|
Đọc Sách “Tuệ
Sỹ”
Của Nguyên Siêu
Chú Thích : Nguyên
Siêu là Thượng Tọa trụ trì chùa Pháp Vương ở San Diego
--------------------------
Thỉnh thoảng
có người bạn nhờ viết lời giới thiệu quyển sách của anh sắp đưa in hay vừa mới
in xong. Công việc ấy một đôi khi thật khó làm. Hoặc là vì mình có những điểm
không đồng ý, mà nếu viết ra có thể làm cho độc giả mất cảm tình và không mua
sách. Nhưng nếu vì cảm tình bè bạn, chỉ viết lời khen, thì phụ lòng độc giả
đã đặt niềm tin nơi mình. Hoặc là vì mình bận nhiều công việc khác, không có
thì giờ để đọc và đưa ra lời nhận xét, thì phụ lòng bạn bè. Không viết lời giới
thiệu, thì đằng nào mình cũng không thấy thoải mái.
Nhưng
sau khi đọc “Tuệ Sỹ” của
Nguyên Siêu, thì tôi cảm thấy có bổn phận phải đưa ra lời nhận định về Tuệ Sỹ.
Tuệ Sỹ Con Người. Hình chụp nơi trang bìa sau cho thấy một nhà tu gầy ốm.
Tại
sao thân hình ông lại thế ? Tại tạng người của ông, hay là do bản án tử
hình, rồi bị giam giữ lâu ngày ở trong tu :
“Người tù co ro trong chiếc chiếu rách bươm, gối đầu lên gốc
cây cháy nám. Khí lạnh của Trường Sơn đêm nay xuống thật thấp, người tù trằn
trọc. Nghĩ gì về quê hương dân tộc”. (Trang 45).
Chép
lại những điều trên, tôi đau xót ở trong lòng. Đối xử với một người tù như thế,
bất cứ là tù vì lý do gì, có nhân đạo không ?
Nhưng
người bị bỏ tù vẫn tỉnh táo để làm thơ :
“Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ”
Với thân hình, bề ngoài yếu
đuối ấy, không ai ngờ nó lại có thể chứa đựng một tinh thần mà thể xác không
nói lên được, cái “Dũng”, một
trong ba đặc tính của người tu theo đạo Phật, “Bi,
Trí, Dũng”.
Tôi
vô cùng xúc động và kính phục vị Sư này, sau khi đọc “Kháng Thư” của Sư gửi Tổng Bí Thư Đảng Cộng
Sản, và Thủ Tướng Chính Phủ. Sau đây là trích dẫn nhận định của Sư về cái
chính phủ ấy:
a) Kháng Thư hay bất cứ bản cáo trạng nào cũng
không bao giờ được cứu xét bởi những người phải chịu trách nhiệm về sự bần
cùng, lạc hậu của đất nước cũng như những thối nát trong mức độ nào đó của guồng
máy cai trị. Bởi vì, bạo lực không có lương tri và lý trí, cũng không bao giờ
lắng tai nghe tiếng nói của lương tri và lý trí (Trang 57)
b) Qua Kháng Thư này, mà với nhiều lý do như tôi đã trình
bày, nó không được đạo đạt lên Đảng và Nhà Nước theo đúng các quy định hành chính phiền
hà của pháp chế xã hội chủ nghĩa, tôi muốn tự mình dẫn thân đến trước cổng bạo
lực chuyên chính, dù biết chắc sẽ bị nghiền nát trước khi thoáng thấy những
bóng mờ trên chín tầng vời vợi của uy quyền tuyệt đối; tự dẫn thân đến đó để
cáo tri cùng quốc dân đồng bào, bày tỏ sự hèn kém, bất lực của mình trước vô
vàn thống khổ mà đồng bào phải âm thầm chịu đựng”. (Trang 57-58).
Những điều mà sư Tuệ Sỹ trình bày, đúng hay sai.
a) Nếu nó đúng, thì chính phủ phải hoan nghênh và tìm cách sửa chữa.
