Trang Chính | Từ Đàm Hải Ngoại | Thiền Phái Trúc Lâm | Phật Pháp
Pháp Âm
| |Tin Tức Phật Giáo | Tổng Vụ Cư Sĩ | Tin Tức Sinh Hoạt |  Nối kết | Hình ảnh
Thư tịch H.T. Trí Chơn | Thư tịch H.T. Tín Nghĩa
| Những Bài Đoản Văn | Vườn Thơ

Please press HOME to go back to the main web page

HOME

Những Bài Đoản Văn



 

Vườn Thơ
***************

 

 



 

 

HOÀNG HẠC LÂU Phần Hai

 

*

*   *

Hương Quan Hà Xứ ?

01 - 45 (54).

 

*

*   *

Hoàng Hạc Lâu.

 

Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.

Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tái không du du !

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

Nhật mộ Hương Quan hà xứ thị ?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu !

 

                                                                             (Thôi Hiệu).

 

                        Dịch :

Lầu Hoàng Hạc.

 

Người xưa đã cùng Hoàng Hạc vút,

Trơ lại chốn này Hoàng Hạc Lâu.

Hoàng Hạc vút cánh vút vạn thuở,

Bạch vân trôi mãi trôi ngàn thu !

Hán Dương lớp lớp cây mờ biếc,

Anh Vũ xanh xanh cỏ ngát màu.

Trời khuất Quê Nhà đâu đó hỡi ?

Trên sông khói sóng khiến người sầu !

 

                                                                                 (Minh Di dịch).

           

*

*   *

 

Chú thích :

 

Bài ‘Hoàng Hạc Lâu’ trong Toàn Đường Thi có một vài Chữ ghi khác với Bản đang lưu hành, trong hai câu :

 

Câu 1 : - ‘Hoàng Hạc khứ’, chép Bạch Vân khứ’.

 

Câu 6 : - ‘Phương thảo, chép Xuân thảo.

 

Ngoài ra, Toàn Đường Thi còn nêu một vài chữ chép khác của một vài câu trong một số Bản khác:

 

Câu 2 : - ‘Thử địa’, có Bản chép Tư địa, ‘Không dư’ có Bản chép Không lưu.

 

Câu 5 : - ‘Hán Dương thụ’, có Bản chép Hán Dương thành.

 

Câu 6 : - ‘Thê thê’, có Bản chép Thanh thanh.

 

Câu 7 : - ‘Hà xứ thị’, có Bản chép Hà xứ tại’.

 

Minh Di án.

 

Câu 6 : - ‘Phương thảo thê thê Anh Vũ châu’.

 

Về mặt xuất xứ, hai chữ thê thêở đây có lẽ phải hơn là thanh thanh vì bài ‘Chiêu Ẩn Sĩ’ trong Tập Sở Từ có câu :

 

Xuân thảo sinh hề thê thê.

Cỏ xuân mọc khá xum xuê.

 

Và như vậy, Câu 6, nếu Toàn Đường Thi ghi là Xuân thảo thay vì Phương thảo chính là đã căn cứ câu đă dẫn trên của bài ‘Chiêu Ẩn Sĩ’.

Tuy nhiên, về ý nghĩa xum xuê (thê thê) cũng hàm ý xanh xanh (thanh thanh) cho nên như có chép ‘thanh thanh’ cũng chẳng hại chi đến thi ý.

                                                                           &

 

Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu. Lược sử. 

 

Lầu Hoàng Hạc ở phía Tây huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc.

 

Lầu cao vào khoảng 30 thước ngoài, lại nằm chót vót trên vọng gác của Hán Dương môn, Thành Xương, nơi vách đá cheo leo của bãi Hoàng Hộc, ở về hướng Tây bắc Hoàng Hộc sơn  cũng được gọi là Hoàng Hạc sơn, hay Xà sơn.

 

Đây là Lầu Hoàng Hạc vào cuối thế k̀ 17.

 

Từ Lầu nhìn ra bao quát cả một vùng bát ngát sông núi, bến bãi.... phong cảnh tuyệt đẹp; bên kia sông là mặt Đông huyện thành Hán Dương, nằm trên núi Qui sơn.

Trước Lầu có bảo tháp Bạch Thạch kiến trúc theo mô thức tháp của A Dục vương (tức Asoka, tên của một ông vua Ấn Độ :  264 - 228 trước Công nguyên) rất công phu, mĩ thuật. Bốn mặt Tháp đều tạc Phạn ngữ cỡ chữ rất lớn. Tháp xây bằng đá trắng vì vậy mà có tên Bạch Thạch.

 

Phía Nam Lầu có bảo tháp Thắng Tượng do Uy Thắng vương Thái tử cho xây lên năm 1343 triều Nguyên Thuận đế (1320 – 1370 ;  tại vị : 1333 – 1368) ;  hậu thế gọi tháp này là Minh Đăng do đó đã có truyền thuyết sai lầm đây là mộ Khổng Minh (181 - 234). Tháp cũng bằng đá trắng, và cao 9.36 thước, có 3 tầng, tầng dưới cùng tạc hình tòa Sen, chu vi khoảng 5 thước. Trên các mặt tháp khắc hình sư tử, voi, phụng hoàng. Tuy trải mưa nắng, thời gian, nhưng, cho đến nay nhìn những hình này người ta vẫn có thể nhận ra được những nét tinh tế của một tác phẩm nghệ thuật.

