Please press HOME to go back to the main web page

HOME
Kỷ Yếu Tổng Vụ Cư Sĩ 2003


Đọc Sách “Tuệ Sỹ”

 

Của Nguyên Siêu

 

Chú Thích :  Nguyên Siêu là Thượng Tọa trụ trì chùa Pháp Vương ở San Diego

 

--------------------------

 

Thỉnh thoảng có người bạn nhờ viết lời giới thiệu quyển sách của anh sắp đưa in hay vừa mới in xong. Công việc ấy một đôi khi thật khó làm. Hoặc là vì mình có những điểm không đồng ý, mà nếu viết ra có thể làm cho độc giả mất cảm tình và không mua sách. Nhưng nếu vì cảm tình bè bạn, chỉ viết lời khen, thì phụ lòng độc giả đã đặt niềm tin nơi mình. Hoặc là vì mình bận nhiều công việc khác, không có thì giờ để đọc và đưa ra lời nhận xét, thì phụ lòng bạn bè. Không viết lời giới thiệu, thì đằng nào mình cũng không thấy thoải mái. 

 

Nhưng sau khi đọc “Tuệ Sỹ” của Nguyên Siêu, thì tôi cảm thấy có bổn phận phải đưa ra lời nhận định về Tuệ Sỹ.

 

Tuệ Sỹ Con Người. Hình chụp nơi trang bìa sau cho thấy một nhà tu gầy ốm.

 

Tại sao thân hình ông lại thế ?  Tại tạng người của ông, hay là do bản án tử hình, rồi bị giam giữ lâu ngày ở trong tu :

 

“Người tù co ro trong chiếc chiếu rách bươm, gối đầu lên gốc cây cháy nám. Khí lạnh của Trường Sơn đêm nay xuống thật thấp, người tù trằn trọc. Nghĩ gì về quê hương dân tộc”. (Trang 45).

 

Chép lại những điều trên, tôi đau xót ở trong lòng. Đối xử với một người tù như thế, bất cứ là tù vì lý do gì, có nhân đạo không ?

 

Nhưng người bị bỏ tù vẫn tỉnh táo để làm thơ :

 

“Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ”

 

Với thân hình, bề ngoài yếu đuối ấy, không ai ngờ nó lại có thể chứa đựng một tinh thần mà thể xác không nói lên được, cái “Dũng”, một trong ba đặc tính của người tu theo đạo Phật, “Bi, Trí, Dũng”.  

 

Tôi vô cùng xúc động và kính phục vị Sư này, sau khi đọc “Kháng Thư” của Sư gửi Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản, và Thủ Tướng Chính Phủ. Sau đây là trích dẫn nhận định của Sư về cái chính phủ ấy:

 

a)  Kháng Thư hay bất cứ bản cáo trạng nào cũng không bao giờ được cứu xét bởi những người phải chịu trách nhiệm về sự bần cùng, lạc hậu của đất nước cũng như những thối nát trong mức độ nào đó của guồng máy cai trị. Bởi vì, bạo lực không có lương tri và lý trí, cũng không bao giờ lắng tai nghe tiếng nói của lương tri và lý trí  (Trang 57)

 

b)  Qua Kháng Thư này, mà với nhiều lý do như tôi đã trình bày, nó không được đạo đạt lên Đảng và Nhà Nước theo đúng các quy định hành chính phiền hà của pháp chế xã hội chủ nghĩa, tôi muốn tự mình dẫn thân đến trước cổng bạo lực chuyên chính, dù biết chắc sẽ bị nghiền nát trước khi thoáng thấy những bóng mờ trên chín tầng vời vợi của uy quyền tuyệt đối; tự dẫn thân đến đó để cáo tri cùng quốc dân đồng bào, bày tỏ sự hèn kém, bất lực của mình trước vô vàn thống khổ mà đồng bào phải âm thầm chịu đựng”. (Trang 57-58).

 

Những điều mà sư Tuệ Sỹ trình bày, đúng hay sai.

