ẢNH HƯỞNG THIỀN VỚI
VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
THÍCH TÍN NGHĨA
(Ghi chú : Đây là
một vài ý ngắn về Ảnh hưởng Thiền với Văn hóa Dân tộc, chỉ là một lời nhỏ,
nhưng cũng ghi vào vào đây để quý vị đọc cho vui – Hy vọng, chúng tôi có thì
gian sẽ tiếp tục cho vài lời nhỏ nầy)
I.- Thiền học du nhập :
Điều quan trọng nhất khi nghiên cứu
ảnh hưởng Thiền học du nhập vào Việt Nam là nhận định cái yếu lý của tông phái.
Thiền tông là một tông phái đi vào đạo lý chính thống của đức Phật. Sự hiện hữu
của Thiền tông ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam cũng như hầu hết các nước Đông
Nam Á nguyên nhân chính là đặt lại quan niệm đứng đắn về giác ngộ, thoát hình
tướng, thoát văn tự.
Sư tổ Thiền tông ở Trung Hoa chính là Tổ sư Bồ Đề Đạt
Ma đến Quảng Châu (520), thuyết pháp cho Lương Võ Đế, chính là lúc Phật giáo
Trung Hoa mang nặng hình thức chủ nghĩa. Ngài ngồi nhìn vách chín năm (cửu niên diện bích), dùng thoại đầu, dùng Đạt Ma
Tổ Sư Thiền, tức là “Giáo ngoại biệt truyền,bất lập văn tự”.
Những huyền thoại về ngài Đạt Ma như : Cỡi sóng Đông Độ, Đạt Ma cắt mí mắt, Đạt Ma xách dép,
tất cả tựu trung có một quan điểm : muốn giác ngộ ; điều cần nhất là đi
thẳng vào sự thực, vươn mình lên trên tất cả để nhận chân cho được sự thực.
Bất dự phàm thánh đồng triển,
Siêu nhiên
danh vi viêt : “TỔ”.
Nghĩa là :
Chẳng cùng phàm, thánh sanh vai,
Vượt lên mới gọi là TỔ.
Tóm lại, Thiền tông chú trọng về tâm giải thoát. Nghệ thuật
thiền tông là những đường nét siêu thoát.
Thiền tôn bén rễ ở Việt Nam, thích hợp với dân tộc
tính cũng do các nguyên nhân căn bản sau đây :
1.- Tinh thần dân tộc Việt Nam : Luôn luôn khai phóng, hòa đồng, dễ dãi chân thật. Dân tộc thường mỉa mai lối
nhìn : “xem mặt mà bắt hình dung”.
Đó là tinh thần chân - như – phương, đôn hậu, sâu kín “thức lâu mới biết đêm dài, ở lâu mới biết con người phải
chăng”.
2.- Thiền tông thích hợp với con người Việt Nam. Nghệ thuật thi ca, điêu khắc, âm nhạc, hội họa, thoại kịch, … Chính vì
vậy, Việt Nam có một nền văn hóa bình dân rất phong phú và sâu sắc. Tinh thần
Việt Nam luôn luôn sâu kín, thâm trầm, ít hiếu động, khoe trương. Điều nầy ẩn tàng
ngay trong nghệ thuật.
3.- Vào thời kỳ thiền tông du nhập (Khương Tăng Hội, Chí Cương Lương, Mâu Bác) chính
là lúc mà ảnh hưởng Hán học, Lão học bành trướng mạnh. Cho đến đời Lý, ngay cả
thời kỳ Tam giáo đồng nguyên, thì thiền tông vẫn ngã theo một chiều hướng riêng
biệt.
II.- Ảnh Hưởng Văn Hóa Dân
Tộc :
Ảnh hưởng lớp Trí thức :
Trí thức Việt Nam ngày trước đều được đào tạo theo
Khổng học. Con đường duy nhất của trí thức phong kiến là : Chăm lo mười
năm đèn sách, am tường tứ thư ngũ kinh, “dùi mài
kinh sử để chờ kịp khoa”. Con đường của họ chỉ có hai ước vọng
: “- Trước là đẹp mặt - Sau là ấm
thân”.
Nhưng đó là lề lối đào tạo của người lãnh đạo quốc
gia. Còn trí thức tạo cho mình một lối sống như thế nào, lại là một vấn đề
khác. Cuộc đời của một nho sĩ, thường chia làm ba giai đoạn rõ rệt : Hành
nho - Hiển nho và Ẩn nho. Trừ ra thời kỳ hiển nho (làm
quan, lập danh) còn cuộc đời họ lui về ẩn dật. Có người gọi là tư
tưởng Lão Trang. Thú vui là cầm kỳ thi tửu, triết lý sống là lạc đạo, an bần.
Nhân sinh quan là “độc
hành kỳ đạo, độc thiện kỳ thân”.
Nhưng Lão Tử với thuyết vô vi, Trang Tử với thuyết
xuất thế, mộng ảo, thì quá xa với thực tế, với quần sinh. Họ trở về
với thiên nhiên, với thiền học.
Thiền không phải là một quan niệm, một đường lối, mà
chính là một lẽ sống chân như. Thiền không văn tự không hình thức.
Quan niệm ấy phải lấy bối cảnh là quê hương là ruộng vườn,
làng mạc Việt Nam. Chưa bao giờ, hương vị thiền bang bạc, mông lung như tâm
sự của thi hào Nguyễn Du :
Vạn sơn thâm sứ tuyệt phong trần
Thác loạn sài môn, bế mộ vân
Trưởng giả y quan do thị Hán,
Sơn trung giáp tý quýnh phi Tần
Mục nhi giáp chủy hoang giao mộ
Cáp nữ đồng liên ngọc tĩnh xuân,
Na đắc khiêu ly phù thế ngoại,
Trường tùy thu hạ, tối nghi nhân.