Thái độ này chứng tỏ, trước hết một tinh thần cởi mở, và đem lại vinh dự cho
chế độ, vì đã dám can đảm nhận lỗi lầm của mình.
Đàn
áp một người chỉ trích những sai lầm của chính phủ, bắt bỏ tù, hay kết án tử
hình, không phải là một đường lối tốt. Việc bỏ tù những người như thế đã bị
thế giới văn minh lên án, họ gọi những người đó là “những người tù lương
tâm”. Càng đàn áp, thì càng có chống đối. Nếu không còn chống đối, tinh
thần dân chúng khiếp nhược, thì bằng cách này hay cách khác, nước sẽ mất.
Duy trì tinh thần bất khuất của dân tộc là nhiệm vụ
của những nhà cầm quyền sáng suốt.
Nhưng thật tiếc rằng, bây giờ lên cầm quyền, trong mục
đích bảo vệ quyền và lợi của họ, vì không học lịch sử, không biết nhìn xa, họ
lại áp dụng đúng đường lối mà xưa kia Pháp đã áp dụng để bảo vệ chính phủ thực
dân bảo hộ, nhưng thất bại.
Pháp đã bắt bỏ tù, xử tử
nhiều đảng viên cộng sản cha ông của những người cầm quyền bây giờ, nhưng cuối
cùng cũng đã bị đánh bại.
Đi vào vết xe đổ của Pháp, kết án tử hình các nhà sư
Trí Siêu, Tuệ Sỹ, bắt bỏ tù các Hòa thượng Quảng Độ và Huyền Quang, chỉ làm mất
uy tín của chế độ.
Trả tự do cho những vị đó, để họ tự do đi lại, tự do
tuyên bố, thì họ cũng không lật đổ được chính phủ. Mà lại giảm đi được sự chống
đối từ nhiều phía.
Chúa Trịnh có lần đã đến vấn kế cụ Nguyễn Bỉnh
Khiêm, về ý định muốn lên ngôi, loại bỏ nhà Lê. Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ nói:
”Thờ bụt thì ăn oản”.
Tính kế lâu dài, nếu Việt Cộng muốn bảo vệ quyền
hành của họ, thì cách tốt nhất là phục vụ dân. Phục vụ dân, thì dân bảo vệ chế
độ.
Có
một cái luật, mãi mãi đúng, luôn luôn đúng : nhân
nào thì quả ấy. Nhân tốt thì
quả tốt. Nhân xấu thì quả xấu.
Một đời người không dài lắm đâu. Của cải tích trữ
nhiều quá không tiêu dùng hết, trong khi theo như lời Tuệ Sỹ, dân bị trị phải
chịu “vô vàn thống khổ”, thì
không thể tồn tại lâu dài được. Không một ai, nếu còn một chút tối thiểu
lương tâm, lại có thể bênh vực một chế độ tác phong thời phong kiến, mà chính
họ đã kết án.
b) Nếu nó sai, thì tại sao không đối thoại với Tuệ Sỹ và giải
thích cho ông ấy? Chúng tôi thấy Tuệ Sỹ đã có lý khi viết :
“Dân bị trị phải chịu vô vàn thống khổ”.
Sự thống khổ của dân đã được chính quí vị công nhận
khi đưa ra chương trình “xóa đói giảm
nghèo”. Quí vị luôn luôn tự hào khoe khoang, “đã đánh thắng được Pháp và Mỹ”. Dân nước
chúng ta giỏi, thông minh không kém gì những nước trong khu vực Thái Bình
Dương, như Nhật, Đại Hàn, Đài Loan, v.v. Đất nước lại nhiều tài nguyên. Nhưng
tại sao nước chúng ta lại nghèo đói? Ngày xưa, một vị quân sư đã tâu với nhà
Vua :
“Bệ hạ có thể chinh phục thiên hạ trên
lưng ngựa, nhưng không thể cai trị trên lưng ngựa”.