 

a) Nếu nó đúng, thì chính phủ phải hoan nghênh và tìm cách sửa chữa. Thái độ này chứng tỏ, trước hết một tinh thần cởi mở, và đem lại vinh dự cho chế độ, vì đã dám can đảm nhận lỗi lầm của mình.

Đàn áp một người chỉ trích những sai lầm của chính phủ, bắt bỏ tù, hay kết án tử hình, không phải là một đường lối tốt. Việc bỏ tù những người như thế đã bị thế giới văn minh lên án, họ gọi những người đó là “những người tù lương tâm”. Càng đàn áp, thì càng có chống đối. Nếu không còn chống đối, tinh thần dân chúng khiếp nhược, thì bằng cách này hay cách khác, nước sẽ mất.

 

Duy trì tinh thần bất khuất của dân tộc là nhiệm vụ của những nhà cầm quyền sáng suốt.

 

Nhưng thật tiếc rằng, bây giờ lên cầm quyền, trong mục đích bảo vệ quyền và lợi của họ, vì không học lịch sử, không biết nhìn xa, họ lại áp dụng đúng đường lối mà xưa kia Pháp đã áp dụng để bảo vệ chính phủ thực dân bảo hộ, nhưng thất bại.

Pháp đã bắt bỏ tù, xử tử nhiều đảng viên cộng sản cha ông của những người cầm quyền bây giờ, nhưng cuối cùng cũng đã bị đánh bại.

 

Đi vào vết xe đổ của Pháp, kết án tử hình các nhà sư Trí Siêu, Tuệ Sỹ, bắt bỏ tù các Hòa thượng Quảng Độ và Huyền Quang, chỉ làm mất uy tín của chế độ.

 

Trả tự do cho những vị đó, để họ tự do đi lại, tự do tuyên bố, thì họ cũng không lật đổ được chính phủ. Mà lại giảm đi được sự chống đối từ nhiều phía.

 

Chúa Trịnh có lần đã đến vấn kế cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, về ý định muốn lên ngôi, loại bỏ nhà Lê. Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ nói: ”Thờ bụt thì ăn oản”.

 

Tính kế lâu dài, nếu Việt Cộng muốn bảo vệ quyền hành của họ, thì cách tốt nhất là phục vụ dân. Phục vụ dân, thì dân bảo vệ chế độ.

Có một cái luật, mãi mãi đúng, luôn luôn đúng :  nhân nào thì quả ấy. Nhân tốt thì quả tốt. Nhân xấu thì quả xấu.

 

Một đời người không dài lắm đâu. Của cải tích trữ nhiều quá không tiêu dùng hết, trong khi theo như lời Tuệ Sỹ, dân bị trị phải chịu vô vàn thống khổ”, thì không thể tồn tại lâu dài được. Không một ai, nếu còn một chút tối thiểu lương tâm, lại có thể bênh vực một chế độ tác phong thời phong kiến, mà chính họ đã kết án.

 

b) Nếu nó sai, thì tại sao không đối thoại với Tuệ Sỹ và giải thích cho ông ấy? Chúng tôi thấy Tuệ Sỹ đã có lý khi viết :

 

“Dân bị trị phải chịu vô vàn thống khổ”.

 

Sự thống khổ của dân đã được chính quí vị công nhận khi đưa ra chương trình “xóa đói giảm nghèo”. Quí vị luôn luôn tự hào khoe khoang, “đã đánh thắng được Pháp và Mỹ”. Dân nước chúng ta giỏi, thông minh không kém gì những nước trong khu vực Thái Bình Dương, như Nhật, Đại Hàn, Đài Loan, v.v. Đất nước lại nhiều tài nguyên. Nhưng tại sao nước chúng ta lại nghèo đói? Ngày xưa, một vị quân sư đã tâu với nhà Vua :

 

“Bệ hạ có thể chinh phục thiên hạ trên lưng ngựa, nhưng không thể cai trị trên lưng ngựa”.

