Trang Chính | Từ Đàm Hải Ngoại | Thiền Phái Trúc Lâm | Phật Pháp
Pháp Âm
| |Tin Tức Phật Giáo | Tổng Vụ Cư Sĩ | Tin Tức Sinh Hoạt |  Nối kết | Hình ảnh
Thư tịch H.T. Trí Chơn | Thư tịch H.T. Tín Nghĩa
| Những Bài Đoản Văn | Vườn Thơ

Please press HOME to go back to the main web page

HOME

Những Bài Đoản Văn



 

Vườn Thơ
***************

 

 

 

Hoàng Hạc Lâu

THÔI HIỆU

---o0o---



 

 


七言律詩

崔顥

黃鶴樓

昔人已乘黃鶴去, 此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返, 白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹, 芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是? 煙波江上使人愁。


Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?
Yên ba giang thượng sử nhân sâu

--Bản dịch của Tản Đà--

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

 

GOLDEN CRANE TOWER

Person of past rode away on golden crane
Just the golden crane tower remains here
Once gone, golden crane shall not return
Thousand of years, white clouds drifting the sky
Calm river clearly reflects the Hanyang trees
Fragrant grass on Parrot coast freshens with green
Amidst nightfall, one asks oneself where the homeland is
Misty river, rippling waves, one turns somber

Translated into English by Christina Dieu My
(April 15, 2006)


 

            Hoàng Hạc Lâu, là một trong những thắng cảnh và cổ tích nỗi tiếng của Tỉnh Hồ Bắc, Trung Hoa, được dựng trên một dốc cao.  Đứng trên lầu mắt nhìn được cả một vùng sông Dương Tử, bao gồm bãi Hán Dương, Châu Anh-Vũ, Quy Sơn, Hạc Sơn. Người ta nói lầu này được h́nh thành từ thời Tam Quốc, mới đầu chỉ là một đồn quan sát quân sự nhỏ. Không biết có phải là lầu đã được xây trên vùng đất có vượng khí hay không mà lầu càng ngày càng rộng lớn, càng nguy nga sau mỗi lần trùng tu.  Lần trùng tu mới nhất là vào năm 1985.

            Như vậy là HHL ngày nay không c̣òn một tí gì là dấu vết của HHL xưa cũ ngoại trừ vị trí và cái tên để lại.  Sở dĩ lầu có tên Hoàng Hạc Lâu vì những truyền thuyết sau :

1.  Xưa, Phí Văn Vỹ (hay là Vương Tử An) thành tiên cưỡi hạc đi chơi và đã đỗ ở đây.

2. Khi lầu này mới mở, có một đạo sĩ vào uống rượu, uống xong ra sân dơ tay lên trời vẫy. Một con hạc sà xuống và đạo sĩ cưỡi lên lưng con hạc bay đi trước mắt các thực khách.

3. C̣òn chuyện nữa là khi đạo sĩ uống rượu xong không có tiền trả mới vẽ một con hạc lên trên vách  và bảo chủ nhân rằng : 

"Khi có khách hãy kêu hạc xuống múa".

Chủ quán nghe theo và từ đó quán chật khách vào uống rượu và xem hạc  vũ. Ít lâu sau, đạo sĩ trở lại hỏi chủ quán rằng :  "Tiền thâu trong bấy nhiêu ngày đã bù được tiền rượu ta thiếu bửa trước hay chưa ?" 

 Rồi cười vẫy hạc xuống cưỡi bay đi !

Lời  bình :  Dĩ nhiên là tiền do con Hạc lao động làm ra quá dư tiền rượu đi chứ ! ! Thần tiên mà cũng uống rượu ghi sổ nữa thiệt...hết nói !  Khoái là ở chỗ đó !  

Trần Tuấn Kiệt

 

 

 

HOÀNG HẠC LÂU

 

Từ Đường Thi của Trần Trọng Kim :  Tương truyền Lý Bạch một hôm có đi qua Hoàng Hạc Lâu, thấy phong cảnh hữu tình, muốn phóng bút một vài câu thơ nhưng thấy bài Hoàng Hạc Lâu khắc ở trên vách bèn ngửa mặt than rằng :

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc

Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu...

 (Trước mắt có cảnh mà không thể nói được vì Thôi Hiệu đã có đề thơ ở trên rồi)

 

Dịch Nghĩa :

 

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi, (2)
Nơi đây chỉ c̣òn lại lầu Hoàng Hạc
Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không
Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu Cây cối Hán Dương (3) rõ mồn một
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ (4) mơn mởn xanh tươi
Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến người sinh buồn !

(1) Ở phía tây nam thành Vũ Xương
(2) Tục truyền Phí Văn Vĩ thành tiên, thường cưỡi hạc về nghỉ ở Hoàng Hạc lâu
(3) Một địa điểm bên sông Dương Tử tỉnh Hồ Bắc
(4) Khu bãi bến khúc sông thuộc Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc

 

 七言律詩

崔顥

黃鶴樓

昔人已乘黃鶴去, 此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返, 白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹, 芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是? 煙波江上使人愁。

Hoàng Hạc Lâu


Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?
Yên ba giang thượng sử nhân sâu
 

 

 

Lầu Hoàng Hạc


--Bản dịch của Tản Đà--

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

--Bản dịch của Vũ Hoàng Chương--

Xưa cánh hạc bay vút bóng người
Nay lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc, bay bay mãi
Trắng một mầu mây, vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống, đâu quê quán ?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi !

--Bản dịch của Ngô Tất Tố--

Người xưa cưỡi hạc đã cao bay,
Lầu hạc còn suông với chốn nàỵ
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn,
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ baỵ
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng,
Xanh ngắt châu Anh, lớp cỏ dầỵ
Trời tối quê hương đâu tá nhỉ ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây

--Bản dịch của Nguyễn Quảng Tuân--

Người xưa cưỡi hạc đã xa bay
Hoàng Hạc lầu không vẫn chốn này
Mây trắng ngàn năm lơ lững mãi,
Hạc vàng một tếch khuất trùng ngay,
Hán Dương sông tạnh cây phô sắc,
Anh Vũ cồn xa cỏ mọc dạy
Chiều muộn quê nhà đâu khuất bóng ?
Trên sông khói sóng gợi buồn thay!

-- Bản dịch của Khương Hữu Dụng --

Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút,
Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi !
Hạc vàng một đi đã đi biệt,
Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi.
Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng,
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời.
Hoàng hôn về đó, quê đâu tá ?
Khói sóng trên sông não dạ người.

-- Bản dịch của Nguyễn Khuê --

Cưỡi hạc người xưa đi đã lâu,
Còn đấy Hoàng Hạc chỉ trơ lầu.
Hạc vàng biền biệt từ xưa ấy,
Mây trắng lững lờ đứng mãi sau.
Sông tạnh Hán Dương cây lắng bóng,
Bãi thơm Anh Vũ cỏ tươi màu.
Chiều buồn quê cũ nơi nào nhỉ,
Khói sóng trên sông giục khách sầu.

-- Bản dịch của Trần Trọng Kim --

Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưu một lầu.
Hạc vàng đi mất đã lâu,
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông,
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì.
Chiều hôm lai láng lòng quê,
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.

-- Bản dịch của Trần Trọng San --

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.
Hạc đã một đi không trở lại,
Man mác muôn đời mây trắng bay.
Hán-Dương sông tạnh, cây in thắm,
Anh-Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.
Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy ;
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.

--Võ Thị Xuân Đào phỏng dịch--

Bên lầu Hoàng Hạc

Người xưa cởi hạc về đâu
Còn đây Hoàng Hạc dãi dầu nắng mưa
Hạc vàng đã khuất từ xưa
Nghìn năm mây trắng hững hờ bay bay
Hán Dương cây nước u hoài
Cỏ non Anh Vũ xanh dài nhớ thương
Quê hương khuất nẻo chiều buôn
Đầu sông khói tỏa buồn vương vương buồn

--Bản dịch của Trần Nhất Lang--

Người xưa cỡi hạc đã đi rồi
Lầu Hạc còn trơ đất cũ thôi
Một thoáng hạc vàng xa thẳm lánh
Ngàn năm mây trắng lững lờ trôi.
Hán Dương sông tạnh hàng cây thắm
Anh Vũ bờ xanh lớp cỏ tươi (2)
Lai láng lòng quê chiều lữ thứ
Trên sông khói sóng dạ bồi hồi.
 

 

Bản Dịch  Văn Toàn 1

 

Người xưa cưỡi hạc biết đi đâu ?
Hoàng hạc trơ đây một mái lầu.
Biền biệt hạc vàng không trở lại,
Phiêu diêu mây trắng vẫn trên đầu.
Sông quang rõ nét Dương Hán thụ.
Cỏ mướt xanh màu Anh Vũ châu.
Quê cũ chiều tà đâu chẳng thấy.
Trên sông khói sóng khiến ai sầu.

 

Bản Dịch Văn Toàn 2

 Người xưa cưỡi hạc bay đi,
Trơ lầu Hoàng Hạc c̣òn gì nữa đâu !
Một đi hạc chẳng quay đầu,
Ngàn năm mây trắng một màu phiêu diêu.
Hán Dương cây cối mỹ miều,
Bãi xa Anh Vũ, bóng chiều cỏ xanh.
Hoàng hôn đâu bóng quê ḿình ?
Khói lan sóng nước, buồn tênh ai người
?

 

Bản Dịch Phí Minh Tâm K2

 Hạc vàng đạo sĩ đã cao bay
Để lại lầu trơ tại chốn nầy
Mây trắng trôi trôi từ muôn thuở
Hoàng hạc bao giờ trở lại đây
Hán Giang nhô nhấp trong chiều nắng
Bên đồi Anh Vũ cỏ vờn cây
Chiều xuống, cố hương nào đâu thấy
Sóng biếc ba đào gợi đắng cay.


--English--
 


Home Longings

-- translated by H.Ạ Giles


Here a mortal once sailed up to Heaven on a crane,
And the Yellow-Crane Kiosque will for ever remain;
But the bird flew away and will come back no morẹ
Though the white clouds are there as the white clouds of yorẹ
Away to the east lie fair forests of trees,
From the flowers on the west comes a scent-laden breeze,
Yet my eyes daily turn to their far-away home,
Beyond the broad River, its waves, and its foam.

H. Ạ Giles (Chinese poetry in English verse, London, 1898)

________________________________
Another English Verison:

Past person already gone yellow crane away
Here only remain yellow crane tower
Yellow crane once gone not return
White cloud 1000 years sky leisuredly
Clear river clear Hanyang tree
Fragrant grass parrot islet
Day dusk homeland pass what place be
Mist water river on become person sorrow

 

 

 

 

*

*   *

 

 

 

 

Please press HOME to go back to the main web page

HOME








TỔ ĐÌNH TỪ ĐÀM HẢI NGOẠI
61615 N. Gilbert Rd., Irving, Texas 75061-6240, Tel.: (972) 986-1019, Fax: (972) 790-5855  *USA*

Email:
tudamhaingoai@yahoo.com  -  Website:  www.todinhtudamhaingoai.net