Trong một giai đoạn của lịch sử, chủ nghĩa cộng sản
thích hợp cho công cuộc tranh đấu chống tư bản bóc lột, và điều khiển chiến
tranh. Nhưng chủ nghĩa ấy có hai sai lầm căn bản, “kinh tế chỉ huy” và “độc
tài đảng trị” gọi trá hình là “dân chủ tập trung”, không thích hợp để xây dựng
đất nước trong thời bình.
Về kinh tế đã có sự thay đổi. Nhưng còn dân chủ?
Không có dân chủ thì không khai thác được khả năng tiềm tàng của đại đa số
dân ngoài đảng. Không có dân chủ thì không có cái thắng để kìm hãm những sai
lầm do độc tài đảng trị gây nên. Nó chính là nguyên nhân gây ra nạn tham nhũng.
Để mở đầu cho một giai đoạn mới, khai thác tiềm năng
trí tuệ của đại đa số dân chúng, chúng tôi nghĩ quí vị nên thành lập một “Ban
Cố Vấn” mà ở bên Mỹ gọi là “Think Tank”, gồm những người trong đảng, ngoài đảng,
trong nước, ngoài nước. Quí vị phải kính trọng những người đó, như Lưu Bị
kính trọng Khổng Minh. Nếu quí vị coi họ như là công chức hay tay sai, thì
quí vị chỉ có công chức và tay sai.
Những lời nói thẳng của chúng tôi có thể không làm
cho quí vị vui lòng, nhưng tôi sinh ra là một người ngay thẳng trong bản chất,
không biết luồn cúi ai. Chúng tôi viết ra một số ý nghĩ thành thực, vì lòng
yêu mến quê hương, xót xa những đau khổ mà dân nước chúng ta phải chịu đựng.
Quí vị nghe, hay không nghe, tôi không được gì, cũng không mất gì. Đóng góp một
chút suy tư, một chút thì giờ, trong khi đã về hưu.
Tôi đã tâm sự với bạn bè, cái tinh thần bất khuất của
những người như Tuệ Sỹ là một “Quốc Bảo” mà chúng ta phải nuôi dưỡng. Tinh thần
ấy còn thì không một sức mạnh nào oó thể tiêu diệt được đạo Phật hay Dân tộc
Việt Nam. Tinh thần ấy làm cho tôi nhớ đến :
- Trần Bình Trọng, một người đã dám chịu chết, chứ
không chịu hàng giặc với một câu nói bất hủ,
“Thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm Vương
đất Bắc”.
-
Và Đức Trần Hưng Đạo,
“Lần
này mà không phá được giặc Nguyên, thì thề không về đến sông này nữa.
Năm 1988, Tuệ Sỹ đã “được
tòa án Nhân dân TP HCM xử tử hình” (Trang 50). Tuệ Sỹ mô tả cái gọi
là tòa án Nhân dân, “cán cân công lý”:
“Tất cả những ai tham dự các phiên xử của
tòa án Nhân dân TP HCM đều nghe và thấy các Chủ tọa các phiên tòa đã không trả
lời được những câu hỏi bị cáo được dẫn chứng từ chính Luật Tố tụng Hình sự của
chính Nước Công Hòa XHCNVN”. (Trang 50).
Đọc sự mô tả phiên xử, ai cũng có thể nhận thấy, tòa
án là công cụ của nhà cầm quyền, chứ không đại
diện cho công lý, mà chính
những người cộng sản thuộc thế hệ của tôi hay trước tôi, cha ông của những
người cộng sản cầm quyền bây giờ, đã mạnh mẽ lên án. Vậy thì khi sử dụng “án như là công cụ”, họ đã phản bội lại
cha, ông của họ ! ! !
Còn những người ngồi xử thì chỉ là một thứ tay sai
khiếp nhược, không có lương tâm.
Kháng Thư đề ngày 03 tháng 06 năm 2001, nghĩa là sau
khi đã bị kết án tử hình năm 1988, và được trả tự do ngày 31 tháng 9 năm
1998, nhờ có sự can thiệp của đồng bào hải ngoại và quốc tế.