 

Trong một giai đoạn của lịch sử, chủ nghĩa cộng sản thích hợp cho công cuộc tranh đấu chống tư bản bóc lột, và điều khiển chiến tranh. Nhưng chủ nghĩa ấy có hai sai lầm căn bản, “kinh tế chỉ huy” và “độc tài đảng trị” gọi trá hình là “dân chủ tập trung”, không thích hợp để xây dựng đất nước trong thời bình.

 

Về kinh tế đã có sự thay đổi. Nhưng còn dân chủ? Không có dân chủ thì không khai thác được khả năng tiềm tàng của đại đa số dân ngoài đảng. Không có dân chủ thì không có cái thắng để kìm hãm những sai lầm do độc tài đảng trị gây nên. Nó chính là nguyên nhân gây ra nạn tham nhũng.

 

Để mở đầu cho một giai đoạn mới, khai thác tiềm năng trí tuệ của đại đa số dân chúng, chúng tôi nghĩ quí vị nên thành lập một “Ban Cố Vấn” mà ở bên Mỹ gọi là “Think Tank”, gồm những người trong đảng, ngoài đảng, trong nước, ngoài nước. Quí vị phải kính trọng những người đó, như Lưu Bị kính trọng Khổng Minh. Nếu quí vị coi họ như là công chức hay tay sai, thì quí vị chỉ có công chức và tay sai.

 

Những lời nói thẳng của chúng tôi có thể không làm cho quí vị vui lòng, nhưng tôi sinh ra là một người ngay thẳng trong bản chất, không biết luồn cúi ai. Chúng tôi viết ra một số ý nghĩ thành thực, vì lòng yêu mến quê hương, xót xa những đau khổ mà dân nước chúng ta phải chịu đựng. Quí vị nghe, hay không nghe, tôi không được gì, cũng không mất gì. Đóng góp một chút suy tư, một chút thì giờ, trong khi đã về hưu.

 

Tôi đã tâm sự với bạn bè, cái tinh thần bất khuất của những người như Tuệ Sỹ là một “Quốc Bảo” mà chúng ta phải nuôi dưỡng. Tinh thần ấy còn thì không một sức mạnh nào oó thể tiêu diệt được đạo Phật hay Dân tộc Việt Nam. Tinh thần ấy làm cho tôi nhớ đến :

 

- Trần Bình Trọng, một người đã dám chịu chết, chứ không chịu hàng giặc với một câu nói bất hủ,

 

“Thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm Vương đất Bắc”.

 

- Và Đức Trần Hưng Đạo,

 

“Lần này mà không phá được giặc Nguyên, thì thề không về đến sông này nữa.

 

Năm 1988, Tuệ Sỹ đã được tòa án Nhân dân TP HCM xử tử hình” (Trang 50). Tuệ Sỹ mô tả cái gọi là tòa án Nhân dân, “cán cân công lý”:

 

“Tất cả những ai tham dự các phiên xử của tòa án Nhân dân TP HCM đều nghe và thấy các Chủ tọa các phiên tòa đã không trả lời được những câu hỏi bị cáo được dẫn chứng từ chính Luật Tố tụng Hình sự của chính Nước Công Hòa XHCNVN”. (Trang 50). 

 

Đọc sự mô tả phiên xử, ai cũng có thể nhận thấy, tòa án là công cụ của nhà cầm quyền, chứ không đại diện cho công lý, mà chính những người cộng sản thuộc thế hệ của tôi hay trước tôi, cha ông của những người cộng sản cầm quyền bây giờ, đã mạnh mẽ lên án. Vậy thì khi sử dụng  án như là công cụ”, họ đã phản bội lại cha, ông của họ ! ! !

 

Còn những người ngồi xử thì chỉ là một thứ tay sai khiếp nhược, không có lương tâm.

 

Kháng Thư đề ngày 03 tháng 06 năm 2001, nghĩa là sau khi đã bị kết án tử hình năm 1988, và được trả tự do ngày 31 tháng 9 năm 1998, nhờ có sự can thiệp của đồng bào hải ngoại và quốc tế.

