|
NHẬN THỨC LUẬN
Làm sao ta biết vũ trụ thực có chứa đọng
một bản thể bất sinh bất diệt, bất di bất dịch, và trí thức con người ta có thể
hiểu cùng tột được bản thể ấy không ?
Nghiên cứu đến vấn đề ấy tức là nghiên cứu đến vấn đề nhận thức.
Nói theo triết học là nghiên cứu tính chất và bản nguyên của trí thức của
ta do đâu mà có, nó đáng giá bao nhiêu, và ta có thể dung lý trí ấy, để đạt đến
mục đích trên còn đường đi tìm chân lý không ?
Xét về
nhận thức luận, ta có thể xét các vấn đề:
bản chất của trí thức - nguồn gốc giúp trí thức phát triển - hiệu lực của
trí thức.
A.- Bản chất của trí thức
Về vấn đề
này, các triết học Âu Tây, một phái cho rằng trí thức bởi tiên thiên
(apriorisme).
Một phái khác quá thiên về khoa học, chủ trương trí thức do kinh nghiệm
(empirisme)
đem lại.
Về Phật
giáo, tuy có phái Tiểu thừa cũng chủ trưởng trí thức do ảnh hưởng ngoại cảnh,
nhưng đồng thời cũng chủ trương nghiệp cảm duyên khởi, nghiệp lực của ta trong
đời này, sẽ mang lại cho ta một đời sống khác về trong tương lai.
Như thế
thì đối với vấn đề trí thức có hơi mơ hồ, chưa đúng với tinh thần Phật giáo.
Đến khi Đại thừa Phật giáo, nhất thiết chủ trương bản thể vũ trụ chứa đầy
sẳn một linh thức, mà linh thức ấy là một năng lực rất hoạt động và sang hóa.
Nên tính biết của ta bao giờ cũng nằm sẵn trong tâm ta, mà những cái cảm
xúc bên ngoài chỉ là để gọi đây tác dụng phân biệt của trí biết ấy.
Chính đức
Thích Ca sau mấy năm tu luyện, khi mới thành đạo ở bên gốc cây Bồ-đề, Ngài liền
tuyên bố : “Tất
cả chúng sanh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai.”
Vậy trí tuệ ấy là bản chất của trí thức.
Những danh từ “trí
Bát-nhã trí căn bản” hay
“giác tính” ở trong các kinh luận thường dung là để chỉ cho trí
thức sẵn có ấy của chúng ta. Song ta
nên hiểu, không phải nó đồng loại với thuyết tiên thiên của các triết học.
B.- Nguồn gốc giúp trí thức phát
triển
Tuy nhiên
trí thức ấy cũng phải nương và cái học gì, kinh nghiệp gì để cho được phát triển
rộng rãi, dồi dào, đặng giúp ta trong công cuộc tìm hiểu chân lý.
Đối với vấn đề này Phật giáo cho trí thức do ba nguồn mà ra:
Hiện lượng, Tỉ lượng, và Thánh giáo lượng.
Hiện
lượng ta có thể phân biệt làm hai.
Một là do thánh trí thấu suốt sự vật bằng cách trực giác khi tâm đối cảnh bên
ngoài, cũng như ở trong định. Đây là
tác dụng của trí tuệ những bậc có tu tập thiền định, đến một mức cao hay những
bậc đã thân chứng chân lý như Phật, Bồ-tát mới có; còn một phần nữa, mà đây chỉ
là hiện lượng hay trực giác phổ thông, gồm cảm giác và tri giác, do kinh nghiệm.
HIện
lượng gồm có cảm giác và tri giác, do kinh nghiệm hàng ngày đem lại.
Ví dụ như màu xanh, vàng, đỏ, trắng của các sắc; hình dài, ngắn, vuông,
tròn của cái thước; cho đến lửa nóng, nước mát, gió rung chuyển v.v… trong mỗi
vật đều có tự tướng riêng biệt của nó.
Trong khi ngũ quan ta đối với cảnh trực nhân các cảnh hiện tiền, thân
chứng được tự tướng của nó, không còn phải suy nghĩ so lường, mà vẫn xác nhận
được rõ ràng, không sai lầm chút nào.
Sách Tôn cảnh dục có dẫn lời giải về hai chữ Hiện lượng:
Hiện là hiển hiện, lượng là đo lường, cũng có nghĩa là xác định, nghĩa là
trong khi tâm mình đối cảnh, không lượng danh ngôn, không dung tâm đo lường mà
vẫn trực nhận pháp thể, xác nhận rõ rang không có phân biệt mê lầm.
Vậy hiện lượng là một tác dụng trí thức rất cần thiết, nếu cái trí thức
đầu tiên ấy, nghĩa là trong hiện lượng mà ta nhận sai sự vật, thì bao nhiêu trí
giả suy lý tiếp theo đều hỏng cả.
