PHẦN VI:
LINH-MỤC
TRẦN HỮU THANH
&
TỔNG-GIÁM-MỤC
NGUYỄN VĂN THUẬN
NÓI GÌ VỀ VỤ NÀY ?
I/
TIỀN-ÐỀ :
Đức-Mẹ Hiện Ra Tại La-Vang
Vào Lúc Nào,
Trong Hoàn-cảnh Nào ?
A) TÀI-LIỆU :
1- Theo L'Osservatore Romano, “tháng 8-1798, triều-thần
của vua Cảnh-Thịnh (Tây-Sơn)
ra lệnh đàn-áp Ky Tô Giáo. Giáo-dân cùng với gia-đình chạy trốn vào rừng La Vang ... Một hôm, Đức Mẹ hiện ra.”
2- Theo Nguyễn Lý Tưởng, “vua Cảnh-Thịnh đã ra mật-lệnh
cho các địa-phương hẹn đến tháng 5-1798 sẽ bắt và giết
tất cả giáo-dân cũng như linh-mục, không để sót người nào ... Dân
theo đạo ở các làng Trí Bưu, Thạch Hãn, Hạnh Hoa
bèn chạy vào miền núi vùng La Vang để ẩn
núp. Chính trong thời-gian đó, Đức Mẹ đã hiện ra với họ.”
3- Theo Trần Văn Trí, “năm 1798, đời Cảnh-Thịnh, giáo-dân phải trốn tránh vì những lệnh bắt giáo-sĩ, thu ảnh-tượng, rỡ nhà thờ, đàn áp giáo-dân ...
là năm Đức Mẹ hiện ra ở La Vang.”
B) NHẬN XÉT :
Không kể một số chi-tiết
khác nhau, ta hãy căn-cứ vào bài thuyết-giảng của tổng-giám-mục Nguyễn Văn Thuận tại Anaheim Convention Center (Nam California) hôm 22-2-98 “mỗi lần Đức Mẹ hiện ra nơi nào là để báo trước một biến-cố sắp-sửa xảy đến cho nhân-loại” để hiểu ý của ông rằng :
ĐỨC-MẸ HIỆN
RA TẠI LA-VANG VÀO THÁNG
8-1798
DƯỚI TRIỀU
VUA CẢNH-THỊNH LÀ LÚC
GIÁO-DÂN
VIỆT NAM SẮP (CHƯA) BỊ ĐÀN-ÁP KHỐC-LIỆT.
Đó là Chính-Đề.
II/
PHẢN-ÐỀ :
Quan-Điểm Của Linh-Mục Trần Hữu Thanh
Báo “Mẹ Việt-Nam”, số 102 ra ngày 15-8-98, có đăng bài “Thử Xác-Định Thời-Điểm Và Hoàn-Cảnh Sự Việc Đức Mẹ Hiện
Ra Ở La Vang” của linh-mục Trần Hữu Thanh,
trong đó có đoạn :
Ba anh em Tây Sơn biết
rõ Đức Giám-Mục Pigneau ủng-hộ Nguyễn Phúc Ánh, hại mình; và các thừa-sai, linh-mục
bản-quốc đều ngả về phía Nguyễn Phúc Ánh; nhưng
chắc-chắn là vì chính-trị cao, không muốn gây thêm thù, và giữ tình đoàn-kết quốc-dân,
họ không ngược-đãi các thừa-sai, trái
lại còn ban cho nhiều ân-huệ (CGDT, tr. 18,19) và để người
Công-Giáo tự-do.
Mặc dù có kể ra hai
vụ cấm đạo, nhưng Lm Trần Hữu Thanh khẳng-định
rằng các anh em Tây Sơn nói chung, vua Cảnh-Thịnh
nói riêng, và đặc-biệt là cuộc bắt-bớ đạo vào năm 1798,
thật ra không có quá ác như nhiều người nghĩ. Bài viết của Trần Hữu Thanh chú-trọng nghiên-cứu phân-tích thời-điểm
và hoàn-cảnh của việc Đức Mẹ Hiện Ra Tại La Vang.
