
HOÀNG HẠC LÂU Phần Hai
*
* *
Hương Quan Hà Xứ ?
01 - 45 (54).
*
* *
Hoàng Hạc Lâu.
Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.
Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tái không du du !
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ Hương Quan hà xứ thị ?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu !
(Thôi
Hiệu).
Dịch :
Lầu Hoàng Hạc.
Người xưa đã cùng Hoàng Hạc vút,
Trơ lại chốn này Hoàng Hạc Lâu.
Hoàng Hạc vút cánh vút vạn thuở,
Bạch vân trôi mãi trôi ngàn thu !
Hán Dương lớp lớp cây mờ biếc,
Anh Vũ xanh xanh cỏ ngát màu.
Trời khuất Quê Nhà đâu đó hỡi ?
Trên sông khói sóng khiến người sầu !
(Minh Di dịch).
*
* *
Chú thích :
Bài
‘Hoàng Hạc Lâu’ trong
‘Toàn Đường Thi’ có một vài Chữ
ghi khác với Bản đang lưu hành, trong hai câu :
Câu 1
: -
‘Hoàng Hạc khứ’, chép ‘Bạch Vân
khứ’.
Câu 6 :
- ‘Phương thảo’, chép ‘Xuân
thảo’.
Ngoài ra,
‘Toàn Đường Thi’ còn nêu một vài chữ
chép khác của một vài câu trong một số Bản khác:
Câu 2 : -
‘Thử địa’, có Bản chép ‘Tư
địa’, và ‘Không dư’ có Bản chép ‘Không
lưu’.
Câu 5 :
- ‘Hán Dương thụ’, có Bản chép ‘Hán
Dương thành’.
Câu 6 :
- ‘Thê thê’, có Bản chép ‘Thanh
thanh’.
Câu 7 :
- ‘Hà xứ thị’, có Bản chép ‘Hà
xứ tại’.
Minh Di
án.
Câu 6 :
- ‘Phương thảo thê thê Anh Vũ châu’.
Về mặt xuất xứ,
hai chữ ‘thê thê’ ở đây có lẽ phải
hơn là ‘thanh thanh’ vì bài
‘Chiêu Ẩn Sĩ’ trong Tập
‘Sở Từ’ có câu :
Xuân thảo
sinh hề thê thê.
Cỏ xuân mọc
khá xum xuê.
Và như vậy, Câu 6,
nếu ‘Toàn Đường Thi’ ghi là ‘Xuân
thảo’ thay vì ‘Phương thảo’
chính là đã căn cứ câu đă dẫn trên của bài ‘Chiêu Ẩn Sĩ’.
Tuy nhiên, về ý nghĩa ‘xum
xuê’ (thê thê) cũng hàm ý
‘xanh xanh’ (thanh
thanh) cho nên như có chép ‘thanh thanh’ cũng chẳng hại
chi đến thi ý.
&
Thử địa
không dư Hoàng Hạc Lâu. Lược sử.
Lầu Hoàng Hạc
ở phía Tây huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc.
Lầu
cao vào khoảng 30 thước ngoài, lại nằm chót vót trên vọng gác của
Hán Dương môn, Thành Vũ Xương, nơi vách đá cheo leo
của bãi Hoàng Hộc, ở về hướng Tây bắc
Hoàng Hộc sơn cũng được gọi là Hoàng Hạc
sơn, hay
Xà sơn.
Đây là Lầu Hoàng Hạc
vào cuối thế k̀ 17.
Từ Lầu nhìn ra bao
quát cả một vùng bát ngát sông núi, bến bãi.... phong cảnh tuyệt đẹp; bên kia
sông là mặt Đông huyện thành Hán Dương, nằm trên núi Qui sơn.
Trước Lầu có bảo tháp
Bạch Thạch kiến trúc theo mô thức tháp của
A Dục
vương (tức Asoka, tên của một
ông vua Ấn Độ : 264 - 228 trước Công nguyên) rất công phu, mĩ
thuật. Bốn mặt Tháp đều tạc Phạn ngữ cỡ chữ rất lớn. Tháp xây bằng đá
trắng vì vậy mà có tên Bạch Thạch.
Phía Nam Lầu
có bảo tháp Thắng Tượng do Uy Thắng vương Thái tử cho xây lên năm
1343 triều Nguyên Thuận đế (1320 – 1370 ;
tại vị : 1333 – 1368) ; hậu thế gọi tháp này là Minh Đăng
do đó đã có truyền thuyết sai lầm đây là mộ
Khổng Minh (181 - 234). Tháp cũng
bằng đá trắng, và cao 9.36 thước, có 3 tầng, tầng dưới cùng
tạc hình tòa Sen, chu vi khoảng 5 thước. Trên các mặt tháp khắc
hình sư tử, voi, phụng hoàng. Tuy trải mưa nắng, thời gian, nhưng, cho đến nay
nhìn những hình này người ta vẫn có thể nhận ra được những nét tinh tế của một
tác phẩm nghệ thuật.
Cũng ở phía Nam lầu Hoàng
Hạc là một cái đài cao, hình vuông, có tên Dũng Nguyệt đài. Ở đây có
một tảng đá thô kệch, màu vàng, trên mặt đá khắc 3 chữ
‘Dũng Nguyệt Đài’ thật lớn, Nét chữ
cổ kính, cứng cỏi, và vô cùng sắc xảo.
Theo truyền thuyết thì
3 Chữ
này là thủ bút của Ngụy Vũ đế Tào
Mạnh Đức (155 - 220).
Thực ra, Dũng Nguyệt Đài cho tới thời Triệu Tống
(960 - 1279) mới được Hoàng Đào
(? - ?) cho xây. Danh xưng ‘Dũng Nguyệt
Đài’ thực ra đã bắt ngủn từ câu thơ ‘Nguyệt dũng Đại giang
lưu’ trong bài Ngũ ngôn luật thi có tựa đề
‘Lữ dạ Thư hoài’ của thi hào
Đỗ Phủ (712 - 770) đời Đường
(618 - 907). Hơn nữa, Tào Tháo vẫn
chưa một lần đặt chân tới chốn này, do đó đây cũng chỉ là một truyền
thuyết sai lầm.
Mặt sau Hoàng Hạc Lâu
có một Đạo viện cực kỳ mĩ lệ. Trước Đạo viện treo một tấm bảng đề
2 chữ ‘Giác Ngạn’. Trong Đạo viện có tượng Lữ Động Tân nằm ngủ. Đạo
viện có một cái Đình tên gọi là ‘Tiên Tảo’; về phía Nam
đình Tiên Tảo có một cái cổng nhỏ vị trí cách mặt đất cả trăm thước, có
bực đá xây quanh co đi lần xuống.
Hoàng Hạc Lâu nhìn
ra Đại giang (tức Trường giang)
và Anh Vũ châu là cái cù lao giữa giòng Trường giang ở về
mé Nam ngạn, trệch về hướng Tây Nam huyện Vũ Xương. Vào
khoảng cuối triều Đông Hán (25 - 220),
Hoàng Xạ (? - ?), con trai trưởng
Hoàng Tổ (? - ?), Thái thú tại vùng
Giang Hạ, đại hội tân khách trên Cù lao này ; dịp đại hội có
người đã tặng chim két và một trong số tân khách là Nễ Hành
(173 - 198) đã nhân đó viết bài phú
‘Anh Vũ’. Sau Bài phú vừa kể,
Cù lao được đặt tên là ‘Anh Vũ’
(Chim két). Ít lâu sau đó chỉ vì
một câu nói nghịch ý Hoàng Tổ ra lệnh giết Nễ Hành và cho chôn
ngay trên ‘Cù lao Két’ này.
Bên kia Trường giang,
ở hướng Đông bắc huyện Hán Dương ở tại chân núi phía
Đông của dãy Đại Biệt sơn (theo thiên
‘Vũ Cống’, sách ‘Thượng Thư’
các Tên sau này là Lỗ sơn, Qui sơn và Tắng sơn,
Dực Tế sơn), đối diện Hoàng Hạc Lâu, là ‘Tĩnh Xuyên Các’
được một Tri phủ tên là Phạm Chi Châm (? -
?) đời Minh cho xây, cảm hứng từ câu ‘Tình
xuyên lịch lịch...’.
Hoàng
Hạc Lâu và một số
phong cảnh xa gần chung quanh Lầu tự thuật trên đây được dẫn ở
tập Bút ký ‘Quảng Dương Tạp Ký’
(Qu. IV. Tham khảo các đoạn 64, 72, 75)
của học giả, Sử học gia Lưu Hiến Đình (1648
- 1695) đời Thanh.