 

Cũng ở phía Nam lầu Hoàng Hạc là một cái đài cao, hình vuông, có tên Dũng Nguyệt đài. Ở đây có một tảng đá thô kệch, màu vàng, trên mặt đá khắc 3 chữ ‘Dũng Nguyệt Đài’ thật lớn, Nét chữ cổ kính, cứng cỏi, và vô cùng sắc xảo.

 

Theo truyền thuyết thì 3 Chữ này là thủ bút của Ngụy Vũ đế Tào Mạnh Đức (155 - 220).  Thực ra, Dũng Nguyệt Đài cho tới thời Triệu Tống (960 - 1279) mới được Hoàng Đào (? - ?) cho xây. Danh xưng ‘Dũng Nguyệt Đài’ thực ra đã bắt ngủn từ câu thơ ‘Nguyệt dũng Đại giang lưu’ trong bài Ngũ ngôn luật thi có tựa đề Lữ dạ Thư hoài của thi hào Đỗ Phủ (712 - 770) đời Đường (618 - 907). Hơn nữa, Tào Tháo vẫn chưa một lần đặt chân tới chốn này, do đó đây cũng chỉ là một truyền thuyết sai lầm.

 

Mặt sau Hoàng Hạc Lâu có một Đạo viện cực kỳ mĩ lệ. Trước Đạo viện treo một tấm bảng đề 2 chữ ‘Giác Ngạn’. Trong Đạo viện có tượng Lữ Động Tân nằm ngủ. Đạo viện có một cái Đình tên gọi là ‘Tiên Tảo’; về phía Nam đình Tiên Tảo có một cái cổng nhỏ vị trí cách mặt đất cả trăm thước, có bực đá xây quanh co đi lần xuống.

 

Hoàng Hạc Lâu nhìn ra Đại giang (tức Trường giang)Anh Vũ châu là cái cù lao giữa giòng Trường giang ở về mé Nam ngạn, trệch về hướng Tây Nam huyện Vũ Xương. Vào khoảng cuối triều Đông Hán (25 - 220), Hoàng Xạ (? - ?), con trai trưởng Hoàng Tổ (? - ?), Thái thú tại vùng Giang Hạ, đại hội tân khách trên Cù lao này ;  dịp đại hội có người đã tặng chim két và một trong số tân khách là Nễ Hành (173 - 198) đã nhân đó viết bài phú ‘Anh Vũ’. Sau Bài phú vừa kể, Cù lao được đặt tên là Anh Vũ (Chim két). Ít lâu sau đó chỉ vì một câu nói nghịch ý Hoàng Tổ ra lệnh giết Nễ Hành và cho chôn ngay trên ‘Cù lao Két’ này.

 

Bên kia Trường giang, ở hướng Đông bắc huyện Hán Dương ở tại chân núi phía Đông của dãy Đại Biệt sơn (theo thiên ‘Vũ Cống’, sách Thượng Thư  các Tên sau này là Lỗ sơn, Qui sơnTắng sơn, Dực Tế sơn), đối diện Hoàng Hạc Lâu, là ‘Tĩnh Xuyên Các’ được một Tri phủ tên là Phạm Chi Châm (? - ?)  đời Minh cho xây, cảm hứng từ câu ‘Tình xuyên lịch lịch...’.

 

Hoàng Hạc Lâu và một số phong cảnh xa gần chung quanh Lầu tự thuật trên đây được dẫn ở tập Bút ký Quảng Dương Tạp Ký (Qu. IV. Tham khảo các đoạn 64, 72, 75) của học giả, Sử học gia Lưu Hiến Đình (1648 - 1695) đời Thanh.

                                                                           

 

 

Hoàng Hạc Lâu nằm trên đầu thành Vũ Xương.

 

Thành Vũ Xương được Tôn Quyền (182 - 252, tại vị :  229 - 252) cho xây vào năm 221 vào đầu thời Tam Quốc (220 - 280). Thời này thành có tên Hạ Khẩu.

 

Theo truyền thuyết Lầu Hoàng Hạc đã được kiến tạo sau đó 2 năm, tức năm 223.

 

Qua bao hưng phế, ‘vật hoán tinh di’, Lầu đã trải qua nhiều lần tu bổ cũng như sửa sang, có điều tên gọi Hoàng Hạc Lâu thì mãi tới khoảng đời Lương (502 - 557) mới bắt đầu được nhắc tới.