 

Tôi nhớ đã có đọc về chuyện trả tự do này. Chính phủ muốn đánh bại tinh thần bất khuất của Tuệ Sỹ và Trí Siêu, bảo với họ, “ký giấy xin chính phủ khoan hồng”. Cả hai người đều từ chối, chấp nhận cái chết hơn chứ không chịu đầu hàng, xin khoan hồng.

Cả một chế độ, với toàn quyền sinh sát đã thua hai người, không có gì để tự vệ, ngoài tinh thần bất khuất.

 

Nhận định về giới trí thức ở Việt Nam, Tuệ Sỹ đã viết :

 

Đối với giới trí thức nói riêng, mà xã hội truyền thống Việt Nam rất tôn trọng, điều tủi nhục lớn là họ không thể thay những người dân thấp cổ bé miệng nói lên một cách trung thực tất cả những uất ức, những khổ nhục mà họ phải chịu. Bởi vì tại Việt Nam ngày nay những người có thể nói lên thì ngòi bút đã bị bẻ cong; những người muốn nói thì ngòi bút đã bị bẻ gẫy”  (Trang 44).

 

Ở Việt Nam, ngày nay “những người có thể nói thì ngòi bút đã bị bẻ cong”. Nhưng cũng may, lời kết luận của Tuệ Sỹ làm cho chúng ta phấn khởi :

“Trí thức chân chính của Việt Nam không bao giờ khiếp nhược”.

 

Trên đây là tinh thần tranh đấu của Tuệ Sỹ, nhưng trong cách viết, người đọc có thể thấy Tuệ Sỹ biết nhiều thứ chữ, chữ Phạn hay Sanskrit, chữ Hán, mà chúng tôi mù tịt, chữ Pháp, chữ Đức, v.v… 

 

Trong bài I, bình luận về Tánh Không”, Tuệ Sỹ đã mở đầu bằng câu tiếng Đức của Martin Heidegger nhưng không dịch sang tiếng Việt, lời dịch là của chúng tôi:

 

Aus der Erfahrung des Denkens

 

Từ sự kết tinh của tư tưởng

 

Nhưng Tánh Không luận là gì ?

 

Khi con bướm mùa hè dừng lại trên đóa hoa, khép lại đôi cánh, và đong đưa theo cơn gió của cỏ nội hoa ngàn”. (Trang 66).

 

Xin đừng đọc lướt qua câu thơ này. Xin hãy ngưng lại đôi chút. Nó sẽ vẽ ra cho chúng ta hình ảnh của một cậu bé của ngày xưa xa lắm, ở cái ngày còn đi bắt chim đuổi bướm, có đôi mắt ngây thơ, long lanh sáng, đứng ngây ngất nhìn con bướm trắng đậu trên cánh hoa, hai cánh khép mở “đu đưa theo cơn gió của cỏ nội hoa ngàn”.

 

Tiếp tục bình luận về Tánh Không”, trong bài II, Tuệ Sỹ đã đưa ra nhận xét của Parménide, “ce qui est est, ce qui n’est pas n’est pas” (trang 68), nhưng cũng không dịch sang tiếng Việt. Chúng tôi thấy hay, nên dịch và đưa vào sách của chúng tôi, “Tôn Giáo Đối Chiếu”, Tập IV, trang 2010 :

“Cái gì có có, cái gì không có không có”

 

Cũng trong bài này, trang 67, Tuệ Sỹ mở đầu bằng câu tiếng Đức “Im Denken Wird jeglich (có lẽ là jedlich) Ding einsam und langsam” của M. Heidegger, nhưng vẫn không dịch sang tiếng Việt. Đọc mãi, đến cuối trang 68, chúng tôi mới thấy lời dịch trong câu kết luận (Trang 68) :

Vậy thì Tánh Không luận là gì ?  Trong tư tưởng, mọi sự trở thành cô liêu và lững thững”.

 

Tánh Không Luận gồm bốn bài, bài bốn chấm dứt bằng lời nhận định của Ngài Long Thọ (Trang 71) :

 

Trong khi kinh này được truyền thuyết, một ngàn thế giới đều rung động”.