Tôi nhớ đã có đọc về chuyện trả tự do này. Chính phủ
muốn đánh bại tinh thần bất khuất của Tuệ Sỹ và Trí Siêu, bảo với họ, “ký giấy
xin chính phủ khoan hồng”. Cả hai người đều từ chối, chấp nhận cái chết hơn
chứ không chịu đầu hàng, xin khoan hồng.
Cả
một chế độ, với toàn quyền sinh sát đã thua hai người, không có gì để tự vệ,
ngoài tinh thần bất khuất.
Nhận định về giới trí thức ở Việt Nam, Tuệ Sỹ đã viết :
“Đối với giới trí thức nói riêng, mà
xã hội truyền thống Việt Nam rất tôn trọng, điều tủi nhục lớn là họ không thể
thay những người dân thấp cổ bé miệng nói lên một cách trung thực tất cả những
uất ức, những khổ nhục mà họ phải chịu. Bởi vì tại Việt Nam ngày nay những người có thể nói lên thì ngòi bút đã bị bẻ cong; những người muốn nói thì
ngòi bút đã bị bẻ gẫy” (Trang 44).
Ở Việt Nam, ngày nay “những người có thể nói thì ngòi bút đã bị bẻ
cong”. Nhưng cũng may, lời kết luận của Tuệ Sỹ làm cho chúng
ta phấn khởi :
“Trí thức chân chính của Việt Nam không bao giờ khiếp nhược”.
Trên đây là tinh thần tranh đấu của Tuệ Sỹ, nhưng
trong cách viết, người đọc có thể thấy Tuệ Sỹ biết nhiều thứ chữ, chữ Phạn
hay Sanskrit, chữ Hán, mà chúng tôi mù tịt, chữ Pháp, chữ Đức, v.v…
Trong bài I, bình luận về “Tánh
Không”, Tuệ Sỹ đã mở đầu bằng câu tiếng Đức của Martin Heidegger
nhưng không dịch sang tiếng Việt, lời dịch là của chúng tôi:
Aus der Erfahrung des Denkens
Từ
sự kết tinh của tư tưởng
Nhưng Tánh Không luận là gì ?
“Khi con bướm mùa hè dừng lại trên
đóa hoa, khép lại đôi cánh, và đong đưa theo cơn gió của cỏ nội hoa ngàn”.
(Trang 66).
Xin đừng đọc lướt qua câu thơ này. Xin hãy ngưng lại
đôi chút. Nó sẽ vẽ ra cho chúng ta hình ảnh của một cậu bé của ngày xưa xa lắm,
ở cái ngày còn đi bắt chim đuổi bướm, có đôi mắt ngây thơ, long lanh sáng, đứng
ngây ngất nhìn con bướm trắng đậu trên cánh hoa, hai cánh khép mở “đu đưa
theo cơn gió của cỏ nội hoa ngàn”.
Tiếp
tục bình luận về “Tánh Không”, trong
bài II, Tuệ Sỹ đã đưa ra nhận xét của Parménide, “ce qui est est, ce qui n’est pas n’est pas”
(trang 68), nhưng cũng không dịch sang
tiếng Việt. Chúng tôi thấy hay, nên dịch và đưa vào sách của chúng tôi, “Tôn Giáo Đối Chiếu”, Tập IV, trang 2010 :
“Cái gì có có, cái gì không có không có”
Cũng trong bài này, trang 67, Tuệ Sỹ mở đầu bằng câu
tiếng Đức “Im Denken Wird jeglich (có lẽ là jedlich) Ding
einsam und langsam” của M. Heidegger, nhưng vẫn không dịch sang tiếng Việt. Đọc
mãi, đến cuối trang 68, chúng tôi mới thấy lời dịch trong câu kết luận (Trang
68) :
Vậy
thì Tánh Không luận là gì ? “Trong tư tưởng,
mọi sự trở thành cô liêu và lững thững”.
