NHỮNG DẤU MỐC
TRONG HƠN NỬA THẾ KỶ
QUA
Thích Tín Nghĩa
Kể từ khi Phật Giáo Trung Hoa trở mình theo
đà sống mới, thì Phật Giáo Việt Nam cũng bắt đầu tiếp nối làn sóng chấn hưng
cho cả ba miền, luôn luôn phát triển và tranh đấu không ngừng ; mãi vươn
lên theo đà tiến triển của khoa học và nếp sống con người của thời đại.
Vì bối cảnh chính trị và văn hóa, nên từ
giữa thế kỷ thứ mười trở về sau nầy những bạo động và loạn lạc xảy ra liên
miên. Trong lúc nầy Nho giáo không phải là nơi nương tựa tinh thần cho quảng đại
quần chúng Việt nam nữa.
Mặc dầu trong những triều đại Gia Long,
Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức tuy Phật giáo cũng có chút ít bị kỳ thị ;
vì phần lớn chủ lực chính trị đều nằm vào tay Nho gia.
Các nhà Chí sĩ yêu nước thật sự bây giờ lại
tìm vào các ngôi chùa để dễ dàng tìm phương cứu nước. Đại để có các Nho sĩ
: Lương Văn Cang, Đào Nguyên Phổ, Võ Hoành, Phan Châu Trinh, Phan Bội
Châu, Nguyễn Quyến, . . . trong lúc đang hoạt động cho các phong trào Đông kinh
Nghĩa thục và Đông Du. Đặc biệt là hai Chí sĩ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh,
với “Tinh thần tôn giáo” mà cụ Phan Sào Nam thì nói thẳng ở đây là tinh thần Phật giáo chứ
không không phải là của Nho giáo. Cụ đã nhiều lần lên tiếng cho rằng :
Chính Nho học đã làm cho đất nước Việt bị suy nhược. Cụ Phan Châu Trinh thì
không phải là một nhà Nho cố chấp, thấy sao nói vậy. Cụ rất tin tưởng vào Phật
giáo không phải vì những cực thịnh của các triều đại Lý Trần, mà nhận thức khả
năng duy tân xã hội Phật giáo thật chính xác và quan trọng như Nhật bản chẳng hạn.
Từ đó, cụ cũng bị các đồng chí của cụ cực lực phản đối, cho rằng cụ đã phế Nho
hưng Phật.
Cụ Phan Bội Châu đã từng than thở những vầng
thơ, lấy chữ “Đồng
Tâm” làm căn bản,
nhưng thật sự thì cụ nhẹ nhàng nhắn gởi đến ảnh hưởng giáo lý Phật đà :
“Thương ôi ! trăm
sự tại người,
Chữ Đồng ai dám ngăn rời chữ Tâm ?”
và :
“Người trong cho đến người
ngoài,
Chữ Tâm cốt phải ai ai cũng Đồng.”
Hay là :
“Gió nhanh thì sóng cũng
mau,
Chữ Tâm một phút đâu đâu cũng Đồng.”. . .
Đường lối Bất bạo động, tuyệt thực của cụ
Phan Châu Trinh cũng đã làm cho chính phủ Bảo hộ lẫn Nam triều đều căm tức,
nhưng rất khâm phục. Đường lối nầy cũng tương đồng với đường lối của Phật giáo
Việt nam sau nầy đã tranh đấu chống lại bất bình đẳng tôn giáo của Ngô triều.
Những bối cảnh lịch sử và những biến cố của
đất nước đã dồn dập đến hàng sĩ phu yêu nước và hàng Tăng sĩ Phật giáo đạo cao
đức trọng, tận tâm tận lực duy trì mạng mạch Phật giáo ; với tâm nguyện dựng
đạo đẹp đời, nên những ngọn gió mát chấn hưng, phát triển cho cả Phật giáo lẫn
quê hương cứ lớn dần lên mãi.
Vào những năm 1920, ở miền Nam có những bậc
thạc đức như : Từ Phong (Chợ Lớn), Khánh Hòa (Bến Tre), Chí Thành (Châu Đốc), Huệ Quang (Trà Vinh), Khánh Anh (Long An), Tâm Thông (Gò Vấp – Gia Định), Hoằng Nghĩa (Chợ Lớn), Huệ Tịnh (Gò
Công), Ni thì có Đạo tràng Giác Hoa ở Bạc Liêu, . . .
Ở miền Trung, cố đô Huế, thì có Thiền sư
Huệ Pháp, nổi tiếng là thâm uyên giáo điển, là bậc thầy của các thiền sư
: Giác Tiên, Tịnh Khiết. Tịnh Hạnh, Mật Khế, Vĩnh Thừa, ... mở lớp
giảng dạy tại tổ đình Thiên Hưng, thiền sư Thanh Thái với đạo tràng Từ Hiếu,
thiền sư Đắc Ân với đạo tràng Quốc Ân, thiền sư Tâm Tịnh với đạo tràng Tây
Thiên, ở Thập Tháp thì có Quốc sư Phước Huệ, bên cạnh ngài có thiền sư Phổ Tuệ
phụ tá rất xứng đáng.