Hoàng Hạc
Lâu nằm trên đầu thành Vũ Xương.
Thành
Vũ Xương
được Tôn Quyền (182 - 252, tại vị : 229 - 252)
cho xây vào năm 221 vào đầu thời Tam Quốc
(220 - 280).
Thời này thành có tên Hạ Khẩu.
Theo truyền thuyết Lầu
Hoàng Hạc đã được kiến tạo sau đó 2 năm, tức năm 223.
Qua bao hưng phế, ‘vật
hoán tinh di’, Lầu đã trải qua nhiều lần tu bổ cũng như sửa sang, có
điều tên gọi
Hoàng
Hạc Lâu thì mãi tới
khoảng đời Lương
(502 - 557) mới bắt đầu được nhắc tới.
Về nguồn gốc danh xưng
Hoàng Hạc Lâu,
người ta thường đề cập một số thuyết sau :
Cuốn
‘Thái Bình Hoàn Vũ Ký’
(Qu. CXII. Vũ Xương phủ) thường được
gọi dưới tên giản lược là ‘Hoàn Vũ Ký’,
của Nhạc Sử (930 – 1007) chép rằng
Phí Văn Vi đắc đạo lên
cỡi tiên,
sau đó cỡi Hạc vàng ngh̀ nơi Lầu đó, vì vậy người ta lấy hai chữ
Hoàng Hạc mà đặt tên Lầu.
Trước đó mấy trăm năm,
sách ‘Tục Tề Hài Ký’ của
Ngô Quân (469 - 520) thời Lương lại
chép là người tiên Tử An xưa cỡi Hạc vàng qua đây, sau đó người ta
mới gọi Lầu là Lầu Hoàng Hạc.
Sách
‘Nam Tề Thư’ của Tiêu Tử Hiển
(489 - 537),
cũng đời Lương, cũng chép Sự tích Tử An, có khác một điểm là ở đây
Tử An cỡi Hoàng Hộc (Ngỗng Trời Vàng),
không phải Hoàng Hạc:
‘Hạ Khẩu thành cứ Hoàng
Hộc cơ, thế truyền tiên nhân Tử An thừa hoàng hộc quá thử thượng dã’.
Nam
Tề Thư. (Qu. XV. Chí 7. Châu Quận. Hạ)
‘Thành Hạ Khẩu ở băi
Hoàng Hộc, người đời tương truyền người tiên Tử An (xưa
đă từng cỡi) Ngỗng trời vàng qua đây ghé Lầu này’.
Về các danh xưng Hoàng
Hạc và Hoàng Hộc thì Lưu Hiến Đình
(1648 - 1695), thuật giả của tập
Bút kí ‘Quảng Dương Tạp Ký’ đã
đề cập ở Một đoạn trước đây, đă viết như sau :
‘Dư ý Hoàng
Hạc lâu tức Hoàng hộc cơ, hậu nhân ngoa Hộc vi Hạc nhi phụ hội dĩ Phí Văn Vi sự.
Nhật kinh Thôi Khảo công đề nhi Thanh Liên các bút dĩ thành thiên thu thiết án
; nãi kim hựu chuyển nhi vi Lữ Thuần Dương. Tự kinh tam tả, Ô, Yên thành Mã,
thiên hạ sự dĩ vãng dã giai thành lãnh phong, đăng yên, hựu hà thị phi khả luận
! Chủ yếu sự lý xán nhiên, duyệt nhân nhĩ mục, ngô dịch nhiệm chi hĩ ! Hựu an
ṭng khởi cổ nhân vu cửu kinh nhi vấn ky quả nhiên, quả bất nhiên gia ? ! Vô
nại triển chuyển hoang mậu, từ bát nhã tuần, lệnh nhân nan vi thính nhĩ !’.
Quảng
Dương Tạp Ký.
(Qu. IV. 73).
‘Theo ý tôi, Hoàng Hạc
lâu tức Hoàng Hộc cơ, người đời sau lầm
chữ Hộc thành chữ
Hạc, lại thêm thắt với chuyện Phí Văn Vi.
Trải Thôi Khảo Công đề thơ và Thanh Liên phải gác bút thì sự việc đã thành thiên
thu định luận. Và bây giờ, Lầu lại thành nơi phụng tự Lữ Thuần Dương. Chữ sao đi
chép lại chữ Ô, chữ
Yên r̉i thành chữ
Mã, việc trong thiên hạ những gì đã qua đều
thành gió lạnh, khói nhạt biết đâu phải, trái mà luận. Chỉ cần sự lý rõ ràng,
hiển nhiên, vui tai, vui mắt mọi người thì tôi cũng cố mà gánh vác đi ! Bây giờ
không lẽ phải theo cổ nhân dưới lòng đất
sâu để hỏi chuyện quả nhiên hay không quả nhiên sao ? ! Nhưng, chuyện gì dầu
sai lạc tới đâu đi nữa mà ngôn từ không đẹp đẽ, hay ho th́ cũng khó mà khiến
người ta nghe theo !’.
Xa hơn nữa, Ngô Sư Đạo
(1283 - 1344) đời Nguyên
(1279 - 1368) viết :
‘Thôi Hiệu ‘Hoàng Hạc
Lâu’ thi đề hạ tự chú vân : ‘Hoàng Hạc, nhân danh dã’.
Ḱ Thi vân’Tích nhân dĩ thừa bạch
vân khứ, thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu’.
Vân ‘thừa bạch vân’ tắc
phi thừa hạc hĩ ! ‘Đề kinh’ tái Phí Văn
Vi đăng tiên giá hạc vu thử ; ‘Tề Hài Chí’
tái tiên nhân Tử An thừa hoàng hạc quá thử, giai nhân hoàng hạc nhi vi chi
thuyết giả. Đương dĩ Hiệu chi tự chú vi chính.
Trương Nam Hiên biên Phí
Văn Vi sự vọng, vị Hoàng Hạc dĩ sơn đắc
danh hoặc giả Sơn nhân Nhân nhi danh chi dư ? !’.
Ngô
Lễ Bộ Thi Thoại.
08 .
‘Dưới tựa bài Thơ, Thôi
Hiệu tự chú thích, nói : ‘Hoàng Hạc là tên người’.
Bài Thơ nói : ‘Tích nhân
dĩ thừa bạch vân khứ, thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu’
Nói ‘cỡi mây trắng’ tức
không phải là cỡi hạc rồi’. Sách ‘Đề Kinh’
kể sự tích Phí Văn Vi lên tiên cỡi hạc qua đó ; và Sách
‘Tề Hài Ký’ kể chuyện người tiên Tử An
cỡi hạc vàng qua đó, tất cả đều nhân chuyện con hạc vàng mà lập thuyết. Nên coi
lời tự chú của Thôi Hiệu thì phải hơn !
Trương Nam Hiên đă nêu ra
tính cách hoang đường của sự hoặctích Phí Văn Vi, và cho rằng Tên gọi Hoàng
Hạc đă bắt ngủn từ tên núi tên Núi đã nhân tên Người mà ra chăng ? !’
Một Con Ngỗng Trời.
Minh Di
án.
Lưu Hiến Đình đă hữu lí khi
nói rằng Chữ phải là Hoàng Hộc
chứ không là Hoàng Hạc.
Và như vậy câu mở đầu bài
‘Hoàng Hạc Lâu’
phải là :
Tích nhân
dĩ thừa hoàng hộc khứ’.
Và, các chữ Hoàng Hạc
trong hai câu câu 2 và câu 3, cho đến Tựa
đề Bài
thơ, tất cả đều phải là hoàng
hộc.
Có điều Lưu Hiến Đình
đă không luận vấn đề sâu, xa hơn nữa.
Đại Tượng từ Quẻ
Gia Nhân (Tốn / Ly) nói : - ‘Ngôn
hữu Vật nhi Hành hữu Hằng’.
Nếu như Thôi Hiệu có nói
‘Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hộc khứ’ thì
đây cũng là ‘ngôn hữu Vật’.
Có thể nói vấn đề, có thể
gọi đây là một vấn đề, Hạc hay Hộc là một vấn đề thú vị trong
văn học Cổ điển Trung Quốc, vì vậy, có lẽ cũng nên tạm ngưng một lúc
nói về Lầu Hoàng Hạc để coi là học
giả các thời luận ra sao về vấn đề này.
Quế Phức
(1736 - 1805)
chứng nghĩa chữ Hộc, đă trích dẫn
bộ ‘Ngọc Thiên’ của Văn tự học
gia Cố Dã Vương (519 - 581), viết :
‘Hộc.
Hoàng hộc, tiên nhân sở thừa’, nghĩa là ‘Hộc.
(Tức) Hoàng hộc, là chim của tiên cỡi’.