 

Về nguồn gốc danh xưng Hoàng Hạc Lâu, người ta thường đề cập một số thuyết sau :

 

Cuốn Thái Bình Hoàn Vũ Ký (Qu. CXII. Vũ Xương phủ)  thường được gọi dưới tên giản lượcHoàn Vũ Ký, của Nhạc Sử (930 – 1007) chép rằng Phí Văn Vi đắc đạo lên cỡi tiên, sau đó cỡi Hạc vàng ngh̀ nơi Lầu đó, vì vậy người ta lấy hai chữ Hoàng Hạc mà đặt tên Lầu.

 

Trước đó mấy trăm năm, sách Tục Tề Hài Ký của Ngô Quân (469 - 520) thời Lương lại chép là người tiên Tử An xưa cỡi Hạc vàng qua đây, sau đó người ta mới gọi LầuLầu Hoàng Hạc.

 

Sách Nam Tề Thư của Tiêu Tử Hiển (489 - 537), cũng đời Lương, cũng chép Sự tích Tử An, có khác một điểm là ở đây Tử An cỡi Hoàng Hộc (Ngỗng Trời Vàng), không phải Hoàng Hạc:

 

‘Hạ Khẩu thành cứ Hoàng Hộc cơ, thế truyền tiên nhân Tử An thừa hoàng hộc quá thử thượng  dã’.

 

 Nam Tề Thư.  (Qu. XV. Chí 7. Châu Quận. Hạ)

 

‘Thành Hạ Khẩu ở băi Hoàng Hộc, người đời tương truyền người tiên Tử An (xưa đă từng cỡi) Ngỗng trời vàng qua đây ghé Lầu này’.

 

Về các danh xưng Hoàng HạcHoàng Hộc thì Lưu Hiến Đình (1648 - 1695), thuật giả của tập Bút kí Quảng Dương Tạp Ký đã đề cập ở Một đoạn trước đây, đă viết như sau :

         

‘Dư ý Hoàng Hạc lâu tức Hoàng hộc cơ, hậu nhân ngoa Hộc vi Hạc nhi phụ hội dĩ Phí Văn Vi sự. Nhật kinh Thôi Khảo công đề nhi Thanh Liên các bút dĩ thành thiên thu thiết án ;  nãi kim hựu chuyển nhi vi Lữ Thuần Dương. Tự kinh tam tả, Ô, Yên thành Mã, thiên hạ sự dĩ vãng dã giai thành lãnh phong, đăng yên, hựu hà thị phi khả luận !  Chủ yếu sự lý xán nhiên, duyệt nhân nhĩ mục, ngô dịch nhiệm chi hĩ !  Hựu an ṭng khởi cổ nhân vu cửu kinh nhi vấn ky quả nhiên, quả bất nhiên gia ? !  Vô nại triển chuyển hoang mậu, từ bát nhã tuần, lệnh nhân nan vi thính nhĩ !’.

 

 Quảng Dương Tạp Ký. (Qu. IV. 73).

 

 ‘Theo ý tôi, Hoàng Hạc lâu tức Hoàng Hộc cơ, người đời sau lầm chữ Hộc thành chữ Hạc, lại thêm thắt với chuyện Phí Văn Vi. Trải Thôi Khảo Công đề thơ và Thanh Liên phải gác bút thì sự việc đã thành thiên thu định luận. Và bây giờ, Lầu lại thành nơi phụng tự Lữ Thuần Dương. Chữ sao đi chép lại chữ Ô, chữ Yên r̉i thành chữ , việc trong thiên hạ những gì đã qua đều thành gió lạnh, khói nhạt biết đâu phải, trái mà luận. Chỉ cần sự lý rõ ràng, hiển nhiên, vui tai, vui mắt mọi người thì tôi cũng cố mà gánh vác đi !  Bây giờ không lẽ phải theo cổ nhân dưới lòng đất sâu để hỏi chuyện quả nhiên hay không quả nhiên sao ? !  Nhưng, chuyện gì dầu sai lạc tới đâu đi nữa mà ngôn từ không đẹp đẽ, hay ho th́ cũng khó mà khiến người ta nghe theo !’.

 

Xa hơn nữa, Ngô Sư Đạo (1283 - 1344) đời Nguyên (1279 - 1368) viết :

 

 ‘Thôi Hiệu ‘Hoàng Hạc Lâu’ thi đề hạ tự chú vân :  ‘Hoàng Hạc, nhân danh dã’.

Ḱ Thi vân’Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ, thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu’.

 

Vân ‘thừa bạch vân’ tắc phi thừa hạc hĩ !  Đề kinh tái Phí Văn Vi đăng tiên giá hạc vu thử ; Tề Hài Chí tái tiên nhân Tử An thừa hoàng hạc quá thử, giai nhân hoàng hạc nhi vi chi thuyết giả. Đương dĩ Hiệu chi tự chú vi chính.

 

Trương Nam Hiên biên Phí Văn Vi sự vọng, vị Hoàng Hạc dĩ sơn đắc danh  hoặc giả Sơn nhân Nhân nhi danh chi dư ? !’.

 

 Ngô Lễ Bộ Thi Thoại. 08 .