Ở Bắc có thiền sư Thanh Hạnh, một danh
tăng được quốc dân mến mộ và sùng kính với đạo tràng Vĩnh Nghiêm, thiền sư Đỗ
Văn Hỷ thì chủ trương in ấn kinh điển, trong đó có bộ Đại Bảo Tích.
Ban đầu với đề tài “Phong trào Phật giáo Chấn hưng” bằng ba tiêu chuẩn :
1.- Lòng tự ái của một dân tộc,
2.- Lòng khát vọng một lý tưởng để
theo, và,
3.- Nạn kinh tế khủng hoảng.
Trong lúc đang vận động chương trình Phục
hưng Phật giáo, thì cũng có một số viết bài chống đối, cho rằng làm cho Phật
giáo mạnh là đưa tuổi trẻ vào con đường yếm thế, trụy lạc, con đường của ru ngủ,
thuốc phiện.
Tuy nhiên, hầu hết các sĩ phu thức thời đã
mạnh dạng đứng dậy cộng tác với chư Tôn thiền đức, điển hình như : Phan Khôi,
Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Văn Côn, Phạm Đình Hòe, Đỗ Trân Bảo đã viết trên Viên
Âm, trên Đuốc Tuệ để cổ xúy đường hướng Chấn hưng Phật giáo. Các vị nầy đồng một
ý kiến cho rằng : Chấn hưng Phật giáo là mở mang cho đất nước, vì Phật giáo là trí tín, chống lại mê tín, là kiêm thiện chống lại độc thiện, là bình đẳng chống với giai cấp, là tự lực chống với ỷ lại, . . . Các vị nầy cũng lấy
sách sử của Trung hoa và Việt nam đã để lại rằng : Khi nào Phật giáo hưng thịnh thì không bị nội
loạn và ngoại xâm
(hãy nhìn vào các thời đại Đông Hán,
rợ Hung Nô phải thần phục, Đường Thái Tôn, . . . ; Còn Việt Nam thì Lý, Trần,
chứ không bạt nhược như Lê Trung Hưng và Nguyễn Thống Nhất là cái thời đại cực
thịnh của nhà Nho - Lời của Phan Khôi).
Cụ Huỳnh Thúc Kháng, viết trong Viên Âm số
3, ra ngày 01-02-1934, cụ nói : Chấn hưng Phật giáo là một việc làm có lợi ích
cho quốc dân và cụ khuyên báo Viên Âm nên cố gắng.
Cụ viết :
. . . “. . .Viên Âm hãy gắng lên. Người ta
nói khoa học với tôn giáo không cùng đi với nhau, là nói ở xứ văn minh nào kia,
chứ ở xứ khai thông chậm trễ dân trí mơ mù như xứ ta, tôn giáo còn là phương
thuốc chữa bệnh chung cho người mình có hiệu nghiệm. Huống cái thuyết từ bi, cứu
khổ, độ tha, giác tha và nhân quả luân hồi của Phật giáo thông cả các giai cấp
trong xã hội, mà ai thực hành theo có bổ ích cho chúng sanh không phải là ít,
chưa nói đến “Niết bàn” là chỗ thượng thừa cao xa kia.”
Cụ nhìn Phật giáo phục hưng mà cụ buồn cho
Nho giáo : Trãi qua bao cuộc bể dâu Phật giáo vẫn còn nguyên vẹn mà bây giờ lại
được chấn hưng, trong khi đó, Nho giáo đã suy sụp mà khắp cả nước lạnh tanh,
không có ai nghĩ đến chuyện phục hưng Nho giáo.”. . . .
Từ đó, chương trình Phục Hưng Phật Giáo
vùng dậy khắp cả ba miền rất nhịp nhàng và mạnh mẽ.
Và cứ thế, mỗi năm đều có cử hành Đại lễ
Phật đản, mỗi mùa Phật đản lại có một cái mốc lịch sử khá đặc biệt. Chúng ta thử
đi vào những dấu mốc có trùng hợp hay không trùng hợp với những mùa Phật đản lịch
sử qua những thập niên từ 1930 trở về sau này.
Những mùa Phật đản lịch sử :
a.- Phật đản 2476 (*) – 1932, Phong trào Chấn hưng Phật giáo,
b.- Phật Đản 2479 – 1935, Đại lễ
Phật đản đầu tiên có vua Bảo Đại làm Trưởng ban danh dự,
c.- Phật đản 2495 – 1951, Tổng
hội Phật giáo Việt nam ra đời,
d.- Phật đản 2507 – 1963, Tranh
đấu Phật giáo,
e.- Phật đản 2510 – 1966, Phật
giáo Tranh đấu cho Dân chủ,
g.- Phật đản 2517 – 1973, Phật
giáo Tranh đấu cho Hòa bình,
h.- Phật đản 2519 – 1975, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất bị phân hóa và cô lập.
i.- Phật đản 2529 – 1985, Giáo hội và
Tăng Ni Tín đồ quê nhà bị tỏa chiết, tại hải ngoại cố gắng vươn lên.