I/ THỜI-ĐIỂM
:
A) TÀI-LIỆU :
Lm Trần Hữu Thanh viết : “Việc bố ráp ở Huế xảy ra
ngày 7-8-1798. Sắc-chỉ bắt đạo được ban-hành 10 ngày sau, là vào ngày 17-8-1798. Cơn bách-hại kéo dài độ một
tháng, là từ
khoảng 17-8-1798 đến 17-9-1798.”
B) NHẬN XÉT :
Dù đã bắt đầu viết rằng “Đức
Mẹ hiện ra ngày tháng năm nào ? Không sử-sách nào ghi
chép rõ!” linh-mục Trần Hữu Thanh vẫn kết-luận: “Như thế ta có
thể xác-định việc Đức Mẹ hiện ra tại La Vang
là vào khoảng 17-8 đến 17-9-1798. Ta không thể xác-định chính-xác hơn
ngày giờ Đức Mẹ hiện ra, nhưng xác-định được tháng năm
và khung-cảnh Đức Mẹ hiện ra ...”
Thế là linh-mục Thanh (mặc dù
"không sử sách nào ghi chép rõ") đã xác-định được cả thời-điểm Đức Mẹ
hiện ra (trong lúc các nhân-vật khác không xác-định được).
II/ HOÀN-CẢNH:
A)
TÀI-LIỆU:
1- Về La Vang dưới thời chúa Trịnh
(1774-1786), linh-mục Trần
Hữu Thanh viết:
Theo các thừa-sai
viết lại, các quan cao-cấp chúa Trịnh gởi vào là người Công Giáo, ít ra là thân
Công-Giáo, nên suốt thời-gian này không có việc bắt đạo
(CGĐT tr. 0 và tr. 62). Chỉ có một sắc-chỉ cấm đạo ngày 3-12-1778. Nguyên-nhân có thể do các thanh-tra Đàng Ngoài
khiển-trách
các quan-chức quá dung-dưỡng người Công Giáo. Và cũng có thể vì sự việc một
tàu nước Anh đã vào buôn bán ở Cửa Hàn, đã bắn phá các pháo-đài của quân-đội,
nên chính-quyền tức giận đã ra lệnh cấm đạo. Vì người thời đó đồng-hóa mọi
người Âu Châu với Công Giáo. Cả hai nguyên-do cấm
đạo đều hời-hợt, chỉ hạn-chế trong vùng vịnh
Đà Nẵng, nơi xảy ra sự việc quân Anh bắn phá
vùng quanh thị-xã Huế, và chỉ qua-loa trong vài ngày (CGĐT tr. 63). Ngày 8-1-1779, một năm sau, cũng có một chỉ-thỉ cấm đạo nữa. Nhưng
người
ta không áp-dụng các hình phạt của chỉ-thị, nên các giáo-hữu vẫn sinh-hoạt như thường (sđd 64).
Như thế thì hai cuộc bách-hại trên không có ảnh-hưởng
đến tỉnh Quảng Trị (Tỉnh của La Vang).
2- Về cuộc bắt đạo
chủ-chốt tại La Vang năm 1798, Lm Thanh viết :
Ngày 7-8-1798 giữa trưa, 4 toán lính đột-nhập vào 4 họ đạo ở
thành-phố Huế. Tại họ Phường Đúc đã bắt được linh-mục Emmanuel Nguyễn Văn Triệu là linh-mục hoạt-động ở Đàng Ngoài về quê thăm mẹ (bị bắt
trong cuộc bố ráp 7-8-1798, bị hành-quyết ngày 17-9-1798), và : Mười ngày sau cuộc bố ráp đó, vua Cảnh-Thịnh đã ban-hành một sắc-chỉ truyền phá hủy tất
cả các nhà thờ, tất cả các nhà ở của các linh-mục và bắt tất cả những ai có thể
bắt được. Cuộc bách-hại này xảy ra dữ-dội.
Phản-ứng của Cảnh Thịnh là phản-ứng của con người
dẫy chết, và binh-sĩ của ông cũng thấy mình tận-số nên hung-hăng đốt-phá cướp-bóc
chém-giết. Và :
Chắc việc tàn-sát bắt-bớ rất hung-bạo. Nhưng phải là cơn bắt đạo đột-ngột và ngắn ngày.