 

 ‘Dưới tựa bài Thơ, Thôi Hiệu tự chú thích, nói :  ‘Hoàng Hạc là tên người’.

 

Bài Thơ nói :  ‘Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ, thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu’

 

Nói ‘cỡi mây trắng’ tức không phải là cỡi hạc rồi’.  Sách ‘Đề Kinh’ kể sự tích Phí Văn Vi lên tiên cỡi hạc qua đó ;  và Sách Tề Hài Ký kể chuyện người tiên Tử An cỡi hạc vàng qua đó, tất cả đều nhân chuyện con hạc vàng mà lập thuyết. Nên coi lời tự chú của Thôi Hiệu thì  phải hơn !

Trương Nam Hiên đă nêu ra tính cách hoang đường của sự  hoặctích Phí Văn Vi, và cho rằng Tên gọi Hoàng Hạc đă bắt ngủn từ tên núi  tên Núi đã nhân tên Người mà ra chăng ? !’

                                                                            

    Một Con Ngỗng Trời.

 

Minh Di án.

 

Lưu Hiến Đình đă hữu lí khi nói rằng Chữ phải là Hoàng Hộc chứ không là Hoàng Hạc.

 

Và như vậy câu mở đầu bài ‘Hoàng Hạc Lâu’ phải là :

 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hộc khứ’.

 

Và, các chữ Hoàng Hạc trong hai câu câu 2 và câu 3, cho đến Tựa đề Bài thơ, tất cả đều phải hoàng hộc.

 

Có điều Lưu Hiến Đình đă không luận vấn đề sâu, xa hơn nữa.

 

Đại Tượng từ Quẻ  Gia Nhân (Tốn / Ly) nói :  - ‘Ngôn hữu Vật nhi Hành hữu Hằng’.

 

Nếu như Thôi Hiệu có nói ‘Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hộc khứ’ thì đây cũng làngôn hữu Vật’.

 

Có thể nói vấn đề, có thể gọi đây là một vấn đề, Hạc hay Hộc là một vấn đề thú vị trong văn học Cổ điển Trung Quốc, vì vậy, có lẽ cũng nên tạm ngưng một lúc nói về Lầu Hoàng Hạc để coi là học giả các thời luận ra sao về vấn đề này.

 

Quế Phức (1736 - 1805) chứng nghĩa chữ Hộc, đă trích dẫn bộ Ngọc Thiên của Văn tự học gia Cố Dã Vương (519 - 581), viết :

 

 ‘Hộc. Hoàng hộc, tiên nhân sở thừa’, nghĩa là ‘Hộc. (Tức) Hoàng hộc, là chim của tiên cỡi’.

 

Thuyết Văn Giải Tự Nghĩa Chứng. Qu. X /.

 

Đoàn Ngọc Tài (1735 - 1815), cuối phần chú giải chữ Hộc, đã kết luận như sau :

 

‘Phàm Kinh Sử ngôn Hồng hộc giả giai vị Hoàng hộc dã ;  hoặc đơn ngôn Hộc, hoặc đơn ngôn Hồng’.

 

‘Tóm lại, Kinh, Sử khi nói Hồng hộc thì tất cả đều nhằm chỉ Hoàng hộc ;  còn nếu đơn xưng thì hoặc gọi Hộc, hoặc gọi Hồng’.

 

Và cuối phần chú giải chữ Hồng, liền sau chữ Hộc, ông viết :

 

 ‘Đơn hô Hộc, lụy hô Hoàng hộc, Hồng hộc. Hoàng ngôn ký sắc ;  Hồng chi ngôn hồng dã, ngôn kỳ đại dã’.

 

‘Đơn danh thì gọi Hộc, điệp danh thì gọi Hoàng hộc, Hồng hộc. Hoàng chỉ sắc của lông chim ;  Hồng có nghĩa là lớn, ý nói thân hình to lớn của chim’.

 

(2 đoạn văn trên đây của Đoàn Ngọc Tài, xin coi : Thuyết Văn Giải Tự Chú. Đệ tứ thiên).

 

Cứ giải thuyết trên đây của Đoàn Ngọc Tài thì Kinh, Sử cổ đề cập Hoàng Hộc rất nhiều chỉ kể một số trong nhiều tác phẩm trứ danh sau đây :

 

(1). Dịch Kinh.    Quẻ Tiệm (Tốn / Cấn).

 

(2). Thi Kinh.      Bân Phong. Cửu vực.

 

(3). Lễ Ký.            Khúc Lễ thượng.

 

(4). Sử Ký.            Qu. XLVIII. Thế Gia 18.  Trần Thiệp thế gia.  

                             Qu. LV. Thế Gia 25.   Lưu Hầu thế gia.

 

(5). Hán Thư.      Qu. VII. Bản kỳ 7.   Chiêu đế kỷ.

 

(6). Chiến Quốc Sách.   Qu. XVII. Sở Sách 4. Trang Tân vị Sở Tương vương.

                                       Qu. XX. Triệu Sách 3. Thuyết Trương Tướng quốc.