j.- Phật đản 2536 – 1992, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ và các châu cũng như Canada được
thành lập –Văn Phòng II của Giáo hội hiện diện.
k.- Phật đản 2539 – 1995, Đại hội
Khoáng Đại VIII (vào các
ngày 13-14-15 tháng 05-1999 được tổ tại Phật Học Viện Quốc Tế - California, kế
thừa Đại hội VII, sau 22 năm của GHPGVNTN tổ chức vào ngày 23-01-1977 tại Ấn
Quang, Sàigòn-Việt nam).
l.- Kỷ niệm 30 năm Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất Tranh Đấu
Ghi chú : (*) Phật lịch ở đây là chúng tôi (người viết)
tính theo thứ tự cho dễ dàng ; thực ra, sau khi Giáo hội Phật giáo
Việt nam Thống nhất ra đời, mới đồng thống nhất là Phật lịch 2507, làm mốc -
Trước đó, có nhiều khi giữa Ba miền, cũng như các chùa cũng đều khác.
* * * * * * * *
A.-
Đại lễ Phật đản 2476 - 1932, Phong trào Chấn hưng Phật giáo :
Hoàn cảnh lịch sử đưa
đẩy : Khi phong
trào của Thái Hư Đại Sư khởi xướng và chấn hưng Phật giáo Trung hoa, đã gây một
khí thế mạnh khắp đó đây. Làn sóng cách mạng về giáo lý Phật đà, giáo chế cho
Tăng đoàn, cư sĩ cũng như giáo sản cũng được tuôn chảy và lan tràn sang các nước
phụ cận rất mạnh mẽ, trong đó có Việt nam chúng ta kể từ năm 1930. Trong thời
gian nầy, cách mạng Tân Hợi của Tôn Văn (tức
Tôn Dật Tiên) cũng đang dâng lên mạnh mẽ.
Tại Việt nam chúng ta, cao trào chấn hưng đang bùng lên, vươn lên và xuất hiện
khắp nơi như :
- Tại Nam Việt, thành lập hội Nghiên Cứu Phật Học năm 1931, và hội Phật Học
Lưỡng Xuyên cũng được thành lập tiếp theo vào năm 1933.
- Tại Trung Việt, thành lập hội An Nam Phật Học nẳm 1932, và đoàn Phật Học
Đức Dục.
- Tại Bắc Việt, thành lập hội Việt Nam Phật Giáo vào năm 1934. Các tạp
chí cũng được ra đời kế đó như là : Đuốc Tuệ, Viên Âm, Giác Ngộ, Tiếng Chuông
Sớm, Diệu Âm, Từ Quang, Giải Thoát. Đây là những cơ quan truyền bá Chánh pháp cũng như truyền thông
đường lối Chấn hưng Phật giáo đang phát triển mạnh mẽ của các hội Phật giáo khắp
cả ba miền.
Ý nghĩa lịch sử : Khi phong trào chấn hưng Phật Giáo
đã được tốt đẹp, Phật đản năm 1932 đã đánh dấu một trang sử mới cho Phật Giáo
Việt Nam.
- Tại miền Nam, Đại lễ Phật đản được long trọng cử hành tại Hội quán Hội
Phật học Lưỡng Xuyên, với chủ đề : “Chấn Hưng Phật Giáo”.
- Tại Trung Việt, đại lễ Phật đản được trang trọng cử hành tại Tổ đình Bảo
Quốc, khởi đầu cho một chương trình lớn là : “Đào Tạo Tăng Tài” và chấn hưng hàng ngũ Tăng chúng khắp
cả miền Trung Việt mà phát xuất đầu tiên là từ Cố đố Huế và Quảng Nam - Đà Nẵng.
Đặc biệt trong dịp nầy, Lại bộ Thượng thư
Phạm Quỳnh đại diện cho chính phủ Bảo hộ đến tham dự.
Trong bài Diễn
văn của Phạm Quỳnh có đoạn đã nhấn mạnh : “ . . . Trong giai đoạn mới của Phật Giáo Việt Nam, việc đào tạo Tăng tài
từ sơ cấp cho đến cao cấp Phật học, sẽ có đủ nhân lực để lãnh đạo tinh thần.”.
- Tại Bắc Việt, Đại lễ Phật đản được trang trọng cử hành tại chùa Quán Sứ. Đại
lễ nầy do sự chung lưng đấu cật của cả hai giới xuất gia lẫn gia quyết tâm xây
dựng một tinh thần Phật giáo mới, tự chủ và thích ứng với bối cảnh của xã hội.
Như chúng ta đã biết : Hội Phật giáo
Bắc kỳ được thành lập năm 1934, sau hai hội Phật giáo Trung và Nam kỳ, nhưng,
hoạt động rất tích cực và nhanh chóng phát triển mạnh. Chỉ vỏn vẹn trong vòng một
năm mà các chi hội được hình thành và sinh hoạt có chất lượng khắp cả miền Bắc.
Kể từ giai đoạn nầy trở về sau, Phật Giáo Việt Nam bước sang một giai đoạn mới,
một trang sử mới, đặc biệt là việc chấn chỉnh và đạo tạo Tăng tài làm căn bản.