Vì đột-ngột nên người ta chỉ lo sao tránh mặt
quan, chứ chưa phải tìm nơi định-cư tuyệt-đối an-toàn. Vì Cổ-Vưu chỉ xa La Vang độ 4 cây số,
nghĩa là chỉ vào sâu trong rừng độ 3 cây số ...
Và cơn bắt đạo ngắn ngủi. Vì các sự việc kể lại chỉ xảy ra trong vài ba tuần, một tháng. Không thấy nói người
Công Giáo chuyển vào sâu, đi nơi khác, hay là cố-định cuộc sống, mà như sau
đó là trở về lại
cố-hương.
B) NHẬN XÉT :
1- Về chính-quyền họ Trịnh ở Dinh
Cát thời-gian 1774-1786, Trần Văn Trí đã “ghi lại những nét chính yếu góp
nhặt từ các tài-liệu đã được phổ-biến về Đức Mẹ La-Vang” và đã viết trong
bài “Tinh-Thần La Vang” đăng trên báo
“Thằng Mõ” số 832 như sau :
Đại-tướng Ngô Cầu được bổ vào
cai-trị từ Bình Trị Thiên vào Nam.
Từ 1778-79, nhiều
giáo-dân bị giết, ruộng đất bị chiếm đoạt, tài-sản bị tịch-thu ...
Trần
Văn Trí thì dựa vào các tài-liệu "đã được phổ-biến" mà viết rằng
có nhiều giáo-dân trong hạt Dinh Cát (Quảng-Trị),
bị giết, trong lúc linh-mục Trần Hữu Thanh thì dựa vào các thừa-sai mà viết rằng trong suốt thời-gian họ Trịnh chiếm đóng (gồm cả Quảng Trị) không có việc bắt đạo.
2- Về cuộc bách-hại
của vua Cảnh Thịnh, Nguyễn
Lý Tưởng viết : “Năm 1797, dưới triều vua Cảnh
Thịnh, nhân khi thủy-quân của Nguyễn Phúc Ánh
ra tận cửa bể Tư Dung (Tư Hiền) của tỉnh Thừa Thiên, một vị quan đề-nghị bắt hết người Công
Giáo và các linh-mục. Vua Cảnh-Thịnh im lặng
không trả lời nhưng sau đó đã ra mật-lệnh hẹn đến tháng 5-1798 sẽ bắt và giết tất cả giáo-dân cũng như linh-mục không để sót
người nào.”
Trần
Văn Trí viết : “Cảnh Thịnh bắt
được một lá thư của Nguyễn Ánh gửi cho Đức Cha Gioan
Labartelle, nên
nghi-ngờ Công Giáo thông-đồng với kẻ thù của mình. Ngày 7-8-1798, vua ra lệnh tấn-công mấy họ đạo ở Phú Xuân và cả vùng Cổ Vưu, Quảng Trị.
Cha Emmanuel Triệu đã ra nạp mình với quân Tây Sơn và bị tử-hình ngày
17-9-1798.”
Như thế tức là biến-cố 1798 đã được vua Cảnh
Thịnh dự tính trước từ năm 1797, nhất là
sau khi (theo Trần Văn Trí) “bắt được bức thư của Nguyễn Phúc Ánh gửi giám-mục De
Labartelle” và (theo chính Lm Thanh) “Nguyễn
Phúc Ánh đem quân ra đánh Qui Nhơn và
còn ra tận Đà Nẵng, có giám-mục Pigneau và hoàng-tử Cảnh
tháp-tùng (theo Nguyễn Lý Tưởng :
thủy-quân của Ánh đã ra tận cửa bể Tư Hiền của
tỉnh Thừa Thiên), chính vì thế nên Cảnh Thịnh và triều-đình Huế
phản-ứng mạnh.”
Trong lúc đó, theo linh-mục
Trần Hữu Thanh thì: “Ta hãy đối-chiếu với lịch-sử, Miền
Trung nói chung và Thừa-Thiên+Quảng-Trị
nói riêng, trong khoảng từ 1750 đến 1800 là trên dưới 100 năm đối với thời
sau 1885 để nhận ra cơn cấm đạo nào có những
tính-cách nói trên (nghiêm-ngặt, ác-liệt, việc tàn-sát bắt-bớ rất hung-bạo).”