 

(7). Trang Tử.      Ngoại Thiên. Thiên vận.

                            Tạp Thiên. Canh Tang Sở.

 

(8). Thi Tử.          Qu. Hạ.

 

(9). Hàn Thi Ngoại Truyện.   Qu. VI.

 

(10). Hoài Nam Tử.               Qu. VI. Lâm Minh huấn.

 

(11). Bảo Phác Tử Nội Thiên.   Qu. III. Đối Tục.

 

(12). Thuật Dị Ký.   Qu. Thượng.

 

(13). Cấp Tựu Thiên Chú Bổ Chú.   Qu. IV.

 

(14). Sở Từ.   Qu. III. Thiên Văn.

 

                      Qu. VI. Bốc Cư.

                      Qu. IX. Chiêu Hồn.

                      Qu. X. Đại Chiêu.

                      Qu. XI. Tích Thệ.

                      Qu.XIII. Thất Gián. Sơ Phóng.

 

Trong Thư tịch cổ, Hoàng Hộc là hình ảnh tượng trưng cho một người có tư tưởng cao xa cũng như phẩm hạnh thanh cao.

 

Thi Giảo (390 - 330) thời Chiến Quốc (403 - 221 tr. Cn.)  nói :

 

‘Hổ báo chi câu, vị thành văn nhi hữu thực ngưu chi khí ;  hồng, hộc chi cấu, vũ dực vị toàn nhi hữu tứ hải chi tâm. Hiền giả chi sinh dịch nhiên’.

 

Thi Tử. Qu. Hạ  /.

 

          ‘Cọp con, beo con từ thuở chưa có khoang, có đốm thì đã có cái khí thế vì bắt trâu [bò] ;  chim hồng, hộc, từ lúc chưa đủ lông cánh thì đã có cái chí hướng tung bay bốn biển. Bậc hiền năng từ lúc mới sinh ra thì cũng vậy’.

 

Giả Nghị (200 - 168 tr. Cn), Tư tưởng gia, chính trị gia triều Tây Hán (206 tr. Cn. - 08), cũng đã viết trong bài Sở từ ‘Tích Thệ’ như sau :

 

 ‘Hoàng hộc chi nhất cử hề, tri sơn xuyên chi vu khúc ;  tái cử hề, đổ thiên địa chi viên phương... Hoàng hộc hậu thời nhi ký xứ hề, xuy kiêu quần nhi chế chi ;  Thần long thất thủy nhi lục cư hề vị lâu nghị chi sở tài.

 

Phù Hoàng hộc, Thần long do như thử hề, huống hiền giả chi phùng loạn thế tai!’. 

 

Hoàng hộc vừa vút lên đã hay biết sông núi quanh co ;  vút lên nữa thì biết được trời đất kia là mênh mông...... Hoàng hộc vừa lỡ độ tới chốn dừng cánh, loài cú đã kết bầy chận lối ;  Thần long mắc cạn phải lên bờ để rồi bị loài sâu kiến chế ngự.

 

Hoàng hộc, Thần long mà còn bị vậy nữa là bậc hiền năng mà gặp thời loạn !’.

Tư Mã Thiên (145 - 86? tr. Cn.), Sử gia trứ danh thời Tây Hán viết :

 

 ‘Trần Thiệp thiếu thời thường dữ nhân dung canh. Triệt canh chi lũng thượng, trướng hận cửu chi viết :  ‘Cẩu phú quí vô tương vong !’.

 

Dung giả tiếu nhi ứng viết : ‘Nhược vi dung canh, hà phú quí dã ?’.

 

Trần Thiệp thái tức viết : ‘Ta hề yến, tước an tri Hồng Hộc chi chí tai ? !’.

 

Sử Ký. Qu. XLVIII. Thế Gia 18. Trần Thiệp thế gia  /.

 

 ‘Trần Thiệp thuở còn trẻ có thời cùng người đi cày mướn. Có một lần vào giờ nghỉ ngơi ở trên bờ đê rầu rĩ, bồi hồi giờ lâu rồi nói : ‘Sau này nếu có phú quí rồi không quên nhau đâu !’.

Những kẻ đi cày mướn cười nói lại rằng : ‘Cứ đi cày mướn thế này thì phú quí ngă nào đây ?’.

Trần Thiệp chép miệng thở dài, nói :  ‘Hỡi ơi, chim én, chim sẻ làm sao mà hiểu nổi cái chí của chim Hồng Hộc đây ? !’’.

                                                                           

 Hoàng Hộc là chim của Tiên cỡi, Văn tự huân cổ học gia nổi tiếng Cố Dã Vương đã chép rõ trong bộ Tự điển Ngọc Thiên.

 

Đây chỉ là một trong nhiều truyền thuyết về Hoàng Hộc (hay Hồng Hộc).

 

Trước đó nữa, Cát Hồng (283 - 363) thời Đông Tấn (317 - 420) đã nói:

 

          ‘Ngọc Sách Ký viết : ... Thiên tuế chi Hạc tùy thời nhi minh, năng đăng ư mộc ;  kỳ vị thiên tái giả chung bất tập ư thụ thượng dã ;  sắc thuần bạch nhi não tận thành đơn’.