Hy vọng, Phật giáo Việt Nam sẽ tạo những bước đi nhịp nhàng và có nhiều khởi sắc
vững chắc và xứng đáng.
B.-
Đại lễ Phật đản 2429 – 1935 : Hội An Nam Phật Học Ra Đời :
Bối cảnh lịch sử : Tổ Giác Tiên (Khai sáng Trúc Lâm Đại Thánh tự) ý thức được trách nhiệm và bổn phận, nên
đã đến các Tổ đình như Thuyền Tôn, Tây Thiên, Tường Vân, Từ Quang, Vạn Phước để
cung thỉnh quý tôn túc : Thiền sư Tịnh Hạnh, Thiền sư Tịnh Khiết, Thiền sư Giác
Nhiên, Thiền sư Giác Nguyên, Thiền sư Giác Bổn, thiền sư Giác Hạnh, . . . để
cùng đứng ra chấn hưng Phật giáo miền Trung.
Bên cạnh đó, Tổ có vị đệ tử Bác sĩ Trưởng
tại viện Paster, Huế, là Bồ tát tại gia Tâm Minh Lê Đình Thám, cộng sự rất đắc
lực. Hội được thành lập năm 1932. Tổ Giác Tiên chứng minh Đạo sư cho Hội được bốn
năm thì thị tịch. Một vị đệ tử xuất sắc của tổ là Thiền sư Thích Mật Khế, Tổng
thư ký của hội.
Ý nghĩa lịch sử : Năm 1934, thiền sư Mật Kế và Pháp sư Trí Độ
đi Quảng Ngãi để dự giới đàn Thạch Sơn với tư cách “Phóng viên” của báo Viên Âm. Để chuẩn bị cho Đại lễ
Phật đản vô cùng vĩ đại được trang trọng tổ chức tại Cố đô Huế vào năm tới
1935. Hội và thiền sư Mật Khế đã đi khắp các chùa trong tỉnh để vận động chư
Tăng tham dự đông đủ. Đại lễ Phật đản tổ chức tại chùa Diệu Đế vào ngày 10
tháng 05 năm 1935.
Sau lần Đại lễ nầy, hội An Nam Phật Học đã
mở ra một chân trời mới cho hội :
* Chỉnh lý Tăng chế và đào tạo
Tăng tài : Đây là một chương trình khá táo bạo nhất so với hai miền Bắc
và Nam kỳ.
a.- Thành lập một hội đồng Luật sư gồm những
bậc Tăng già tinh thông giới luật để giám sát giới hạnh của hàng Tăng sĩ.
b.- Tổ chức ban thầy cúng gồm những vị biết
tán, tụng, cầu an, cầu siêu và hướng dẫn tang lễ. Hàng thầy cúng nầy chỉ được mặc
áo nâu mà thôi.
* Mở các lớp Phật học. Trường Tiểu
học Phật giáo đầu tiên được mở tại chùa Vạn Phước, Thiền sư Mật Khế làm Hiệu
trưởng.
Chương trình Tiểu học (năm năm) – Chương trinh Sơ đẳng (hai
năm) – Chương trình Trung
đẳng (hai năm) – Chương trình Cao đẳng (hai năm) - Chương trình Trung học (năm
năm).
Trường Đại học Phật giáo đầu tiên được mở
ra tại Tổ đình Trúc Lâm năm 1935, tổ Giác Tiên là Giám đốc. Lớp Trung học mở ra
tại Tổ đình Tường Vân, do thiền sư Tịnh Khiết làm Giám đốc. Cả hai lớp do Quốc
sư Phước Huệ, trực tiếp giảng dạy. Lớp Trung học nầy gồm những Tăng sinh miền
Nam như : Thiện Hoa, Thiện Hòa, Chí Thiện, Hiển Thụy, Hiển Không, v..
v... theo học. Lớp Giáo sư gồm các Thiền sư : Tịnh Khiết, Đắc Ân,
Thánh Duyên, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám và quý Tăng sinh lớp Đại học
Trúc Lâm.
C.- Phật đản 2495 –
1951 - Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam ra đời.
Bối cảnh lịch sử : Kể từ năm 1946 đến 1951, tại những thành
phố lớn, dân chúng đã trở lại sinh sống bình thường, sau những năm di tản tránh
bom đạn thời giặc giả khốc liệt do thực dân Pháp đem đến. Phật giáo bắt đầu chớm
nở mạnh và cũng là cơ hội củng cố, đoàn ngủ hóa tổ chức. Nhiều hội đoàn được
thành lập trong đó mạnh nhất là Gia đình Phật Hóa Phổ là tiền thân của Tổ chức
Gia đình Phật tử Việt nam sau nầy. Các giáo phái cũng bắt đầu hình thành. Đặc
biệt là những thành phố lớn của miền Nam Việt Nam.
Một đại hội Phật giáo thế giới lần thứ nhất
được tổ chức tại Colombo, Việt nam cũng có một phái đoàn được tham dự và phát
biểu Nội quy, Cương lĩnh và lá Cờ Phật Giáo thế giới.
