính
bái,
Ghi chú :
(*) : Lấy ý kinh
“Nước
trong bốn biển chỉ có một vị
là vị mặn,
giáo lý Ta dạy chỉ có một vị là
vị giải thoát”.
(xem tiếp)
Please press HOME
to go back to the main web page
HOME