Tánh
Không Luận gồm bốn bài, bài bốn chấm dứt bằng lời nhận định của Ngài Long Thọ
(Trang 71) :
“Trong khi kinh này được truyền thuyết,
một ngàn thế giới đều rung động”.
(Xin
quí vị đọc thêm về “Hư Không” trong sách “Tôn Giáo Đối Chiếu”, Tập I, trang
103 và kế tiếp).
Tuệ Sỹ Nhà Thơ. Thơ thường thường là những ý nghĩ cô đọng, đối với
tôi nhiều khi khó hiểu, nhưng khi đọc thơ Tuệ Sỹ thì tôi say mê ngay.
Đó
là cảm giác của tôi khi đọc bài “Khung Trời Cũ” với những câu mở đầu :
Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cu,
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang .
Thân hình gầy ốm, nhưng nhà tu cũng có một tinh thần
lãng mạn, thường làm thơ nói đến suối tóc của một giai nhân nào đó :
Tang thương một dải tóc huyền,
Bãi dâu ngàn suối mấy
miền hoang vu.
và
Em xõa tóc cho cây khô sầu mộng,
Để cây khô mạch suối khóc thương nhau
Bài
“Khung Trời Cũ” có hai câu thơ tả cái
buồn làm tim tôi rung động, tâm tôi với hai câu thơ như là một:
Cười với nắng một ngày sao chóng thế,
Nay mùa đông mai mùa hạ
buồn chăng
Cá
nhân chúng tôi khi đọc hai câu thơ của Tuệ Sỹ, nhìn lại bản thân mình, bây giờ
ở tuổi 80, cảm thấy không phải một ngày, một năm, mà là một đời :
Cười với nắng một đời sao
chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ
buồn chăng
Bình
luận về mấy câu thơ đó Bùi Giáng viết :
“Một
tiếng “buồn chăng” lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như ngậm ngùi ta thán, dìu về
cả một khúc tâm thanh đoạn trường”:
Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu
dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi
đường dài gót mỏi đi quanh.
Về
nhà thơ Tuệ Sỹ, Bùi Giáng bảo:
“Tôi hoảng vía đề nghị:
“Đại sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho, nếu không thì nền
thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn”. (Trang 102)
Và trong bài “Đi Vào Cõi
Thơ”, Bùi Giáng đã bình luận:
“Đội mắt ướt? Đôi mắt của ai? Vì sao ướt?…
Thi sĩ không nói rõ. Ấy
là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng nhiệm cho thơ.
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Áo nào màu xanh?
Màu xanh màu chàm của cô gái Mán, gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và
thi nhân đã ngẫu nhiên một lần nhìn đắm đuối”.
Về tâm tình lãng mạn của Tuệ Sỹ, Bùi Giáng kể :
“Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu
thơ chữ Hán của ông :
Thâm dạ phong phiêu
nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc
hoa phi
Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề
nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng
nên đùa như thế.
Rào
đón xong, Bùi Giáng viết :
Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
Trí Hải đa tàm trúc loạn ly
Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình
Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè
kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm
?”
Để
kết thúc bài này, xin mời quí vị thưởng thức toàn bài
Khung trời cũ
Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khua ngồi kể chuyện trăng tàn
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối rừng xa ngược nước xuôi ngàn
Bình
luận bốn câu thơ cuối cùng, Bùi Giáng viết :
“Tiết điệu rời rạc như gót mỏi đi quanh. Một tuổi đời chưa đủ?
Một tuổi xuân chưa vừa? Một tuổi vàng sớm chấm dứt? Một tuổi “đá” sớm từ giã
mọi yêu thương?
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối rừng xa
Ngược nước
Xuôi ngàn
Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đêm lữ thứ khép
mình trong bốn bức tường vôi nhạt nhòa ủ rũ ngục tù.
Chỉ một
bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ, Đường Thi Trung Hoa tới
Siêu Thực Tây Phương”.
(Trích ra từ “Tôn Giáo Đối Chiếu” Tập
III, đã phát hành)
TRẦN VĂN KHA
|