Cuộc chấn hưng Phật giáo vào năm 1932 có
những đại hội được diễn ra ra để tiến dần vào sự Thống nhất Phật giáo toàn quốc.
Nhờ những điều kiện thuận duyên mà tổ chức
Gia đình Phật tử Việt nam được đoàn ngũ hóa và kiện toàn cơ cấu vào tháng tư
năm 1951.
Ý nghĩa lịch sử : Đại lễ Phật đản năm 1951 là một chứng
tích đặc biệt cho sự Thống nhất Phật giáo, ít ra là trên phương diện hình thức.
Tổng hội Phật Giáo Việt Nam ra đời trong giai đoạn nầy, là một cố gắng vượt bậc
từ 19 năm qua.
Một bản Tuyên Ngôn thống nhất đạo Phật được
công bố trong ngày đức Phật giáng sanh mồng 8 tháng Tư năm Tân mão (1951)
có nêu rõ :
Theo lời hiệu triệu của các bậc Tôn túc
Trưởng lão, trong một hội nghị gồm 51 đại biểu, đã long trọng khai mạc vào ngày
mồng Một tháng Tư, Phật lịch 2505, (nhằm
ngày 06-05-1951) tại Tổ
đình Ấn Tôn Từ Đàm, Cố đô Huế. Và đã cùng nhau đồng ý chí, nói lên như sau :
“Sau bốn ngày thảo luận, toàn thể hội nghị
đã quyết định Thống nhất Phật giáo Toàn quốc Việt Nam, lấy ngày Phật đản làm kỷ
niệm thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, bầu một ban Quản Trị Trung Ương và
đặt trụ sở tại Thuận Hóa (Huế), để thực hiện chương trình thống nhất mà hội
nghị đã biểu quyết. . . .”.
D.- Đại Lễ Phật đản
2507 – 1963 : Phật giáo Tranh đấu .
Bối cảnh lịch sử : Sau Hiệp định Genève, Việt Nam chúng ta bị
chia đôi lãnh thổ. Phật giáo Việt nam cũng cùng chung một số phận. Ông Ngô Đình
Diệm được vua Bảo Đại bổ nhiệm về làm Thủ tướng miền Nam Việt nam. Sau đó, được
Mỹ và các nước đồng minh ủng hộ để truất phế Bảo Đại và lên làm Tổng Thống, nắm
trọn chính quyền miền Nam với thể chế Cộng hòa. Với đầu óc kỳ thị, một chính
sách khắc khe và thẳng tay đàn áp Phật giáo đồ từ trung ương đến địa phương.
Nhà Ngô đã dùng đạo Dụ số 10, do Bảo Đại ký vào năm 1950 dưới sự áp đặt của thực
dân Pháp dùng để kiểm soát các hội Phật giáo trong cả nước. Đạo Dụ nầy đặt tổ
chức các tôn giáo ngoại trừ Thiên chúa giáo, thì xem như các hiệp hội thông thường,
thậm tệ ngang hàng với các hội thể thao, hội đua ngựa, . . . Điều 7 của Đạo
dụ nầy nói thẳng rằng : “Có
quyền bát khước đi không cho lập hội mà không phải nói lý do” và giấy phép lập hội dù đã được cấp, cũng
có thể bị thâu hồi, nếu chính quyền xét rằng vì “lẽ trị an”, cần phải như vậy. Điều 12 và 44 chỉ dành
ưu tiên cho các hội Thiên chúa giáo có quyền lập hội, có quyền tạo mãi tài sản,
kinh tài mà không bị kiểm soát, ...
Với những bất bình đẳng đó, Phật giáo đồ
âm thầm tìm cách chống đối, tìm một thế đứng cho mình, chỉ chờ một cơ hội là
bùng nổ ! Đó là phong trào tranh đấu của Phật giáo Việt nam 1963.
Cuộc tranh đấu Phật giáo Việt nam, khởi đầu
từ vụ đàn áp tại Huế, rồi lan rộng khắp cả nước. Khi ở Huế lá cờ Phật giáo bị
triệt hạ, từ Sài gòn đã thành lập Ủy ban Liên phái Phật giáo, để thảo luận với Ủy
ban Liên bộ của nhà cầm quyền, hai bên đi tìm một thỏa hiệp. Điều mà chính quyền
(đại diện là Ủy ban Liên bộ), không thể giải quyết được vấn đề :
Kỳ thị tôn giáo vẫn còn
nặng nề khắp đó đây toàn cả miền Nam.
Ý nghĩa lịch sử : Đại lễ Phật đản năm 1963, trước đó,
chánh quyền Thừa Thiên - Huế được một công điện ngầm phát xuất từ Tổng thống phủ
ra lệnh :
*.- Triệt hạ cờ Phật giáo,
*.- Không được tập trung đông đảo,
*.- Hủy bỏ cuộc rước kiệu Phật từ
chùa Diệu Đế đến chùa Từ Đàm.
Hội Phật giáo Trung việt đã kịp thời can
thiệp, để chánh quyền giải tỏa bớt một số điều cấm cản, nhưng chính quyền vẫn
thẳng tay đàn áp dã man.