Bảo Phác Tử Nội Thiên. Qu. III. Đối Tục  /.

 

Bộ ‘Ngọc Sách Ký’ nói :  ...  Hạc ngàn tuổi th́ có thể tùy ý cất tiếng kêu, có thể leo lên cây ;  còn chưa đủ ngàn năm thì chẳng khi nào tụ tập trên cây ;  sắc lông khi đã thuần trắng thì toàn não bộ rồi hóa thành đơn dược’.

 

Chú thích chữ Hạc trong đoạn trên, Vương Minh viết :

 

 Hiệu Khám Ký : - ‘Hạc, ‘Ngự Lâm cửu bách thập lục tác ‘Hộc’, dẫn tại ‘Hộc môn’.

 

Án :  Đương tác Hộc.’.

 

‘Sách Hiệu Khám Ký chép :  - ‘Chữ Hạc, sách Ngự Lâm, quyển CMXVI  chép là ‘Hộc’, dẫn ở mục nói về chim Hộc’.

 

Án :  Phải chép là Hộc’.

 

(Sách Hiệu Khám Ký ở đây tức chỉ Bảo Phác Tử Nội Thiên Hiệu Khám Ký gọi giản lược, do hai tác giả Kế XươngTrần Ký Vinh soạn.

 

Sách Ngự Lâm tức Thái Bình Ngự Lâm gọi giản lược, do một ban biên tập 14 người biên soạn, chủ biênLý Phương (925 - 996), theo lệnh Tống Thái tông  (939 – 997 ;  tại vị :  976 - 997).

 

Tác phẩm khởi soạn năm 977, hoàn tất năm 983, gồm 1000 Quyển.

 

Theo Tống Mẫn Cầu (1019 - 1079) trong tập Bút ký Xuân Minh Thoái Triều Lục (Qu. Hạ) thì lúc đầu sách có tên là Thái Bình Tổng Loại. Sách biên soạn xong, Tống thái tông cứ mỗi ngày coi Ba Quyển, giáp năm thì cũng vừa coi hết, và sau đó thì tứ danh là Thái Bình Ngự Lâm).

 

Học giả Nhiệm Phương (460 - 508) đời Lương, Nam Bắc triều, viết :

 

 ‘Hộc thọ tam thiên tuế’.

 

Thuật Dị Ký. Qu. Thượng  /.

 

‘Chim Hộc sống tới 3000 tuổi’.

 

Trần Nguyên Long (1652 - 1736) sơ ký Thanh triều viết :

 

 Hộc. Thuật Dị Ký. Hộc sinh bách niên nhi hồng, ngũ bách niên nhi hoàng, hựu ngũ bách niên nhi thương, hựu ngũ bách niên nhi bạch. Thọ tam thiên tuế hĩ !’...

 

‘Nhĩ Nhã Dực’ : ‘Hộc tức thị Hạc, âm chi chuyển ;  hậu nhân dĩ hộc danh phả trứ vi hạc chi ngoại biệt hữu sở vị Hộc. Cố ‘Tì Nhã’ ký hữu Hạc hựu hữu Hộc’.

 

Cách Trí Kính Nguyên. Qu. LXXVII. Điểu loại 1. Hạc (phụ Hộc)  /.

 

Hộc. Sách Thuật Dị Ký nói: - Chim Hộc sống tới 100 năm thì lông cánh thành đó, sống đến 500 năm thì biến sắc xanh lục, thêm 500 năm nữa thì lông chuyển ra màu trắng. Chim Hộc sống tới 3000 tuổi’.

 

Sách Nhĩ Nhã Dực nói :  ‘Hộc tức Hạc, âm đọc chuyển hóa ;  người đời sau nhận thấy chim Hộc quá nổi tiếng (trong Thi văn cổ) mà nói rằng ngoài hạc còn có một giống chim gọi là Hộc nữa. Do đó mà trong sách Tí Nhã vừa có Hạc lại vừa có Hộc’.

 

Trước Trần Nguyên Long không lâu, Từ­ng Thu (? - ?) vào triều Minh (1368 - 1644), trong tập Bút ký Ngọc Chi Đường Đàm Hội (Qu. XXXIV. Tạo hạc), cũng đã sao lục lại đoạn văn thường được gán là của Thuật Dị Ký trên đây, chỉ khác là chữ ‘Hộc’,

 

Xét hai bản Thuật Dị Ký, một trong Hán Ngụy Tùng Thư (Hiệu bản của Trình Vinh đời Minh) và một trong bản Cổ Tiểu Thuyết Câu Trầm của Chu Thụ Nhân (1881 - 1936) thì không thấy đoạn văn dẫn trên. Chưa rõ Từ­ng ThuTrần Nguyên Long đã tham khảo bản nào, hoặc cũng có thể đây là ‘dật văn’ của Thuật Dị Ký được ghi lại trong một Tác phẩm cổ nào đó Trình VinhLỗ Tấn không biết ?