Tỷ lượng
gồm phán đoán và suy lý, tức là tâm lý giác ở sau hiện lượng, nghĩa là đối với
mọi vật gì, vấn đề gì, mà ở trí thức ta chưa từng có, quan niệm rõ rệt nên cần
phải có sự tỉ giáo mới phán đoán biết rằng:
Tất thảy cái gì do công năng tạo tác mà có ra đều giả dối vô thường, như
những bình, bàn v.v… và do đó ta cũng xét biết thân người do khí huyết cha mẹ
sinh ra, cũng không phải cái thường còn mãi mãi.
Bất cứ
một sự vật gì, hoặc một vấn đề gì, sau khi ta đã dùng lý trí mà tỉ giáo, phân
biệt để nó tạo thành ở ta một khái
niệm rõ rệt chắc chắn, không còn cái gì có thể lừa gạt ta được nữa.
Tuy nhiên
nhiều khi vì trí tuệ không được sáng suốt, tỉ giáo không đúng sự vật, không giỏi
về phương pháp luận lý, tri thức có thể đưa ta đến chỗ sai lầm nguy hiểm, nhận
thực không đúng chân lý; gọi là
“phi lượng”
(chỗ này trong
quyển Triết học Phật giáo của Phan
Văn Hùm tiên đoạn nói về nhận thức luận, Phan tiên sinh đã hiểu lầm hai chữ
“phi lượng” mà đặt cho nó một giá trị
rất lớn ; biết được thế chỉ nhờ
“phi lượng.”
Đại ý về một đoạn văn trong đó tiên sinh cho hiện lượng và tỉ lượng không
thể thân chứng được tự thể của vật, mà chỉ có
“phi lượng” tức phi trí thức mới hiểu
được “thực thể” của vật mà thôi.
Tiên sinh còn dẫn câu “tình có lý không” để giải thích thêm vào làm chứng cứ cho nghĩa đó,
chẳng hay câu ấy tiên sinh cũng lại lầm nốt.
Do những câu sai lầm ấy, khiến tiên sinh
phải lúng túng nhiều trong câu văn và đối với nhận thức của Phật giáo tiên sinh
mơ hồ, và đi đến một lầm lỗi lớn).
Ngoài tỉ
lượng, hiện lượng còn có thánh giáo lượng, cũng là một yếu tố đem lại cho trí
thức ta nhiều chứng thực mà nói ra, ta căn cứ vào đấy làm tiêu chuẩn, để tỉ giáo
phán đoán, tìm hiểu chân lý, hoặc khi dùng nó làm bằng chứng cho một kết quả do
trí thức ta tỉ giáo mà biết được.
Để làm
qui củ cho phép luân lý, Trần-na Bồ-tát
(jina Bodhisattva) canh tân nền luận lý
học ở Ấn Độ (tức
Nhân minh học) dùng ba phương thức, tức là ba phép
(tam chỉ) :
Tôn, nhân, dụ để tỉ lượng trong khi xét lập luận đối với người.
Tôn nghĩ
là gốc, nhân là lý do, dụ là ví dụ như ba câu dưới đây dùng nhiều trong các sách
về nhân minh.
1.-
Tôn :
trên núi kia có lửa
2.-
Nhân :
bởi vì có khói
3.-
Dụ :
phàm chỗ nào có khói tất có lửa, như ỏ bếp lò.
Trong
sách Nhân minh ngài Trần-na còn nêu lên bao nhiêu các lối thuộc về tôn, nhân, dụ
để cho người học biết mà tránh khỏi trong khi suy lý lập luận.
Người nào rành về cách thức suy lý, tránh khỏi cái lỗi thuộc về tam chỉ
ấy, tự nhiên có nguồn trí tuệ rất dồi dào, có tài hùng biện rất giỏi, do đó để
tìm hiểu chân lý ở mọi sự vật, đặng giúp cho cả hai phần là tự ngộ và ngộ tha.
(Giác
ngộ cho mình, và giác ngộ cho người khác).
Phép Tam
chỉ trên đây không khác gì pháp Tam đoạn luận thức của triết học, chẳng qua đổi
ngược lại, ví dụ:
Pháp Tam đoạn luận
1.-
Đại tiền đề :
Hễ chỗ nào có khói tất có lửa
2.-
Tiểu tiền đề :
Trên núi kia có khói
3.- Đoạn án :
Vậy trên núi kia có lửa
Chẳng hạn như ba câu dưới đây hay dùng
trong các sách luận lý học :
1.-
Người nào cũng có lúc chết.
2.-
Socrate là người
3.-
Vậy Socrate phải có lúc chết
Nhưng theo Nhân minh tam chỉ thì lại
đổi là :
1.-
Socrate phải có lúc chết
2.-
Vì Socrate là người
3.-
Ví dụ : như người khác
Trong đây
chỉ khác là thí dụ ở tam chỉ, tam đoạn luận đe làm đại tiền đề, mà câu thuộc về
tôn là nghĩa gốc thì đem làm đoạn gốc vậy.