Thuyết Văn
Giải Tự Nghĩa Chứng.
Qu. X /.
Đoàn Ngọc Tài
(1735 - 1815),
cuối phần chú giải chữ Hộc, đã kết
luận như sau :
‘Phàm Kinh Sử ngôn Hồng
hộc giả giai vị Hoàng hộc dã ; hoặc đơn
ngôn Hộc, hoặc đơn ngôn Hồng’.
‘Tóm lại, Kinh, Sử khi
nói Hồng hộc thì tất cả đều nhằm chỉ Hoàng hộc
; còn nếu đơn xưng thì hoặc gọi Hộc, hoặc gọi Hồng’.
Và cuối phần chú giải chữ
Hồng, liền sau chữ Hộc, ông viết :
‘Đơn
hô Hộc, lụy hô Hoàng hộc, Hồng hộc. Hoàng ngôn ký sắc ; Hồng chi ngôn hồng dã,
ngôn kỳ đại dã’.
‘Đơn danh thì gọi
Hộc, điệp danh thì gọi Hoàng hộc, Hồng hộc.
Hoàng chỉ sắc của lông chim ; Hồng có nghĩa là lớn, ý nói thân hình to lớn của
chim’.
(2 đoạn văn
trên đây của Đoàn Ngọc Tài, xin coi :
‘Thuyết Văn Giải Tự
Chú’. Đệ tứ thiên).
Cứ giải thuyết trên đây của
Đoàn Ngọc Tài thì Kinh, Sử cổ đề cập Hoàng
Hộc rất nhiều chỉ kể một số trong nhiều tác phẩm trứ danh
sau đây :
(1).
Dịch Kinh. Quẻ
Tiệm (Tốn /
Cấn).
(2).
Thi Kinh. Bân Phong. Cửu vực.
(3).
Lễ Ký. Khúc Lễ thượng.
(4).
Sử Ký. Qu. XLVIII. Thế Gia 18.
Trần Thiệp thế gia.
Qu. LV.
Thế Gia 25. Lưu Hầu thế gia.
(5).
Hán Thư. Qu. VII. Bản kỳ 7. Chiêu đế
kỷ.
(6).
Chiến Quốc Sách. Qu. XVII. Sở Sách 4.
Trang Tân vị Sở Tương vương.
Qu. XX. Triệu Sách 3. Thuyết Trương Tướng
quốc.
(7).
Trang Tử. Ngoại Thiên. Thiên vận.
Tạp
Thiên. Canh Tang Sở.
(8).
Thi Tử. Qu. Hạ.
(9).
Hàn Thi Ngoại Truyện. Qu. VI.
(10).
Hoài Nam Tử. Qu. VI. Lâm Minh
huấn.
(11).
Bảo Phác Tử Nội Thiên. Qu. III. Đối Tục.
(12).
Thuật Dị Ký. Qu. Thượng.
(13).
Cấp Tựu Thiên Chú Bổ Chú. Qu. IV.
(14).
Sở Từ. Qu. III. Thiên Văn.
Qu. VI. Bốc Cư.
Qu. IX. Chiêu Hồn.
Qu. X. Đại Chiêu.
Qu. XI. Tích Thệ.
Qu.XIII.
Thất Gián. Sơ Phóng.
Trong Thư tịch cổ,
Hoàng Hộc là hình ảnh tượng trưng cho
một người có tư tưởng cao xa cũng như phẩm hạnh thanh cao.
Thi Giảo
(390 - 330)
thời Chiến Quốc (403 - 221 tr. Cn.)
nói :
‘Hổ báo chi câu, vị thành
văn nhi hữu thực ngưu chi khí ; hồng, hộc chi cấu, vũ dực vị toàn nhi hữu tứ
hải chi tâm. Hiền giả chi sinh dịch nhiên’.
/
Thi Tử. Qu. Hạ /.
‘Cọp con, beo con từ thuở
chưa có khoang, có đốm thì đã có cái khí thế vì bắt trâu [bò] ; chim hồng, hộc,
từ lúc chưa đủ lông cánh thì đã có cái chí hướng tung bay bốn biển. Bậc hiền
năng từ lúc mới sinh ra thì cũng vậy’.
Giả Nghị
(200 - 168 tr. Cn),
Tư tưởng gia, chính trị gia triều Tây Hán
(206 tr. Cn. - 08), cũng đã viết trong bài
Sở từ ‘Tích Thệ’ như sau :
‘Hoàng hộc chi nhất cử
hề, tri sơn xuyên chi vu khúc ; tái cử hề, đổ thiên địa chi viên phương...
Hoàng hộc hậu thời nhi ký xứ hề, xuy kiêu quần nhi chế chi ; Thần long thất
thủy nhi lục cư hề vị lâu nghị chi sở tài.
Phù Hoàng hộc, Thần long
do như thử hề, huống hiền giả chi phùng loạn thế tai!’.
‘Hoàng hộc
vừa vút lên đã hay biết sông núi quanh co ; vút lên nữa thì biết được trời đất
kia là mênh mông...... Hoàng hộc vừa lỡ độ tới chốn dừng cánh, loài cú đã kết
bầy chận lối ; Thần long mắc cạn phải lên bờ để rồi bị loài sâu kiến chế ngự.
Hoàng hộc, Thần long mà
còn bị vậy nữa là bậc hiền năng mà gặp thời loạn !’.
Tư Mã Thiên
(145 - 86? tr. Cn.),
Sử gia trứ danh thời Tây Hán viết :
‘Trần Thiệp thiếu thời
thường dữ nhân dung canh. Triệt canh chi lũng thượng, trướng hận cửu chi viết :
‘Cẩu phú quí vô tương vong !’.
Dung giả tiếu nhi ứng
viết : ‘Nhược vi dung canh, hà phú quí dã ?’.
Trần Thiệp thái tức viết
: ‘Ta hề yến, tước an tri Hồng Hộc chi chí tai ? !’.
/
Sử Ký. Qu. XLVIII. Thế Gia 18. Trần Thiệp
thế gia /.
‘Trần Thiệp thuở còn trẻ
có thời cùng người đi cày mướn. Có một lần vào giờ nghỉ ngơi ở trên bờ đê rầu rĩ,
bồi hồi giờ lâu rồi nói : ‘Sau này nếu có phú quí rồi không quên nhau đâu !’.
Những kẻ đi cày mướn cười
nói lại rằng : ‘Cứ đi cày mướn thế này thì phú quí ngă nào đây ?’.
Trần Thiệp chép miệng thở
dài, nói : ‘Hỡi ơi, chim én, chim sẻ làm sao mà hiểu nổi cái chí của chim Hồng
Hộc đây ? !’’.
‘Hoàng
Hộc là chim của Tiên cỡi’, Văn tự huân cổ
học gia nổi tiếng Cố Dã Vương đã chép rõ trong bộ Tự điển
‘Ngọc Thiên’.
Đây chỉ là một trong nhiều
truyền thuyết về Hoàng Hộc (hay Hồng Hộc).
Trước đó nữa, Cát Hồng
(283 - 363) thời Đông Tấn
(317 - 420) đã nói:
‘Ngọc Sách Ký viết : ...
Thiên tuế chi Hạc tùy thời nhi minh, năng đăng ư mộc ;
kỳ vị thiên tái giả chung bất tập ư thụ thượng dã ; sắc thuần bạch nhi não tận
thành đơn’.
/ Bảo Phác Tử Nội
Thiên. Qu. III. Đối Tục
/.
Bộ
‘Ngọc Sách Ký’ nói : ... Hạc ngàn tuổi
th́ có thể tùy ý cất tiếng kêu, có thể leo lên cây ; còn chưa đủ ngàn năm thì
chẳng khi nào tụ tập trên cây ; sắc lông khi đã thuần trắng thì toàn não bộ rồi
hóa thành đơn dược’.
Chú thích chữ Hạc
trong đoạn trên, Vương Minh viết :
‘Hiệu
Khám Ký : - ‘Hạc, ‘Ngự Lâm’ cửu bách thập lục tác ‘Hộc’,
dẫn tại ‘Hộc môn’.
Án : Đương tác Hộc.’.
‘Sách
‘Hiệu Khám Ký’ chép : - ‘Chữ
Hạc, sách ‘Ngự
Lâm’, quyển CMXVI chép là ‘Hộc’, dẫn ở mục nói về chim Hộc’.
Án : Phải chép là Hộc’.
(Sách
‘Hiệu Khám Ký’ ở đây tức chỉ
‘Bảo Phác Tử Nội Thiên Hiệu Khám Ký’
gọi giản lược, do hai tác giả Kế Xương và Trần Ký Vinh soạn.