 

‘Tí Nhã của Lục Điền (1042 - 1102) Nhĩ Nhã Dực của La Nguyện (1136 - 1184) soạn. 

 

Hai tác phẩm này nội dung nói chung tương đồng, chuyên giải thích danh vật, phân Môn biệt Loại theo thể lệ của sách Nhĩ Nhã vì vậy mà Tựa sách có các danh xưng ‘Tí’ ‘Dực’, hai Chữ này đều có nghĩa là ‘phụ trợ’, có điều, Bộ Nhĩ Nhã Dực dẫn cứ tinh xác, lý luận chặt chẽ hơn Cuốn Tì Nhã rất xa.

                                                                           

Hộc, nói theo Việt ngữ là Ngỗng Trời.

 

Ngỗng trời thuộc nhóm Hậu điểu, sống thành bầy ở các ven ao, hỉ phương Bắc. Mỗi năm cứ vào cuối Thu thì Ngỗng Trời bay về phương Nam tìm nơi ấm áp, để tới đầu Xuân sau lại quay trở về chốn cũ, di chuyển qua một đoạn đường dài, có khi cả 5, 7 ngàn cây số, và có những lúc rổi đã phải băng qua sa mạc thăm thẳm, núi non trùng điệp cao ngất, đôi lúc ở cao độ 7000 thước.

 

Chẳng hạn giống Ngỗng Trời xám tro bên bờ hỉ Tchany trong vùng thảo nguyên Barbara ở phía Tây Tây Bá Lợi Á mỗi năm, khi trời chớm lạnh, đã phải vượt một đoạn đường dài3500 cây số để tới vùng thùng lũng bao la ấm áp ở lưu vực Sông Hằng, ở Ấn Độ, băng ngang qua dãy Thiên Sơn (cũng còn gọi Tuyết sơn, hay Bạch sơn) ở cao độ 7000 thước, rồi tiếp đó là Sa mạc Takla Makan (Takli Makan) trải dài khoảng 500 cây số, tiếp đó, lại phải băng qua những vùng cao nguyên của Tây Tạng, và sau cùng là dãy Hi Mã Lạp sơn ở cao độ 8000 thước.

 

Trong chuyến viễn trình ngàn dặm xuôi ngược Nam Bắc đó Ngỗng trời mỗi ngày bay trung  bình  250 tới 350 cây số, trừ phi phải băng qua một vùng đặc biệt nào đó. Chẳng hạn bầy Ngỗng trời xám kể trên đây khi băng qua Sa mạc Takla Makan đã phải bay một mạch suốt 500 cây số chiều rộng của Sa mạc này. Tốc độ di hành trung bình là 70  90 cây số / giờ. Ngỗng Trời bay theo đội hình chữ V, mũi nhọn của chữ ở phía trước và đây cũng chính là vị trí của con Ngỗng Trời đầu đàn.

 

Còn với tuổi thọ của Ngỗng Trời, chuyện Ngỗng Trời sống hai, ba ngàn năm, như một số thư tịch cổ Trung Hoa nói dĩ nhiên là huyền tưởng. Bởi thế mà có người cho rằng Hoàng Hộc trong Thi văn cũng như Kinh Sử Trung Hoa rồi không phải là Ngỗng Trời mà chỉ là danh xưng phiếm chỉ một chủng loại chim lớn giả tưởng nào đó. Tuy nhiên, cỏi ‘Vô hà hữu’ tự thiên cổ vẫn là một cõi hết sức mênh mang trong thi văn, do đó, Ngỗng Trời có sống tới hai, ba ngàn năm, hay hơn nữa, có là chim của tiên cỡi thì đó cũng là chuyện rất thường.

 

Trên thực tế, tuy không sống tới chừng đó năm nhưng Ngỗng Trời là một trong những con vật sống khá lâu ; chẳng hạn giống Ngỗng Trời đen sống tới 100 năm, Thiên Nga sống 200 năm.

 

Trong cuốn truyện thần tiên rất hay về một bầy Ngỗng Trời và một chú bé tên Nils Holgersson của nữ văn sĩ Thụy Điển Selma Lagerlöf (1858 - 1940), Con Ngỗng Trời đầu đàn tên Akka đã sống trên 100 tuổi và đây là thực tế trong cỏi thần tiên của truyện.

(Selma Lagerlöf  là phụ nữ đầu tiên trên thế giới được giải Nobel về Văn chương, năm 1909).

 

Lý Thời Trân (1518 - 1593) trong Bộ Bản Thảo Cương Mục, nói chim Hộc cũng được gọi là Thiên Nga. (Tham khảo Qu. XLVII. Cầm bộ 1. Thủy Cầm. Hộc).