Vì chỉ chọn khoảng từ
1750 đến 1800, mà ông tính là trên dưới 100 năm, Lm Thanh
đã kể ra vài vụ cấm đạo khác để chứng-minh rằng vụ
17-8-1798 (trước thời Hàm-Nghi 1884) là “chắc
rất hung-bạo”, nghĩa là “đến nỗi Đức Mẹ phải hiện đến với giáo-dân để an-ủi họ.”
Đây
là sự tự mâu-thuẫn lớn nhất của linh-mục Trần Hữu Thanh, ngoài sư mâu-thuẫn với các tác-giả khác.
a. Đã viết “một
cơn bắt đạo nghiêm-ngặt”, “chắc việc tàn-sát bắt-bớ rất hung bạo”, “cơn bách-hại
này xảy ra dữ-dội”, thế mà linh-mục Thanh lại
viết : “Nhưng phải là cơn bắt đạo đột-ngột và
ngắn ngày.” Nguyễn Lý Tưởng viết : “Quan thượng-thư Hồ Công Diệu đã báo tin đó cho Đức Giám-Mục Jean De Labartelle lúc đó đang trốn tránh ở làng Di Luân (Loan), xa
Huế chừng 90 cây số. Tin đó được loan truyền ra
trong giới Công Giáo và dân theo đạo ở các làng... bèn chạy vào miền núi
vùng La Vang để ẩn núp.”
Thế thì “đột-ngột” chỗ nào ?
b. Còn về “ngắn ngày” thì Lm Thanh
viết : “cơn bắt đạo ngắn-ngủi, các sự việc kể lại chỉ xảy ra trong vài ba tuần, một tháng. Không thấy nói người Công Giáo chuyển vào sâu, đi
nơi khác, hay là cố-định cuộc sống, mà như sau đó là trở về lại cố-hương,”
và giải-thích: “dân-chúng miền Trung vẫn trung-thành với các chúa Nguyễn, và
cho Tây Sơn là loạn-quân, nên họ không sốt-sắng gì với
lệnh bắt đạo này. Chúng ta lại thấy các người lương-dân giao-tiếp
với người Công Giáo tị-nạn một cách bình-thường, không dọa-nạt hay dò-xét để tố-cáo
họ, bắt họ nộp cho quan để lấy thưởng.”
Vậy thì có gì là tính-cách “nghiêm-ngặt, hung-bạo, dữ-dội”
của biến-cố này ?
Linh-mục Trần Hữu Thanh, vì muốn chứng-tỏ là Ky Tô Giáo tốt đẹp,
được lòng đồng-bào bên lương, triều-đình Cảnh-Thịnh
phi-nghĩa nên không được dân tuân theo ... nên đã
làm phai loãng mất hoàn-cảnh và ý-nghĩa thích-đáng của việc "Đức Mẹ hiện
ra".
*
* *
Trở lại với câu nói của
giáo-hoàng John Paul II, rằng Ky Tô Giáo đã bị bách-hại trong suốt 300 năm truyền-giáo tại
Việt Nam, ta hãy làm cùng một việc với linh-mục Trần
Hữu Thanh, là “thử xác-định thời-điểm và
hoàn-cảnh” của mỗi sự-việc để nhận ra cơn bắt
đạo nào trong 300 năm ấy là thật-sự ngặt-nghèo.