Sách
‘Ngự Lâm’
tức ‘Thái Bình Ngự Lâm’ gọi giản lược, do một ban
biên tập 14 người biên soạn, chủ biên là Lý Phương
(925 - 996), theo lệnh Tống Thái tông
(939 – 997 ; tại vị : 976 - 997).
Tác phẩm khởi soạn năm 977,
hoàn tất năm 983, gồm 1000 Quyển.
Theo Tống Mẫn Cầu
(1019 - 1079) trong tập Bút ký
‘Xuân Minh Thoái Triều Lục’
(Qu. Hạ) thì lúc đầu sách có tên là
‘Thái Bình Tổng Loại’. Sách biên soạn
xong, Tống thái tông cứ mỗi ngày coi Ba Quyển, giáp năm thì cũng vừa coi
hết, và sau đó thì tứ danh là ‘Thái Bình Ngự Lâm’).
Học giả Nhiệm Phương
(460 - 508)
đời Lương, Nam Bắc triều, viết :
‘Hộc thọ tam thiên tuế’.
/
Thuật Dị Ký. Qu. Thượng /.
‘Chim Hộc sống tới 3000
tuổi’.
Trần Nguyên Long
(1652 - 1736)
sơ ký Thanh triều viết :
‘Hộc.
Thuật Dị Ký. Hộc sinh bách niên nhi hồng, ngũ bách niên nhi hoàng, hựu
ngũ bách niên nhi thương, hựu ngũ bách niên nhi bạch. Thọ tam thiên tuế hĩ !’...
‘Nhĩ Nhã Dực’
: ‘Hộc tức thị Hạc, âm chi chuyển ; hậu nhân dĩ hộc danh phả trứ vi hạc chi
ngoại biệt hữu sở vị Hộc. Cố ‘Tì Nhã’ ký hữu Hạc hựu hữu Hộc’.
/
Cách Trí Kính Nguyên. Qu. LXXVII. Điểu loại
1. Hạc (phụ Hộc) /.
‘Hộc.
Sách ‘Thuật Dị Ký’ nói: - Chim
Hộc
sống tới 100 năm thì lông cánh thành đó, sống đến 500 năm thì
biến sắc xanh lục, thêm 500 năm nữa thì lông chuyển ra màu trắng. Chim
Hộc sống tới 3000 tuổi’.
Sách
‘Nhĩ Nhã Dực’ nói : ‘Hộc tức Hạc, âm đọc
chuyển hóa ; người đời sau nhận thấy chim Hộc quá nổi tiếng
(trong Thi văn cổ) mà nói rằng ngoài hạc còn
có một giống chim gọi là Hộc nữa. Do đó
mà trong sách ‘Tí Nhã’ vừa có Hạc lại vừa
có Hộc’.
Trước Trần Nguyên Long
không lâu, Từng Thu (? - ?) vào
triều Minh (1368 - 1644), trong tập
Bút ký ‘Ngọc Chi Đường Đàm Hội’
(Qu. XXXIV. Tạo hạc),
cũng đã sao lục lại đoạn văn thường được gán là của
‘Thuật Dị Ký’ trên đây, chỉ khác là chữ ‘Hộc’,
Xét hai bản
‘Thuật Dị Ký’, một trong
‘Hán Ngụy Tùng Thư’
(Hiệu bản của Trình Vinh đời Minh)
và một trong bản ‘Cổ Tiểu Thuyết Câu Trầm’
của Chu Thụ Nhân (1881 - 1936)
thì không thấy có
đoạn văn dẫn trên. Chưa rõ Từng Thu và Trần Nguyên Long đã tham
khảo bản nào, hoặc cũng có thể đây là ‘dật văn’ của
‘Thuật Dị Ký’ được ghi lại trong một
Tác phẩm cổ nào đó Trình Vinh và Lỗ Tấn không biết ?
‘Tí Nhã’
của Lục Điền
(1042 - 1102) và
‘Nhĩ Nhã Dực’ của La Nguyện
(1136 - 1184) soạn.
Hai tác phẩm này nội dung
nói chung tương đồng, chuyên giải thích danh vật, phân Môn biệt
Loại theo thể lệ của sách ‘Nhĩ Nhã’
vì vậy mà Tựa sách có các danh xưng
‘Tí’ và ‘Dực’,
hai Chữ này đều có nghĩa là ‘phụ trợ’, có điều, Bộ
‘Nhĩ Nhã Dực’ dẫn cứ tinh xác, lý
luận chặt chẽ hơn Cuốn ‘Tì Nhã’
rất xa.
Hộc,
nói theo Việt ngữ là Ngỗng Trời.
Ngỗng trời
thuộc nhóm Hậu điểu, sống thành bầy ở các ven ao, hỉ phương Bắc.
Mỗi năm cứ vào cuối Thu
thì Ngỗng Trời bay về phương
Nam tìm nơi ấm áp, để tới
đầu Xuân sau lại quay trở về chốn cũ, di chuyển qua một đoạn đường dài,
có khi cả 5, 7 ngàn cây số, và có những lúc rổi đã phải băng qua sa mạc thăm
thẳm, núi non trùng điệp cao ngất, đôi lúc ở cao độ 7000 thước.
Chẳng hạn giống Ngỗng
Trời xám tro bên bờ hỉ Tchany trong vùng thảo nguyên Barbara ở phía
Tây Tây Bá Lợi Á mỗi năm, khi trời chớm lạnh, đã phải vượt một đoạn
đường dài là 3500 cây số để tới vùng thùng lũng bao la ấm áp ở lưu
vực Sông Hằng, ở Ấn Độ, băng ngang qua dãy Thiên Sơn
(cũng còn gọi Tuyết sơn, hay Bạch sơn)
ở cao độ 7000 thước, rồi tiếp đó là Sa mạc Takla Makan
(Takli Makan) trải dài khoảng 500
cây số, tiếp đó, lại phải băng qua những vùng cao nguyên của Tây Tạng,
và sau cùng là dãy Hi Mã Lạp sơn ở cao độ 8000 thước.
Trong chuyến viễn trình ngàn
dặm xuôi ngược Nam Bắc đó Ngỗng trời mỗi ngày bay trung bình 250
tới 350 cây số, trừ phi phải băng qua một vùng đặc biệt nào đó. Chẳng hạn
bầy Ngỗng trời xám kể trên đây khi băng qua Sa mạc Takla
Makan đã phải bay một mạch suốt 500 cây số chiều rộng của Sa mạc này.
Tốc độ di hành trung bình là 70 90 cây số / giờ. Ngỗng Trời
bay theo đội hình chữ V, mũi nhọn của chữ ở phía trước và đây cũng chính là vị
trí của con Ngỗng Trời đầu đàn.
Còn
với tuổi thọ của Ngỗng
Trời, chuyện Ngỗng Trời sống hai, ba ngàn năm, như một số
thư tịch cổ Trung Hoa nói dĩ nhiên là huyền tưởng. Bởi thế mà
có người cho rằng Hoàng Hộc trong
Thi văn cũng như Kinh Sử Trung Hoa
rồi không phải là Ngỗng Trời
mà chỉ là danh xưng phiếm chỉ một chủng loại chim lớn giả tưởng nào đó.
Tuy nhiên, cỏi ‘Vô hà hữu’ tự thiên cổ
vẫn là một cõi hết sức mênh mang trong thi văn, do đó, Ngỗng Trời
có sống tới hai, ba ngàn năm, hay hơn nữa, có là chim của tiên cỡi
thì đó cũng là chuyện rất thường.
Trên thực tế, tuy không sống
tới chừng đó năm nhưng Ngỗng Trời là một trong những con vật sống
khá lâu ; chẳng hạn giống Ngỗng Trời đen sống tới 100 năm,
Thiên Nga sống 200 năm.
Trong cuốn truyện thần tiên
rất hay về một bầy Ngỗng Trời và một chú bé tên
Nils Holgersson của nữ văn sĩ Thụy Điển
Selma Lagerlöf
(1858 - 1940),
Con Ngỗng Trời đầu đàn tên ‘Akka’
đã sống trên 100 tuổi và đây là thực tế trong cỏi thần tiên của truyện.
(Selma Lagerlöf là phụ
nữ đầu tiên trên thế giới được giải Nobel về Văn chương, năm 1909).
Lý Thời Trân
(1518 - 1593)
trong Bộ ‘Bản Thảo Cương Mục’, nói
chim Hộc cũng được gọi là Thiên Nga.
(Tham khảo
Qu. XLVII. Cầm bộ 1. Thủy Cầm. Hộc).