NGUYỄN DU (Thanh
hiên Tiền hậu tập)
Nghĩa là :
Ruộng sâu thăm thẳm tuyệt phong trần,
Hoàng hôn che cửa, áng
phù vân,
Trưởng giả áo xuân còn nệ Hán,
Trong hạnh giáp tý chẳng theo Tần,
Gõ sừng mục tử ca chiều xuống,
Giếng ngọc nô đùa mấy gái xuân,
Ao ước thoát ra ngoài phù thế,
Nằm
khỉnh gốc tùng quá sướng thân.
Tinh thần siêu thoát đưa con người gần với thiên
nhiên, với cỏ cây, xa lánh những cuộc bon chen, đố kỵ “con người là chó sói của người”. Khó mà nói rằng
đó là ảnh hường của Lão Trang. Lối sống vô câu thúc chí có nghĩa rằng đưa con
người tìm lại bản thân mình. Nó bắt nguồn từ những thất bại, bất đắc chí trên
đường công danh “Trị quốc bình thiên hạ”.
Nhưng dần dà, nổi bi quan đó dẫn dắt đến một nếp sống tốt đẹp hơn, sâu
sắc hơn, phong phú hơn. Đó là con đường tìm đến giải thoát và liễu ngộ.
Nghệ thuật trà đạo cũng mang sắc thái thiền.
Thiền hiểu theo nghĩa rộng lớn, tự nhiên, vượt thoát
ra ngoài những hình thức hay ngôn tự. Tranh thủy mạc, nhạc tiêu sái, thơ
yêu thiên nhiên, các loại đạo ca, tâm ca, hoan ca…đều bắt nguồn từ thái độ sống
theo thiền.
Ảnh hưởng quảng đại quần chúng :
Người nông dân Việt nam sống gần gủi với thiên nhiên. Tâm
hồn họ chất phác, hiền hòa đạm bạc. Đó là ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội và
bản chất của con người. Gần đây, có người vì mang chủ trương chính trị,
nên gán cho quần chúng nông thôn những từ ngữ: đắc trách giai cấp công nông liên minh, ý thức tranh đấu. Mấy
chục năm nay, khi những chủ trương ấy phát động, dân quê vẫn tham gia thụ động.
Đó không phải là bản chất.
Tình yêu nơi chôn nhau cắt rốn, yêu ruộng vườn làng
mạc, con trâu cái cày “Ta đây trâu đấy ai mà quãn
công”. Tất cả đều được nói lên một cách sống hài hòa, hồn
nhiên phong phú lạ thường.
Ảnh hưởng đó tràn sang các địa hạt thi ca, tình ái xã hội.
Ca dao tục ngữ xét cho cùng chỉ để biểu hiện nếp sống toàn vẹn con người. Hội
hè đình đám phản ảnh sức sống hòa hợp của thiên nhiên.
III. - Đặc tính thiền ở Việt Nam
:
1.- Hoàn cảnh nhân văn :
Khi thiền tôn còn phát triển tại Ấn Độ (theo D.T.Suzuki)
hoàn toàn mang tư tưởng thần bí. Thật ra, Ấn Độ chỉ thích hợp với
Duy Thức Tôn, Chân Như Tôn, Hoa Nghiêm
Tôn, Không Luận Tôn. Khi sang Trung Hoa và Việt Nam , thiền tôn gặp môi trường thích hợp. Theo tác giả Manua of Zen Buddhism, thì
thiền tôn ở Việt Nam dễ bám rể vì ở đấy thấm nhuần tư tưởng Lão Trang.
Thiền tôn đòi hỏi tinh thần điềm đạm hào sáng và cơn thuần. Vì vậy Đại Thừa
Phật Giáo kiểu của hai ngài Mã Minh và Long Thọ, hay qua các bộ kinh Duy Ma
Cật, Lăng Già Tâm Ấn, Bát Nhã Kim Cang… cũng cần phải gieo trồng trên mãnh đất
khác. Đó là Trung Hoa và Việt Nam.
2.-
Nghệ thuật và văn chương :
Nền văn chương thiền đã bàng bạc suốt mấy thế kỷ Lý -Trần.
Các nhà khảo cổ tìm thấy ở bia ký, các bài kệ các phú pháp. Thường là
những bài thơ ngắn nhưng rất súc tích. Đó là đặc tính của ngôn ngữ thiền.
Nghệ thuật điêu khắc cũng độc đáo. Đời Lý đã tạo lập nhiều
chùa tháp. Hầu hết các danh lam thắng cảnh do từ đời nhà Lý mà ra. Các thắng
tích ở Hà Thành như chùa Trần Vũ, chùa Diên Hựu, đền Nhị Nữ, đền Linh Láng.
Sách Thiền Uyển Tập Anh có biên chép : Nhiều chùa chiền xây dựng ở
Thăng Long đời Lý, nay đã bị hủy diệt.
Các danh sơn cũng có nhiều công trình kiến trúc. Núi
Long Đồi (ở huyện Du Tiên) núi Phật Tích (ở
huyện An Sơn), núi Tiên Du (ở huyện Tiên Du),
núi Lam Sơn (ở huyện Quế Dương), núi Tiên
Sơn (ở huyện Yên Phong), Ngũ Hành Sơn (tức
động non nước Đà Nẵng), núi Linh Ứng (Quãng Ngãi). Tất
cả đều bàng bạc màu sắc của Phật Giáo, mà nhất là đều ảnh hưởng thiền học, Phật
Giáo.