Theo Nguyễn Văn Thông trong bài
“Sự-Kiện La Vang : Trang Sử Tử-Đạo” thì :
“Vua Hàm-Nghi (1884-1885) khai-sinh phong-trào Cần Vương. Trong cả giáo-phận Tây Đàng Ngoài có 3 linh-mục, 25 chủng-sinh và thầy-giảng,
và hàng trăm bổn-đạo bị giết, 107 họ đạo bị phá hủy. Tại Nghệ-An ... đã
có khoảng 4.500 bổn-đạo bị giết và 300 họ đạo bị phá hủy. Ở Bình-Chính, chúng đã đốt phá 59 họ đạo, giết khoảng
600 người. Ở Thanh-Hóa, có đến độ 100 họ
đạo bị tàn-phá. Ở Hà-Tĩnh có đến 6.000
giáo-dân chết vì giặc. Ở Quảng-Ngãi, Cần-Vương
giết 3 thừa-sai, đốt-phá 100 họ đạo, giết hơn 6.000 giáo-dân. Ở Bình-Định cũng 3 thừa-sai bị giết, 150 họ đạo bị đốt
phá. Giáo-phận Qui Nhơn có 24.298
giáo-dân, bị Cần-Vương tàn-sát chỉ còn lại khoảng 20.000 người. Làng Dương-Lộc bị tàn-sát tập-thể, khoảng 4 linh-mục,
50 nữ-tu,
và khoảng 2.500 giáo-dân ...”
Như thế, so với
những thời-điểm và hoàn-cảnh này thì La Vang (1798) đâu
đã thấm gì ? Vậy là La Vang chưa phải là vụ bức-hại giáo-dân khốc-liệt
nhất tại Việt-Nam:
ĐỨC-MẸ ĐÃ
KHÔNG HIỆN RA (NẾU CÓ)
ĐỂ AN-ỦI,
CHE-CHỞ GIÁO-DÂN LÚC ĐÓ
MÀ LÀ ĐỂ BÁO TRƯỚC NHỮNG HOÀN-CẢNH
BI-THIẾT HƠN, SẼ XẢY SAU VỤ
LA-VANG
Đó là Phản-Đề (theo Linh-Mục Trần Hữu Thanh) :
CƠN BẮT ĐẠO TẠI LA-VANG NĂM
1798
CHỈ LÀ MỘT CUỘC BỐ RÁP NGẮN-NGỦI,
GIÁO-DÂN SAU ĐÓ AN-TOÀN TRỞ VỀ LẠI CỐ-HƯƠNG
III/
TỔNG-HỢP-ÐỀ :
Tin ai
bây giờ ?
Linh-mục Trần Hữu Thanh là một nhân-vật Ky-Tô-Giáo quan-trọng
nổi bật từ thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa của Miền Nam. Ông được xem là "ngôn-sứ" của “chủ-nghĩa nhân-vị” vốn là xương
sống của
đời sống chính-trị và ý-thức-hệ của cố tổng-thống Ngô
Đình Diệm. Ông là Giám-Đốc Trường
"Nhân-Vị", nơi mà các viên-chức cao-cấp dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa đều
phải đến học.
Ðối với đa-số giáo-dân dưới thời Ðệ-Nhị Cộng-Hòa,
ông là linh-hồn của phong-trào và các nỗ-lực nhằm lật đổ tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu, nên lời ông nói và bài ông viết có
trọng-lượng hơn các giáo-sĩ khác.
Ngoài ra, sau quốc-nạn 30-4-1975, tổng-giám-mục (sau này là hồng-y) Nguyễn Văn Thuận được xem như là cái phao tôn-giáo và chính-trị cho một
số đông người đắm tàu.
Theo lời ông giảng thì Ðức Mẹ "hiện ra" tại La Vang (1798) không phải là để an-ủi
hay che-chở cho các giáo-dân ngay trong thời-điểm ấy, vì cuộc bắt đạo đã bắt đầu rồi, họ đã chạy trốn vào La
Vang rồi, và họ đã van vái hằng ngày một thời-gian rồi, rồi Bà linh-thiêng mới
hiện ra (tham-chiếu "L'Osservatore Romano"
ngày 12-8-1998, Trần Văn Trí trên "Thằng Mõ" ngày 28-3-1998, Nguyễn
Lý Tưởng trên "Mẹ Việt-Nam" ngày
15-8-1998, v.v...), mà là để báo trước một biến-cố (hẳn là
phong-trào Cần-Vương) sắp-sửa
xảy đến cho nhân-loại (giáo-dân Việt-Nam), bắt đầu từ khi vua Hàm-Nghi
lên ngôi
(1884-1885), tức sẽ xảy đến trong hơn 86 năm về sau.
Xin để tùy mỗi người tự rút ra từ đó một Tổng-Hợp-Đề.