Ở đây xin đừng lẫn lộn
Thiên Nga kể trên với một giống chim chúng ta, người Việt Nam, thường gọi là
Thiên Nga. Khi nói Thiên Nga, người Trung Hoa nhằm chỉ
Ngỗng Trời ; còn ngỗng nhà họ chỉ đơn xưng là ‘Nga’. Thiên Nga
chúng ta thường gọi thì Sách ‘Ẩm Thiện Chính Yếu’ của Hốt Tư Huệ
( ? - ? ) đời Nguyên gọi là
‘Bất năng minh nga’
(tức Anh ngữ gọi là mute swan).
*
* *
Phụ chú.
+ Trữ Nhân
Hoạch không có ghi chú nào về Cố Lân.
Cố Lân
(1476 - 1545)
tên Tự là Hoa Ngọc và tên Hiệu là Đông Kiều Cư Sĩ,
Tiến sĩ trong khoảng Niên hiệu Hoằng Trị
(1488 - 1505),
quan chức đến Hình bộ Thượng thư, trong khoảng Niên hiệu Gia
Tĩnh
(1522 - 1545).
Cố Lân là một văn học gia tiếng tăm đời Minh, tính tình
khiêm cung, thích kết giao với các hiền sĩ. Sau khi từ quan trí sĩ, ông sửa sang
nhà cửa, vườn tược cho rộng lớn hơn để khách ghé thăm lưu ngụ, phòng ốc
trong nhà không lúc nào trống chỗ.
Ngoài ra,
Cố Lân còn là một Thư pháp gia sở trường 2 Thể ‘Hành thư’,
‘Thảo thư’, bút pháp ông cao nhã, cổ phác, phong cách sinh động như Thư
pháp Tấn triều
(265 - 420).
+
Tam Ty.
Là
3 cơ quan hợp thành cơ cấu Chính quyền địa phương ngày trước
về 3 phương diện
Dân sự,
Quân sự và Tư pháp.
Thời Minh 3 Ty này là :
‘Bố Chánh
Sứ Ty’
(Dân sự), ‘Đô Chỉ Huy Sứ Ty’
(Quân sự)
và
‘Án Sát Sứ Ty’
(Tư pháp).
Sau cùng, đã
đề cập ‘Hoàng
Hạc Lâu’
thì không thể không nhắc lại chuyện Lý Bạch
(701 - 762)
đưa tiễn Mạnh Hạo Nhiên
(689 - 740)
từ Hoàng Hạc Lâu đi Dương châu - hay nói cho rõ hơn là có thể nào
mà không nhắc lại bài Thất tuyệt vô cùng ý vị Lý Bạch đã
sáng tác trong buổi đưa tiễn Mạnh Hạo Nhiên :
Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng.
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương châu.
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường giang thiên tế lưu.
Dịch :
Lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng.
Nẻo
tây bạn rời Hoàng Hạc Lâu,
Sương hoa, xuân tận, xuống Dương
châu.
Cánh bủm bóng thẳm giữa trời biếc,
Chỉ thấy Trường giang trôi mãi đâu.
(Minh
Di
dịch).
Như bài thơ
cho biết, Mạnh Hạo Nhiên đi Dương châu vào tháng 3, tháng cuối Xuân, và
Xuân
ở đây là mùa Xuân năm thứ 15 Niên hiệu Khai Nguyên
(713 - 741), tức năm 727.
Mạnh Hạo
Nhiên đi Dương châu, và lưu lại đây mãi đến cuối năm mới trở về lại quê nhà ở
quận Tương Dương
(hiện nay là huyện Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc)
để năm sau - năm 728, ra Kinh đô Trường An ứng thí. Không đậu, từ đó ông từ bỏ
việc thi cử, sống đời ẩn dật.
Trong Tuyển
tập bình chú
‘Đường Thi Tam Bách
Thủ’
trứ danh của ông,
Hành Đường Thoái Sĩ đă phê câu
‘Yên hoa tam nguyệt há
Dương Châu’
là
‘thiên cổ lệ cú’.
(Hành Đường
Thoái Sĩ là tên Hiệu của Tôn Chu (1711 - 1778), Văn học gia Thanh
triều.
Việc chú thích
tuyển tập Đường thi này thực ra cũng có sự đóng góp của vợ ông là Từ
Lan Anh).
Trong tập
Nhật ký ‘Nhập
Thục Ký’
của Lục
Du triều Nam Tống đă đề cập trước đây - nhật ký ghi ngày 28
tháng 8 năm thứ 6 Niên hiệu Càn Đạo
(1165 - 1173),
tức năm
1170, có đoạn viết :
-. ‘Thái
Bạch đăng thử Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên thi vân :
Cô phàm viễn ánh bích sơn tận,
Duy kiến Trường giang thiên tế lưu.
Cái phàm
tường ánh viễn sơn vưu khả quan,
phi
giang hành cửu, bất năng tri dã.’.
/
Nhập Thục Ký.
Qu. V /.
-. ‘Thái Bạch lên Lầu này làm thơ đưa tiễn Mạnh Hạo Nhiên có câu
:
Cánh
bủm xa ánh giữa non biếc,
Hút mắt Trường giang trôi mãi đâu.
Nói chung,
(bóng)
bủm nổi bật giữa núi non xa trông hết sức đẹp mắt,
nếu chẳng phải là người đã từng qua lại trên sông lâu ngày thì không
thể (hình dung
mà) biết được
cảnh tượng này’.
(Ở đây, có thể
thấy ngay là, khác với các tuyển bản Đường thi hiện nay, hai chữ ‘viễn
ảnh’ Lục Du đã chép là ‘viễn ánh’, và hai chữ ‘bích không’
ông chép là ‘bích sơn’).
Một vài quyển
sách chú giải
Thi tập
của Lý Bạch cũng như tuyển tập chú giải Đường thi cũng đã
dẫn lại đoạn nhật ký trên đây của Lục Du, chỉ có mỗi một dị biệt
nhỏ là hai chữ ‘Cô phàm’
lại chép là ‘Chinh phàm’
(Cánh bủm xa).
‘Hoàng Hạc Lâu’
là một nỗi ‘tư hương’ man mác gói trong một cảm xúc bồi hồi mênh mang trước trời
đất bao la. ‘Hương
quan hà xứ’,
và chừng như chỉ
có người điên mới không nhớ nhà.
Lưu Vũ Tích
(772 - 842),
thi nhân trứ danh ký
Văn Đường,
có 9 bài Thất tuyệt có tựa đề chung là ‘Lăng Đào Sa từ’
trong đó bài thứ 4 tả cảnh ông đứng từ
Hoàng Hạc Lâu phóng tầm mắt nhìn ra bốn bề mênh mông...... nhìn qua bên
kia còn Anh Vũ :
Anh
Vũ châu đầu lăng chiếm sa,
Thanh lâu xuân vọng nhật tương tà.
Hàm nê yến tử tranh qui xá,
Độc tự củng phu bất ức gia.
(Lưu Vũ Tích.
Lăng Đào Sa từ Cửu thủ.
Ký Tứ).
Anh Vũ sóng còn cuốn cát xa,
Lầu xanh xuân ngóng bóng hỉ tà.
Ngậm bùn bầy én tranh về tổ,
Chỉ mỗi người điên chẳng nhớ nhà.
(Minh
Di
dịch).
+
Lăng Đào Sa
là tên
một Từ điệu, khai sáng từ Lưu Vũ Tích và Bạch Cư Dị
(772 - 846).
Khúc từ đơn
điệu gồm 28 chữ với 3 Bình vận, nói rõ hơn, từ điệu là một bài Thất ngôn Tuyệt
cú.
+
Thanh lâu
(Lầu sơn xanh) có nhiều nghĩa :
(1). Nơi cư
trú của giới hào phú, bậc quyền quí, hoặc đế vương.
(2). Chỗ ở của
người đẹp.
(3). Kỹ viện.
+ Bài Thất
tuyệt này có thuyết nói là của Trương Tịch
(765 - ~ 830).
Sự tình chưa
rơ thực hư, có điều âm hưởng ở đây gợi cho người đọc một bài Thất
Tuyệt khác của Lưu Vũ Tích, bài thứ hai trong năm bài
‘Kim Lăng Ngũ Đề’,
bài ‘Ô
Y Hạng’ :
Chu Tước kiều biên dă thảo hoa,
Ô Y hạng khẩu tịch dương tà.
Cựu lai Vương, Tạ đường tiền yến,
Phi nhập tầm thường bách tính gia.
(Lưu Vũ Tích).
Chu Tước
ven cầu loạn cỏ hoa,
Ô Y trước hẽm bóng dương tà.
Én xưa ngoài ngõ nhà Vương, Tạ,
Bay lượn vào nhà dân chúng ta.