 

Ở đây xin đừng lẫn lộn Thiên Nga kể trên với một giống chim chúng ta, người Việt Nam, thường gọi là Thiên Nga. Khi nói Thiên Nga, người Trung Hoa nhằm chỉ Ngỗng Trời ;  còn ngỗng nhà họ chỉ đơn xưng là ‘Nga’. Thiên Nga chúng ta thường gọi thì Sách Ẩm Thiện Chính Yếu của Hốt Tư Huệ ( ? - ? ) đời Nguyên gọi là ‘Bất năng minh nga’ (tức Anh ngữ gọi là mute swan).

         

 

*

*   *

 

Phụ chú.

 

+ Trữ Nhân Hoạch không có ghi chú nào về Cố Lân.

 

Cố Lân (1476 - 1545) tên Tự Hoa Ngọctên HiệuĐông Kiều Cư Sĩ, Tiến sĩ trong khoảng Niên hiệu Hoằng Trị (1488 - 1505), quan chức đến Hình bộ Thượng thư, trong khoảng Niên hiệu Gia Tĩnh (1522 - 1545). Cố Lân là một văn học gia tiếng tăm đời Minh, tính tình khiêm cung, thích kết giao với các hiền sĩ. Sau khi từ quan trí sĩ, ông sửa sang nhà cửa, vườn tược cho rộng lớn hơn để khách ghé thăm lưu ngụ, phòng ốc trong nhà không lúc nào trống chỗ.

 

Ngoài ra, Cố Lân còn là một Thư pháp gia sở trường 2 Thể ‘Hành thư’, ‘Thảo thư’, bút pháp ông cao nhã, cổ phác, phong cách sinh động như Thư pháp Tấn triều (265 - 420)

 

+ Tam Ty. 3 cơ quan hợp thành cơ cấu Chính quyền địa phương ngày trước về 3 phương diện Dân sự, Quân sự Tư pháp. Thời Minh 3 Ty này là :

 

‘Bố Chánh Sứ Ty’ (Dân sự), ‘Đô Chỉ Huy Sứ Ty’ (Quân sự) ‘Án Sát Sứ Ty’ (Tư pháp).

                                                                           

Sau cùng, đã đề cập Hoàng Hạc Lâu thì không thể không nhắc lại chuyện Lý Bạch (701 - 762) đưa tiễn Mạnh Hạo Nhiên (689 - 740) từ Hoàng Hạc Lâu đi Dương châu - hay nói cho rõ hơn là có thể nào mà không nhắc lại bài Thất tuyệt vô cùng ý vị Lý Bạch đã sáng tác trong buổi đưa tiễn Mạnh Hạo Nhiên :

 

                 Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng.

 

                             Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu,

                             Yên hoa tam nguyệt há Dương châu.

                             Cô phàm viễn ảnh bích không tận,  

                             Duy kiến Trường giang thiên tế lưu.

                            

          Dịch :

 

Lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng.

 

                              Nẻo tây bạn rời Hoàng Hạc Lâu,

                              Sương hoa, xuân tận, xuống Dương châu.

                              Cánh bủm bóng thẳm giữa trời biếc,

                              Chỉ thấy Trường giang trôi mãi đâu.

                                                                                                   (Minh Di dịch).

 

Như bài thơ cho biết, Mạnh Hạo Nhiên đi Dương châu vào tháng 3, tháng cuối Xuân, và Xuân ở đây là mùa Xuân năm thứ 15 Niên hiệu Khai Nguyên (713 - 741), tức năm 727.

Mạnh Hạo Nhiên đi Dương châu, và lưu lại đây mãi đến cuối năm mới trở về lại quê nhà ở quận Tương Dương (hiện nay là huyện Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc) để năm sau - năm 728, ra Kinh đô Trường An ứng thí. Không đậu, từ đó ông từ bỏ việc thi cử, sống đời ẩn dật.

Trong Tuyển tập bình chú Đường Thi Tam Bách Thủ trứ danh của ông, Hành Đường Thoái Sĩ đă phê câu ‘Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu’ ‘thiên cổ lệ cú’.

(Hành Đường Thoái Sĩ tên Hiệu của Tôn Chu (1711 - 1778), Văn học gia Thanh triều.

Việc chú thích tuyển tập Đường thi này thực ra cũng có sự đóng góp của vợ ông là Từ Lan Anh).

 

Trong tập Nhật ký Nhập Thục Ký của Lục Du triều Nam Tống đă đề cập trước đây - nhật ký ghi ngày 28 tháng 8 năm thứ 6 Niên hiệu Càn Đạo (1165 - 1173), tức năm 1170, có đoạn viết :

-. ‘Thái Bạch đăng thử Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên thi vân :

 

           Cô phàm viễn ánh bích sơn tận,

          Duy kiến Trường giang thiên tế lưu.

 

Cái phàm tường ánh viễn sơn vưu khả quan, phi giang hành cửu, bất năng tri dã.’.

 

Nhập Thục Ký. Qu. V  /.

 

-. ‘Thái Bạch lên Lầu này làm thơ đưa tiễn Mạnh Hạo Nhiên có câu :

 

     Cánh bủm xa ánh giữa non biếc,

          Hút mắt Trường giang trôi mãi đâu.