Như thường lệ mỗi năm, buổi Đại lễ được
thu thanh và sẽ được phát thanh lại vào lúc 8giờ tối hôm ấy tại đài Phát thanh
Huế. Nhưng, tối hôm ấy, đài đã không phát chương trình Phật giáo, mà chỉ phát
những chương trình vu vơ. Quần chúng tụ tập quanh đài để nghe, thấy vậy lấy làm
bất mãn. Số người tụ tập càng lúc càng đông có hơn Mười ngàn người đứng vây
quanh đài. Chính quyền cho xe cứu hỏa và xe vòi rồng xịt nước để giải tán. Cùng
lúc ấy, Thiếu tá nội an Đặng Sĩ đã cho bắn đạn mã tử để uy hiếp. Kết quả : Tám
Phật tử bị thương, rồi chết. Chính quyền đổ lỗi là do Việt Cọng gây nên chuyện
thảm thương ấy. Cuộc tranh đấu chính thức bùng nổ lớn khắp cả miền Nam Việt nam
từ đó.
Những câu khẩu hiệu trong cuộc rước kiệu
Phật gồm :
*-. Kính Mừng Phật Đản,
*.- Phật Giáo Đồ Nhất Trí Bảo Vệ Chánh Pháp
Dù Phải Hy Sinh,
*.- Yêu Cầu Chính Phủ Thi Hành Chính Sách
Tôn Giáo Bình Đẳng,
*.- Chúng Tôi Không Từ Chối Một Hy Sinh Nào,
*.- Phản Đối Chính Sách Bất Công Gian Ác,
*.- Đã Đến Lúc Chúng Tôi Bắt Buộc Tranh Đấu
Cho Chủ Trương Tôn Giáo Bình Đẳng.
Ngày 10-05-1963, quý ngài : Đôn Hậu, Mật Hiển (đương kim Trưởng ban Tổ chức Đại lễ Phật đản nầy), Mật Nguyện, Trí Thủ, Trí Quang, Thiện
Siêu, . . . đã họp tại chùa Từ Đàm, hoạch định đường lối và phương sách đấu
tranh. Bản Tuyên Ngôn gởi đến Tổng thống Ngô Đình Diệm gồm Năm nguyện vọng sau
đây :
1.- Yêu cầu chính phủ Việt Nam Cọng
Hòa thu hồi vĩnh viễn công điện triệt hạ giáo kỳ Phật giáo,
2.- Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng
một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên chúa giáo đã được ghi trong đạo
Dụ số 10,
3.- Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình
trạng bắt bớ và khủng bố tín đồ Phật giáo,
4.- Yêu cầu cho Tăng Ni Phật giáo được
tự do truyền đạo và hành đạo,
5.- Yêu cầu chính phủ đền bồi một
cách xứng đáng cho những kẻ chết oan vô tội, và kẻ chủ mưu giết hại phải đền tội
xứng đáng.
Sau đó, cũng tại chùa Từ Đàm lịch sử, lại
có thêm một Bản Phụ
Đính của tuyên ngôn
ngày 10-05-1963, được công bố, giải thích rõ ràng về Năm nguyện vọng trên như sau :
1.- Phật giáo Việt nam không chủ
trương lật đổ chính phủ để đưa người của mình lên thay thế mà chỉ nhằm đến sự
“Thay đổi
chính sách” của
chính phủ.
2.- Phật giáo Việt nam không có kẻ
thù, không xem ai là kẻ thù cả. Đối tượng của cuộc tranh đấu tuyệt đối không phải
là Thiên chúa giáo mà là chính sách bất công tôn giáo. “Chúng tôi tranh đấu cho lý tưởng Công
Bình, chứ không phải tranh đấu với tư cách một tôn giáo chống một tôn giáo”.
3.- Cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ
cho bình đẳng tôn giáo được đặt : “trong khuôn khổ của lý tưởng công bằng xã hội.”.
4.- Cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ
được thực hiện theo đường lối Bất Bạo Động “Chúng tôi phải thể hiện tư tưởng Phật
giáo ngay trong công cuộc tranh đấu của chúng tôi. Vì lý do đó, chúng tôi chấp
nhận một sự hy sinh đến tột độ và lấy sự hy sinh ấy làm sức mạnh để rung chuyển
tận lòng người chứ không phải rung chuyển chính sách mà thôi. Ngay từ bây giờ,
chúng tôi có thể tuyên bố minh bạch rằng những người Tăng sĩ của Phật giáo là
những là những người sẵn sàng noi theo Gandhi - vị thánh của sức mạnh Bất bạo động - Chúng tôi lại xác định thêm :
với phương pháp bất bạo động, chúng tôi sẽ tranh đấu trong phạm vi hợp pháp được
ngần nào tốt ngần đó.”
5.- Phật giáo Việt nam không chấp nhận
sự lợi dụng của bất cứ ai vào cuộc tranh đấu cho bình đẳng tôn giáo và công
bình xã hội. Phật tử từ chối sự lợi dụng của “những người Cộng sản và của những kẻ mưu
toan chức vị chính quyền.”.