(Minh
Di
dịch).
+ 2 chữ
‘Cựu lai’
ở đầu câu
3, hầu hết các tuyển bản Đường Thi đều chép là
‘Cựu thời’.
Ở đây tôi căn
cứ Bản ‘Lưu
Tân Khách Văn Tập’, Qu. XXIV, của Lưu Vũ Tích.
+
Chu Tước kiều.
Đông Tấn
đóng Đô ở Kiến Khang
(ở về phía Nam của Nam Kinh hiện nay).
Cửa Nam
thành Kiến Khang có tên ‘Chu Tước môn’, ở mé ngoài Cửa có
một cây Cầu lớn vắt ngang sông Tần Hoài. Ở gần đó có khu
Ô Y hạng, là khu cư trú của Hai đại tộc
Vương
và
Tạ
thời ấy. Khu Ô Y tọa lạc ở phía Đông nam Thị xã Nam Kinh,
tình Giang Tô, hiện nay.
+
Vương,
Tạ.
Vương đây
tức chỉ gia tộc họ Vương - là một thế gia vọng tộc về cả hai
phương diện Chính trị cũng như Văn học, Nghệ thuật ở cả hai
thời Tây Tấn
(265 - 317),
Đông Tấn
(317 - 420).
Tạ,
tức chỉ gia tộc của Tạ An
(320 - 385),
Tạ Thạch
(327 - 388),
Tạ Huyền
(343 - 388).
Họ Tạ
cũng là một
gia tộc quyền thế thời Đông Tấn, nhưng kém gia tộc họ Vương nói
trên.
Nói họ
Vương
thì không
thể không nhắc tới Vương Diễn
(256 - 311),
Vương Đôn
(266 - 324),
và Vương Đạo
(276 - 339).
Vương Đôn,
Vương Đạo đều là em con chú con bác với Vương Diễn.
Ba người
nói trên quyền hành khuynh loát trải suốt hai triều Tây Tấn và Đông
Tân ! Quyền hành của gia tộc họ Vương lớn tới nỗi đương thời thiên
hạ có câu :
‘Vương dữ Mã cộng thiên
hạ’
- nghĩa là
‘Họ Vương và
họ (Tư) Mã cùng nhau trị thiên hạ’.
Họ Tư Mã
tức tên họ của hoàng tộc triều Tấn.
Đã rõ, họ
Vương là một thế gia vọng tộc về cả hai phương diện Chính trị,
và Văn học, Nghệ thuật.
Nghệ thuật
nói đây là
nghệ thuật Thư pháp - và nói đến Thư pháp Tấn triều
thì không thể không nói tới gia tộc họ Vương, mà nói nhắc tới Thư pháp
gia tộc họ Vương thì không thể không đề cập cha con Vương Hi
Chi.
Năm thứ 9
Niên hiệu Vĩnh Hòa
(345 - 356) triều Tấn Mục đế
(343 – 361 ; tại vị :
345 - 361) -
vào ngày 3 tháng 3, năm Quí Sửu, Vương Hi Chi cùng bạn bè thân thích, và các con
ông, cộng tất cả 41 người - kể cả ông là 42, họp mặt ở Lan Đình, huyện Sơn Âm,
quận Cối Kê, để xuống sông mà làm lễ rũ sạch bụi bặm trên người, theo phong tục
cổ (gọi là Lễ ‘Phất
hệ’). Chính
trong dịp này Vương Hi Chi đã viết một bài văn ngắn tự thuật lại cuộc hội họp kể
trên và Bài văn này chính là bài
‘Lan Đình Tự’,
hay còn gọi ‘Lan
Đình Yến Tập Tự’, ‘Lan Đình Tập Tự’, ‘Lâm Hà Tự’ và ‘Hệ Tự’,
‘Hệ Thiếp’.
Danh xưng
‘Lan Đình Tập Tự’
có nghĩa ‘Tự
thuật về cuộc hội họp ở Lan Đình’.
(Về năm sinh,
năm tử của Vương Hi Chi có một số thuyết khác nhau : - Có thuyết nói 303 - 361,
có thuyết nói 307 - 365, có thuyết nói 321 - 379. Điểm chắc nhật là ông qua đời
năm 59 tuổi).
Về địa danh
Lan Đình, Tiền Vịnh
(1759 - 1844) viết :
-. ‘Lan
Đình tại
Sơn Âm huyện Tây nam nhị thập thất lý. Ký địa tương truyền vị Việt vương Câu
Tiễn chủng Lan xứ, nhân danh. Tấn Vương Hữu Quân
‘Khúc thủy Thi tự’
tức vu thử tác
dã. Do Lâu công
độ xả chu nhi đổ, ước hành ngũ, lục lý tức Thiên Chương tự. Đình tại Tự đông’.
/
Lý Viên Tùng
Thoại. Qu. XVIII. Cổ Tích - Lan Đình /.
-
‘Lan Đình
ở mạn Tây nam huyện Sơn Âm 27 dặm. Đất này tương truyền xưa là nơi Việt vương
Câu Tiễn trùng lan, nhân sự kiện này mà đất được gọi là Lan Đình. Bài
‘Khúc Thủy Thi tự’
của Vương Hữu Quân đời Tấn chính đã sáng tác tại đây. Từ bến đò Lâu công bố
thuyền lên bộ, đi độ 5, 6 dặm thì tới chùa Thiên Chương. Đình ở về phía đông
Chùa’.
Lan Đình,
còn được gọi là
Lan Chử,
hoặc Lan
Thượng Lý,
là một cái Đình hiện nay ở cách huyện Thiệu Hưng 27 dặm
(15.552 cây số) về phía Tây Nam, tỉnh Chiết Giang.
Bài ‘Lan
Đình Tập Tự’ gồm tất cả
324 chữ, phân ra 28 hàng, được viết trên loại giấy đặc chế từ kén con tằm
(kiển chi)
; về lông bút
thì đây là những sợi râu mép con chuột
(thử tu).
Theo truyền
thuyết, Vương Hi Chi thảo Bài
‘Lan Đình Tự’
trong lúc say. Sau đó, lúc đã tỉnh táo ông đã viết lại hơn chục bản nữa, nhưng
vẫn không sao hơn được Sơ bản viết lúc say.
Chữ viết
theo lối
Hành thư,
là Thư thể chủ yếu của thời Đông Tấn
(317 - 420).
Trong bài những chữ trùng điệp như
‘Chi’, ‘Dĩ’, ‘Vi’, ‘Dã’ - nhiều nhất là chữ
‘Chi’
(tất cả 20 Chữ ),
mỗi chữ là một tư thái, một kết cấu khác nhau, biến hóa sinh động
Trải các
triều đại sau đó, từ Đường triều
(618 - 907)
trở đi, và cho tới cả ngày nay, bức Tự thiếp
‘Lan Đình Tập Tự’
đã được các Thư pháp gia mệnh danh là
‘Thiên Hạ Đệ Nhất Hành
Thư’
- và
Thư pháp
gia trứ danh học theo tờ Tự thiếp này thời nào cũng có.
Đương thời,
Vương
Hi Chi
cùng mấy con là Vương Ngưng Chi
(? - 399),
Vương Huy Chi (? - ?), Vương Tháo Chi
(321 - 379),
Vương Hiến Chi
(344 - 386),
nhất là Hiến Chi, người nào tiếng tăm cũng rất lớn trong lãnh vực Thư pháp ! Và
trong giới Thư pháp, khi gọi
‘Nhị Vương’ thì điều này chuyên chỉ hai cha con
Vương Hi Chi, Vương Hiến
Chi.
Và
nói họ
Tạ
thì
không thể không nói tới trận chiến
Phì thủy
lừng danh trong lịch sử Trung Hoa.
Vào đầu
thời Đông Tấn, Năm Bộ tộc ở phương Bắc Trung Hoa cùng với một thiểu số
Hán
tộc
tại vùng Tây Thục
nổi lên chiếm cứ cả
một dải phương Bắc, trước sau kiến lập 16 Nước trong khoảng
hơn 100 năm, từ năm 320 tới năm 431. Sử gọi thời kỳ này là
Thập Lục Quốc,
hay Ngũ Hỉ Loạn
Hoa.
Năm Bộ tộc
(Ngũ Hỉ)
nhiễu loạn Trung Hoa nói trên đây là :
1/. Hung Nô,
2/. Tiên Ti
(tức Khiết Đơn)
3/. Yết.
4/. Đê.
5/. Khương.
Tiền Tần
(351 - 394),
thuộc
Đê tộc, là một
trong 16 Nước kể trên.