(Xin quí vị đọc thêm về “Hư Không” trong sách “Tôn Giáo Đối Chiếu”, Tập I, trang 103 và kế tiếp).

 

Tuệ Sỹ Nhà Thơ. Thơ thường thường là những ý nghĩ cô đọng, đối với tôi nhiều khi khó hiểu, nhưng khi đọc thơ Tuệ Sỹ thì tôi say mê ngay.

 

Đó là cảm giác của tôi khi đọc bài “Khung Trời Cũ” với những câu mở đầu :

 

Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cu,

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang .

 

Thân hình gầy ốm, nhưng nhà tu cũng có một tinh thần lãng mạn, thường làm thơ nói đến suối tóc của một giai nhân nào đó :

 

Tang thương một dải tóc huyền,

Bãi dâu ngàn suối mấy miền hoang vu.

Em xõa tóc cho cây khô sầu mộng,

Để cây khô mạch suối khóc thương nhau

 

Bài “Khung Trời Cũ” có hai câu thơ tả cái buồn làm tim tôi rung động, tâm tôi với hai câu thơ như là một:

 

Cười với nắng một ngày sao chóng thế,

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

 

Cá nhân chúng tôi khi đọc hai câu thơ của Tuệ Sỹ, nhìn lại bản thân mình, bây giờ ở tuổi 80, cảm thấy không phải một ngày, một năm, mà là một đời :

Cười với nắng một đời sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

 

Bình luận về mấy câu thơ đó Bùi Giáng viết :

 

“Một tiếng “buồn chăng” lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như ngậm ngùi ta thán, dìu về cả một khúc tâm thanh đoạn trường”:

 

Sen tàn cúc lại nở hoa

Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh.

 

Về nhà thơ Tuệ Sỹ, Bùi Giáng bảo:

Tôi hoảng vía đề nghị: “Đại sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho, nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn”. (Trang 102)

 

Và trong bài “Đi Vào Cõi Thơ”, Bùi Giáng đã bình luận:

 

“Đội mắt ướt? Đôi mắt của ai? Vì sao ướt?…

Thi sĩ không nói rõ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng nhiệm cho thơ.

 

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Áo nào màu xanh? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán, gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân đã ngẫu nhiên một lần nhìn đắm đuối”.

 

Về tâm tình lãng mạn của Tuệ Sỹ, Bùi Giáng kể :

 

“Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông :

 

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy

Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

 

Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên đùa như thế.

 

Rào đón xong, Bùi Giáng viết :

 

Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ

Trí Hải đa tàm trúc loạn ly

 

Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình

Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm ?”

 

Để kết thúc bài này, xin mời quí vị thưởng thức toàn bài

 

 

Khung trời cũ

 

Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

Thắp đèn khua ngồi kể chuyện trăng tàn

 

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

 

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối rừng xa ngược nước xuôi ngàn

 

Bình luận bốn câu thơ cuối cùng, Bùi Giáng viết :

 

“Tiết điệu rời rạc như gót mỏi đi quanh. Một tuổi đời chưa đủ? Một tuổi xuân chưa vừa? Một tuổi vàng sớm chấm dứt? Một tuổi “đá” sớm từ giã mọi yêu thương?

 

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối rừng xa

Ngược nước

Xuôi ngàn

 

Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đêm lữ thứ khép mình trong bốn bức tường vôi nhạt nhòa ủ rũ ngục tù.

 

Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ, Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương”.

 

(Trích ra từ “Tôn Giáo Đối Chiếu” Tập III, đã phát hành)

 

TRẦN VĂN KHA

 

 




TỔ ĐÌNH TỪ ĐÀM HẢI NGOẠI
615 N. Gilbert Rd., Irving, Texas 75061-6240, Tel.: (972) 986-1019, Fax: (972) 790-5855  *USA*

Email:
tudamhaingoai@yahoo.com  -  Website:  www.todinhtudamhaingoai.net