Trên đây
theo nhận thức luận ta đã xét qua bản chất và bản nguyên của trí thức, và chúng
tôi cũng có dịp nói đến phép luận lý về nhân minh cùng so sánh sự giống nhau của
nó với pháp tam đoạn luận. Đến đây
ta bàn đến giới hạn và hiệu lực của tri thức, nghĩa là có một phương pháp tỉ
giáo suy lý như thế rồi thì nó có ích gì và trí thức ta sẽ biết đến đâu.
C.-
Hiệu lực của trí thức
Theo Phật
giáo, bản chất của trí thức đã là một năng lực chứa đựng sẵn trong tâm chúng ta,
ta chỉ làm sao cho nó được phát triển mạnh lên mà thành trí tuệ vô biên, nên trí
thức rất có ích cho ta trong việc tìm hiểu sự vật và nó sẽ hiểu biết cùng tột
đến bản thể chân lý. Chẳng qua ta
phải lìa bỏ cái trí thức bên ngoài theo phép Tỉ giáo luận lý, sau khi ta đã biết
và dùng nó, nghĩa là muốn biết trí tuệ ta biết đến đâu và để đạt mục đích thân
chứng bản thể chân lý, ta phải xây lại với mọi hoàn cảnh giả dối bên ngoài, để
tìm vào trí tuệ tình cảm bên trong của ta.
Hiện lượng (nói nghĩa phổ thông do kinh nghiệm hàng ngày đưa lại) và tỉ
lượng cho ta biết những cảnh sai biệt, do năm giác quan đem lại, chứ không thể
đưa ta đến bản thể vô biên và tuyệt đích.
Nếu ta cứ theo đuổi, cái danh cái nghĩa của sự vật bên ngoài mà tỉ giáo
suy lý mãi, thì không bao giờ đạt được đích của sự hiểu biết, mà cũng không bao
giờ ta thân chứng hay ngộ nhập được bản thể chân lý.
Không gì
hơn ta cứ nắm lấy cái gốc tìm hiểu ngay bản thể của tâm ấy.
Khi ta có một công phu đặc biệt phát minh trí tuệ, đến chỗ cùng tột, nhập
cùng lý thể, lý và trí hợp nhất, đến đây mới thực chân chứng bản thể.
Bấy giờ
cái biết không phải thuộc về ngũ quan nữa, mà là
“tâm biết,” ngũ quan chỉ là cửa sổ để
cho tâm ở trong nhìn ra mà thôi, đem tâm ấy mà chiếu vào sự vật, thì tất thảy
đều thông suốt, không gì ngăn ngại.
Trước đây
hơn 2500 năm đức Phật đã cho ta biết vũ trụ là động, muôn vật luôn luôn biến
chuyển đổi vời; cùng trong một bát nước có vô số vi trùng, trong mỗi vật chất có
một năng lực rất lớn, giữa vũ trụ có sự liên quan chằng chịt với nhau, trong vũ
trụ có vô số thế giới, mỗi thế giới có một hình thức không giống nhau . . .
Luận Duy
thức nói : “Tâm
sở hữu tính chư pháp, nhất thiết tính, nhất sở hữu tính, chư pháp chân như tính”
– nghĩa là : (cùng
tột tính sở hữu của các pháp, đúng như tính sở hữu ấy, tức là tính chân như của
các pháp) nghĩa là
“chân lý.”
Nếu trong
nhận thức có hai phần là tuyệt đối và tương đối.
Trong tuyệt đối hẳn không còn có tương đối, không thấy có người có mình;
có muôn vật sai khác, là cảnh ly ngôn không phân biệt cái biết và cái bị biết,
đều lặng yên, chỉ một bản thể như như bình đẳng, không hình tướng, không tông
tích như trong kinh Bát-nhã nói : “Vô
trí diệt vô đắc,”
trong kinh Lăng Già nói : “Viễn
ly giác sở giác.” Còn
về phần tương đối, thì tri thức vẫn thấy đủ muôn vật, phân biệt theo đúng tính
sở hữu của nó, như trong kinh nói : “Trí
Phật cùng khắp thế giới,” soi thấu các cơ
(căn cơ của
chúng sinh) biết rõ sự vật, cho đến con cò vì sao mà trắng, con quạ
vì sao lại đen, Phật đều biết rõ nguồn gốc ngành ngọn.
Đến cả vũ trụ mênh mông, vô số thế giới, trong mỗi thế giới có vô số
chúng sinh, căn cơ khác nhau, chí hướng khác nhau, Phật đều biết rõ.
Một đức Phật như vậy, ngàn muôn đức Phật cũng vậy, cho đến người nào thấy
được bản thể cũng đồng một trí tuệ như vậy, chẳng kém chút nào.
Trong
kinh Phật dạy
:
“Tất thảy chúng sinh đều có trí tuệ đức tướng Như Lai” -
lại nói
:
“Tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật.” – Thành Phật là
nghĩa thế nào? Tức là chỉ rõ
trạng thái giác ngộ, ngộ nhập bản thể chân lý vũ trụ.
*
* *

Please press HOME
to go back to the main web page
HOME
|