Phù Kiện
(317 - 355, tại
vị : 351 - 355),
vị vua khai sáng nước Tiền Tần, lúc lên ngôi, chủ trương tổ chức quốc gia theo
quan niệm Nho gia, chăm lo Chính sự, giảm thuế má.... Từ đó chính quyền
Tiền Tần vững mạnh dần. Trị nước mới 5 năm thì Phù Kiện bịnh chết. Con là Phù
Sinh (? - 357)
kế vị chưa được bao lâu thì bị anh họ là Phù Kiên
(cháu ruột Phù Kiện)
giết để cướp ngôi.
Phù Kiên
(338 – 385 ;
tại vị : 357 - 385) vẫn trọng
Nho học, khuyến khích
Nông
nghiệp, tằm
tang và quan tâm vận đề thủy lợi....... Bên cạnh đó, Phù Kiện cũng đẩy mạnh việc
huấn luyện quân sự và chỉnh đốn quân đội.
Kinh tế,
Văn hóa... ngày càng phát triển, Quân sự cũng trở nên hùng mạnh, quốc thế theo
đó mà vững mạnh hơn trước rất nhiều, để lần lượt tiêu diệt một số nước láng
giềng.
Năm 370,
Phù Kiên diệt Tiền Yên
(348 - 370), năm 376 tiêu diệt Tiền Lương
(320 - 376)
và cũng năm này thì diệt
nước Đại (338 -
376).
Hùng tâm
bừng bừng, năm 382, Phù Kiên triệu tập triều thần thương nghị việc Nam chinh,
đánh Đông Tấn, thống nhất Trung Hoa. Đình thần dâng biểu cực lực phản đối, chỉ
mỗi người sau này sáng lập nước Hậu Yên là Mộ Dung Thùy
(326 – 396 ; tại vị :
384 - 396) tán
đồng ! Ỷ vào binh lực hùng mạnh, tin chắc mình sẽ thắng, Phù Kiên gác ngoài tai
lời can của đình thần.
Tháng 8 năm
382, Phù Kiên kiểm điểm binh mã, chia ba đạo quân tiến xuống miền Nam.
Đạo quân
thứ nhất, đạo tiền phong, do Phù Dung
(? - 383)
em ruột Phù Kiên và Mộ Dung Thùy chỉ huy. Phù Kiên cũng tự dẫn đại quân theo sau
đạo tiền phong.
Đạo thứ 2
là quân binh ở U Châu
(nay là Trác huyện,
tỉnh Hà Bắc),
Ký Châu (Hà Bắc
+ Bắc bộ tỉnh Hà Nam) tiến xuống Bành Thành
(nay là huyện Đông Sơn
tỉnh Giang Tô).
Đạo thứ 3
là quân binh ở Lương Châu
(hai tỉnh Cam Túc, Ninh
Hạ, và lưu vực Hoàng Thủy, tỉnh Thanh Hải)
và Ích Châu (tỉnh
Tứ Xuyên) theo
Trường Giang, Hán Thủy tiến xuống mặt Đông.
Ba đạo quân kể
trên gồm 600,000 bộ binh, 270,000 kỵ binh, tất cả 870,000 quân.
Tháng 9, Phù Kiên tới
Hạng Thành (mặt
Đông bắc huyện Hạng Thành tỉnh Hà Nam).
Hậu đội ở Lương Châu, quân cũng vừa tới Hàm Dương
(hiện là huyện Kinh
Dương, tỉnh Thiểm Tây).
Phù Dung
chỉ huy 300,000 quân, trước đó cũng đă tới Dĩnh Khẩu
(hiện nay ở về phía
Đông nam huyện Dĩnh Thượng, tỉnh An Huy), chuẩn bị tấn công.
Về phía
Đông Tấn,
Tạ Thạch (327 -
388) tổng chỉ
huy quân đội, Tạ Huyền
(343 - 388)
và một số tướng phụ tá,
quân dưới tay chỉ có 80,000 quân, tức chỉ bằng 1 / 11 quân số Tiền
Tần.
Bấy giờ cả
nước Tấn đều kinh hoàng, chấn động trước thanh thế của quân Tiền Tần.
Tháng 10,
Phù Dung chiếm Thọ Dương
(tức Thọ Xuân, nay là Thọ huyện, tỉnh An Huy).
Phù Kiên để
đại quân ở Hạng Thành, chỉ dẫn 8,000 quân kỵ đến Thọ Dương, đồng thời lệnh cho
Chu Tự (? - 393),
tướng của Tấn bị bắt làm tù binh trước đó, qua gặp Tạ Thạch khuyên hàng, và
trong lúc nói chuyện, Chu Tự đã
ngầm khuyên
Tạ Thạch nên tấn công ngay trước khi quân binh của Tiền Tần tập hợp đầy đủ.
Tháng 11,
Tạ Huyền sai Lưu Lao Chi
(? - 402) dẫn 5,000 quân binh tinh nhuệ vượt khe
Lạc giản
(hiện ở mạn Tây
huyện Định Viễn, tỉnh An Huy) giao chiến ! Kết quả, quân Tiền Tần đại bại, các tướng Lương
Tha, Vương Hiển, Lương Đệ, Mộ Dung Khuất Thị bị bắt sống, và quân binh tử trận
tất cả 15,000 quân. Quân chủ lực của Đông Tấn thừa thắng tiến thẳng qua mặt Tây.
Phù Kiên
dàn trận ở mặt Tây
Phí Thủy
(Nam Phí hà ngày nay),
ở mé sông, chờ quân Tấn, vì vậy quân Tấn không sao qua sông được.
Tạ Huyền
cho Sứ giả qua nói với Phù Kiên, xin lui quân lại một đoạn để quân
Tấn
có
thể qua sông giao chiến, quân tướng của Phù Kiên đều nói nên trấn ở bờ sông cản
quân Tấn. Phù Kiên những
tưởng
có
thể thừa cơ quân
Tấn
vừa qua sông được một
mớ thì tức khắc xua mấy trăm ngàn quân thiết kỵ đổ ra tấn công, bởi vậy chấp
thuận yêu cầu của Tạ Huyền. Nhưng quân Tần vì quá đông cho nên, vừa triệt thoái
một cái thì không sao
kềm lại được. Tạ Huyền, Tạ Diệm, Hoàn Y lập tức dẫn 8,000 quân tinh
nhuệ vượt sông. Vừa qua sông, quân Đông Tấn lập tức tấn công ! Phù Dung chết
ngay ở trận này, và Phù Kiên cũng trúng tên bị thương ! Cùng lúc đó Chu Tự ở mé
sau quân Tần lại la lớn là quân Tần đã bại. Quân
Tần
lập tức cởi
giáp, bỏ binh khí ra hàng, đạp lên nhau tháo chạy tứ tán, chết đuối không biết
bao nhiêu mà kể, cả một khúc sông Phí thủy rồi bị tắc nghẽn không chảy được. Tạ
Huyền dẫn quân truy kích đến tận Thanh Cương
(mé Tây bắc Thọ huyện).
Quân Tiền
Tần chết đến quá nửa. Chừng Phù Kiên một mình một ngựa thoát chạy
đến
Hoài Bắc thì quân đội hoàn toàn tan rã ! Chỉ có 30,000 quân do Mộ Dung Thùy chỉ
huy là còn toàn vẹn.
Nhờ Mộ Dung
Thùy hộ tống Phù Kiên mới trở về đến Lạc Dương ! Dọc đường, thu thập tàn quân
cộng lại chỉ còn
hơn 100,000 quân.
Sách
‘Tấn Thư’
chép :
- ‘Dư
chúng
khí giáp
tiêu độn,
văn phong thanh,
hạc lệ giai dĩ
vi vương sư’.
/
Tấn Thư.
Qu.
LXXIX. Tạ Huyền truyện /.
- ‘Quân
còn lại bỏ giáp
chạy
trốn trong đêm,
nghe tiếng gió
thổi, tiếng
hạc kêu
thì đều tưởng là quân của triều đình
(đuổi theo)’.
Các tiếng
‘Phong thanh, hạc lệ’ sau này thành một thành ngữ có nghĩa là kinh sợ quá mức.
Từ
sau trận Phí Thủy kể trên Tiền Tần suy yếu để cuối cùng vào năm 394, tức sau
trận Phí Thủy 11 năm, thì bị
Tây Tần
(385 - 431) thuộc tộc
Tiên Ti tiêu diệt.
Trong thời
kỳ Thập
Lục Quốc
Tiên Tần là quốc gia hùng mạnh nhất trong 16 Nước. Vào thời kỳ cường thịnh nhất
cương vực Tiên Tần phía Bắc tận cùng ở Đại Sa mạc, phía Tây giáp các bộ tộc Tây
Vực, phía Nam tới Tứ Xuyên, mặt Đông tới lưu vực các sông Hoài, sông Tứ.