Về đạo Dụ số 10/59, Bản Phụ đính đề nghị chính quyền
rút Tất cả các tôn giáo ra khỏi phạm vi ràng buộc của
đạo Dụ nầy. Yêu cầu chính phủ ban hành một chế độ đặc biệt cho các
tôn giáo trong đó có Phật giáo và Thiên chúa giáo.
Vào ngày 20-05-1963, một tài liệu dài 45 trang được gởi
đến chính quyền kê rõ những vụ đàn áp, bắt bớ và thủ tiêu do nhà Ngô cho thuộc
hạ thực thi.
Trước khi Cách mạng 01-11 thành công, thì đã có những
dữ kiện quan đưa đến như sau :
- Ngọn lửa Bồ tát Quảng Đức, đầu giờ
Ngọ, ngày 11 tháng 06 năm 1963,
- Cuộc tuyệt thực tại vĩ đại chùa Xá
Lợi, chùa Từ Đàm và các Thị, Tỉnh lớn,
- Biểu tình diễn hành,
- Tăng Ni bị giam giữ,
- Dư luận quốc tế chấn động,
- Hệ thống thông tin của Ủy ban Liên
phái,
- Những thủ đoạn của chính quyền,
- Ngọn lửa Thiền sư Nguyên Hương,
ngày 04-08-1963,
- Kế hoạch nước lũ, ngày 06-08-1963,
- Ngọn lửa của Thiền sư Thanh Tuệ,
ngày 13-08-1963,
- Ngọn lửa của Ni sư Diệu Quang, ngày
15-08-1963,
- Lệnh Tổng đình công tại Huế, ngày
06-08-1963,
- Ngọn lửa của Thiền sư Tiêu Diêu,
ngày 16-08-1963,
- Giáo chức Đại học từ chức,
- Lễ cầu siêu tại chùa Xá Lợi, ngày
17—8-1963,
- Đòn ác liệt của chính quyền, ngày
21-08-1963,
- Sinh viên và Học sinh toàn quốc đứng
dậy, ngày 21-08-1963,
- Ngọn lửa Thiền sư Quảng Hương, ngày
05-10-1963,
- Phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc
đến Sài Gòn, ngày 24-10-1963,
- Ngọn lửa Thiền sư Thiện Mỹ, ngày
27-10-1963, . . .
E.- Đại Lễ Phật Đản
2508 – 1964 : Phật Giáo Thống Nhất
Bối cảnh lịch sử : Năm 1964, đất nước biến chuyển nhiều sau
ngày Cách mạng 01-11-1963, đặc biệt là vấn đề chính trị và quân sự biến chuyển
không ngừng. Phật giáo thì trở về nguyên vị, không còn chuyện tranh đấu chống bạo
quyền ; tuy thế, cũng vẫn bị cuốn theo cơn lốc xoáy của thời đại. Thời đại
những nhóm đảng phái nhân danh đủ thứ về đường hướng dân chủ nhưng không có chủ
đích. Mạnh ai nấy bộc phát. Đất nước vẫn không mấy yên ổn, dân chúng vẫn gặp phải
nạn bất công, vẫn còn mạnh được yếu thua. Đám gia nô Ngô triều thì len lỏi vào
nhà thờ hoặc chùa chiền để ẩn núp, đợi chờ cơ hội thuận tiện mặc dù không phải
là con chiên ngoan đạo, không phải là Phật tử thuần thành. Tạo một không khí nặc
mùi hỗn loạn không kém phần tai hại.
Mặc dầu cách mạng 01-11-63 đã chấm dứt chế
độ độc tài, đảng trị và gia đình trị của họ Ngô, cũng như đã chấm dứt chuyện
tranh đấu chống kỳ thị tôn giáo ; nhưng, hết chuyện nầy đất nước và dân
chúng lại vươn mang thêm chuyện khác. Tuy thế, ngày đức Phật ra đời được tổ chức
trọng thể trên toàn quốc. Đó là Phật đản, Phật lịch 2527.
Ý nghĩa lich sử :
Phật giáo Việt Nam trở mình, ngày 31 tháng
12 năm 1963, các phái đoàn Phật giáo trong đó có Tổng hội Phật giáo Việt Nam
khai mạc đại hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại chùa Xá Lợi.
Đại hội đã đi đến quyết nghị là Thống nhất
Phật giáo trong một tổ chức Giáo hội duy nhất, với danh xưng Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất. Tất cả đồng
thanh suy cử Hòa thượng Thích Tịnh Khiết lên ngôi vị Tăng Thống và trực tiếp
lãnh đạo Hội đồng viện Tăng Thống và Hội đồng Viện hóa đạo. Viện trưởng Viện
hóa đạo là Thượng tọa Thích Tâm Châu.
Bản Hiến chương của Giáo hội được công bố
vào ngày 04 tháng 01 năm 1964.
Ngày 12 tháng 01 năm 1964, công bố thành
phần nhân sự của Hội đồng lưỡng viện. Trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang. Đa phần các
văn phòng của các Tổng vụ cũng được đặt tại Ấn Quang.