Sông
Phí Thủy
phát nguyên ở Bổng Tử Sơn ở phía Tây nam huyện Hợp Phì, tỉnh An Huy. Từ đây chảy
về phía Bắc 20 dặm rồi chia hai nhánh :
1). Một
nhánh chảy về hướng Đông bắc, chảy qua huyện
Hợp Phì
rồi từ huyện Hợp Phì chảy về hướng Đông nam để cuối cùng đổ vào Sào hỉ.
2). Nhánh
thứ 2 chảy theo hướng Tây bắc 200 dặm, đến Thọ Châu thì đổ vào sông Hoài.
Nhánh
này
còn có tên là Nam
Phí hà, hoặc
Đông Phí hà.
Tạ Huyền đánh bại quân Tiền Tần của Phù Kiên chính là ở nhánh
Nam Phí hà
này.
Bộ
‘Thế Thuyết Tân Ngữ’
của Lưu Nghĩa Khánh
(403 - 444)
kể :
-
‘Tạ
công dữ nhân vi kỳ - nga nhi Tạ Huyền Hoài thượng tín chí. Khán thư cánh,
mặc nhiên vô ngôn, từ hướng cục.
Khách vấn
Hoài Thượng lợi hại, đáp viết :
- Tiểu nhi
bối đại phá tặc.
Ư sắc, cử
chỉ bất dị ư thường’.
/
Thế Thuyết Tân
Ngữ.
Nhã Lượng
đệ Lục. 35 /.
-
‘Tạ
công và người đánh cờ vây - vừa đánh được một lúc thì có thư của Tạ Huyền từ
vùng sông Hoài gởi về. Coi thư xong
(Tạ công)
im lặng không nói gì, thong thả day qua bàn cờ đánh tiếp.
Khách
(đánh cờ)
hỏi tình hình vùng sông Hoài ra sao,
(Tạ công)
trả lời :
- Bọn trẻ
chúng nó thắng lớn giặc.
Sắc mặt, cử
chỉ chẳng khác chi lúc thường’.
Tạ công đề
cập trong đoạn văn trên tức chỉ
Tạ An.
Đương thời Tạ An là quan đầu triều.
Tạ Thạch là
em Tạ An, tổng chỉ huy quân Tấn triều, như đã nói ở đoạn trên.
Tạ Huyền là
cháu kêu Tạ An bằng chú ruột. Trong chiến tranh chống Tiền Tần này Tạ Huyền là
Đô đốc, chỉ huy cánh quân Tiền phong.
Văn chương
Cổ điển Việt Nam cũng có những câu đề cập trận chiến Phí Thủy nói trên.
Nguyễn Trãi
(1380 - 1442)
trong bài ‘Bình
Ngô Đại Cáo’
có câu :
Trần Trí,
Sơn Thọ văn phong nhi trĩ phách.
(Trần Trí,
Sơn Thọ nghe gió thoảng thôi đà hết vía).
Bản dịch
nôm ‘Chinh Phụ
Ngâm’ có
câu :
Non Kỳ quạnh
quẽ trăng treo,
Bến Phì
gió thổi đìu hiu mấy gò.
&
Đọc Hoàng
Hạc Lâu :
Tình / Cảnh
- Tích Xưa.
Cảnh / Tình.
Minh Di
bình.
Bốn Câu đầu
hết sức tự nhiên, như lời văn xuôi, như lời nói thường, thuận miệng nói ra, tự
thuật lại câu chuyện thời đã qua :
Tích nhân
dĩ thừa Hoàng Hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng hạc lâu.
Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tái không du du.
Cảm hứng
của thi nhân như hồi hỏa nhập sóng nước Đại giang trước Lầu, nên
khí
thơ cuồn cuộn
bất tuyệt chẳng chút ngưng trệ...... 3 tiếng ‘Hoàng Hạc’ trùng điệp càng làm cho
Mạch thơ thêm dồn dập........, và đây là điểm đại kỵ của
Luật thi,
nhưng ở bốn Câu này Thôi Hiệu đã sáng tác theo lối Tản điệu biến cách, và cú
pháp hoàn toàn là cú pháp của thể Cổ thi.
Người xưa
đã cỡi Hạc đi mất, chỉ còn lại một Lầu chơ vơ !
Chỉ còn Mây
trắng lặng lờ trôi ! Nhưng một thoáng
Người
và Hạc
ghé qua Lầu rồi đi mất, trước đó ‘Ngàn năm Mây trắng’ vẫn trôi, trôi không biết
tự thuở nào, và không biết thuở nào tan !
Khi nghinh
ngang hỏi vặn
- ‘Lẽ nào trên đời
lại có Mây trắng ngàn năm ! ?’ Kim Thánh Thán đã để lộ cái ‘tục khí’ của một kẻ
phàm tục ‘thắc mắc’ chuyện Tiên. Thân ông quá trầm, trọc để có thể siêu, thoát
theo đám Mây trắng ‘vô tận thì’, theo một cánh Hạc tiên về cỏi ngàn năm kia !
Kim Thánh
Thán cho rằng bốn Câu sau tuyệt diệu ở chỗ mạch lạc chẳng mảy may dính dáng gì
tới bốn câu trước. Đây cũng chính là điều
Luật thi
đã qui định, rằng đoạn.
Chuyển
(câu 5, câu 6)
dù ý tương ứng, hay tương tị
(cách nhau, chẳng liên
hệ với nhau) với đoạn Thừa
(câu 3 - câu 4),
cũng phải biến hóa muôn vẻ, đột ngột, khiến người đọc phải kinh ngạc, sững sờ !
Tuy nhiên,
Kim Thánh Thán chỉ mới luận được cái tương tị, chưa luận xa nữa để nhận ra được
cái tương ứng giữa hai đoạn Thừa và Chuyển. Chỉ buông lửng một câu như vô ý :
Bạch vân
thiên tái không du du !
mà cảnh, mà tình,
trong 4 câu sau đó bỗng lan, bỗng trải... xa vời Sáu Cỏi ! ‘Ngôn bất tận ý’ nên
ngàn năm (thiên
tái) tức vạn
năm, triệu năm, vô tận thời....
Cây bên kia
bờ Hán Dương ‘lớp lớp’, Cỏ bên kia bãi Anh Vũ ‘xanh xanh’....... trước ta, và
sau ta
(Thôi Hiệu)
thiên tái, vô tận bờ ấy, bãi ấy, vẫn lớp lớp, vẫn xanh xanh........ cây cỏ ;
dầu khi ta có rời Lầu đi mất thì
trời chiều
(nhật mộ)
vẫn
chiều,
khói,
sóng
(yên, ba) vẫn
cứ lăng đăng, vẫn cứ ‘thệ giả như tư’....
Giữa lúc mà
tình tự trải ngát ‘thiên tái’ xưa / sau như vậy thì lẽ nào rồi ‘Hương quan hà xứ ?’ lại chỉ
thu hẹp ở một dải
Biện Châu
(Quê nhà của Thôi Hiệu)
- như Cù Hựu đã nhận định
(thiển, cận)
trong ‘Qui Điền
Thi Thoại’
(coi lại đoạn đă
dẫn trước đây).
Nếu nhận định lại Câu này
(câu 7)
và Câu
‘Trường An bất kiến sử nhân sầu !’
của Lý Bạch thì phải nói là hai tiếng ‘Hương
quan’ của Thôi
Hiệu bao la, khoát đạt, sâu sắc hơn hai tiếng ‘Trường
An’
(Kinh đô Đường triều)
nhiều lắm !
Tình tự của Lý
Bạch chỉ trải ra cho một cá nhân (vua), trong khi, tình tự của Thôi Hiệu
là tình tự của con người nói chung, sự hơn kém rồi từ điểm này mà rõ.
Người đã bỏ
một Quê nhà đâu đó
(hà xứ)
để theo cánh Hạc về cỏi ‘Vô hà hữu’ thì rồi có nơi nào không là Quê nhà trên
khắp sông núi này ? Và
‘Yên ba giang thượng sử
nhân sầu !’ và sầu đây là sầu gì nếu không là Sầu vì con người nhỏ bé trước
Trời, Đất mênh mang vô tận......?
Hơi thơ
có lúc cuồn cuộn, dồn dập....... như
Đại giang đổ vào
‘3 Hẽm Núi’
(4 Câu trước),
có lúc lững lờ như xuôi qua đ̉ng bằng
(4 Câu sau),
nhưng, trước sau nhất quán, chẳng hề ngưng đọng ở một điểm nào !

*
* *