Hội Đồng Viện Tăng Thống gồm :
- Đức Tăng Thống,
- Đức Phó Tăng Thống,
- Đức Tổng Thư Ký,
- Chư Tôn Đức Trong Hội Đồng Giám
Luật.
Hội Đồng Viện Hóa Đạo gồm :
- Viện Trưởng,
- Nhị vị Phó Viện Trưởng,
- Tổng Thư Ký,
- Tổng Thủy Quỷ,
Ngoài ra, còn có các Tổng vụ :
* Tổng vụ Tăng sự,
* Tổng vụ Thanh niên và Gia đình Phật
tử,
* Tổng vụ Văn hóa,
* Tổng vụ Giáo dục,
* Tổng vụ Cư sĩ,
* Tổng vụ Tài chánh,
* Tổng vụ Nghi lễ.
G.- Đại Lễ Phật Đản
2517 – 1966 : Phật Giáo Tranh Đấu cho Dân Chủ Tự Do :
Bối cảnh lịch sử : Lúc nầy, chiến tranh Việt nam ngày một khốc liệt
và leo thang. Trên hai miền Nam Bắc, không một ngày nào mà người dân vô tội của
cả hai miền không gánh lấy cảnh bom đạn thảm thương. Không lúc nào mà trên quê
hương ban ngày thì nhà cháy, bom rơi, đạn lạc ; ban đêm thì ánh hỏa châu
rơi tứ phía. Riêng tại miền Nam Việt nam, người dân thôn quê kéo nhau về thành
thị để trốn tránh làn mưa đạn ngày một đông đúc. Suốt ngày toàn hưởng mùi tử
khí.
Về phía chính quyền, một số tướng tá tranh hùng tranh
bá, mà dân chúng, trên các mặt báo đều gọi là “quân
phiệt” ; vì, một nhóm quân nhân có đầy đủ vây cánh thì lại
tham dự vào việc chống chính quyền trung ương ; các đảng phái thì chia
nhau các ghế ngồi trong bộ máy cầm quyền đương thời.
Những lần hành quân miền giới tuyến, thì dân chúng bị
đàn áp, bị hà khắc.
Ý nghĩa lịch sử : Phật đản 2517, là năm cầu nguyện chung của Giáo
hội trên toàn cõi đất nước sớm được hòa bình, an lạc. Chống lại những bàn tay
âm mưu trong cũng như ngoài nước làm chia rẽ Phật giáo ra thành từng mảnh vụn.
Đặc biệt là của chính quyền và giáo gian.
Nguyện vọng của Phật giáo trong mùa đản sanh nầy đặt
ra với chánh quyền đương thời là quân sự :
1.- Chấm dứt các cuộc phong tỏa chùa chiền, bắt
bớ Tăng ni, trả lại tự do cho học đường, trong đó những sinh viên, học sinh,
thanh niên đã bị bắt giam vì đã tham gia những cuộc tranh đấu cho tự do tôn
giáo, tự do ngôn luận và tự do báo chí khắp cả miền Nam Việt nam.
2.- Chấm dứt tất cả những cuộc đàn áp tại Huế,
Đà nẵng, những cuộc đàn áp, bắt giam thô bạo tại hai thị xã nầy. Đồng thời, giải
tỏa chuyện bao vây kinh tế, thực phẩm đối với dân chúng Cố đô Huế. Con đường quốc
lộ I từ Đông hà vào tận Sài gòn và các tỉnh miền Tây phải được thông thương.
3.- Về phía chính quyền cần phải trao lại cho
thành phần dân cử, không còn nạn quân phiệt như những năm 1964, 1965, . . . Cần
một chế độ dân chủ thực sự phải được tự do bầu cử, phổ thông và trong sạch. Hủy
bỏ chính sách cô lập các đảng phái chân chính, bộ máy hành chánh phải thật sự
do dân và vì dân.
4.- Không để cho lớp Cần lao của chế độ Ngô triều
tái phục hoạt vào bộ máy hành chánh để cho tuyệt đại đa số quần chúng nông thôn
thấp cổ, bé họng phải hứng chịu những đau khổ xưa nay lại tiếp tục chịu đau khổ
thêm nữa.
H.- Đại lễ Phật đản
2519 – 1973 : Phật giáo tranh đấu cho Hòa bình :
Bối cảnh lịch sử : Chiến tranh Việt nam bắt đầu chuyển hướng,
bước sang một giai đoạn mới, đi đến vấn đề chấn dứt chiến tranh. Hoa kỳ chuẩn bị
rút quân toàn bộ ra khỏi Việt nam, căn cứ vào Hòa đàm Ba lê và Hiệp ước Hòa
bình và chấm dứt chiến tranh.
Chế độ của Nguyễn Văn Thiệu vô cùng thối
nát, hết diễn tuồng báo chí xuống đường xách bị gậy đến chuyện chống tham nhũng,
các phong trào nổi lên khắp nơi tố khổ chế độ.
Việt nam hóa chiến tranh từ năm Mậu thân
1968 đến mùa hè đỏ lửa càng ngày càng leo thang tột độ. Con đường giao thông quốc
lộ I từ Đông hà vào Huế đã mang tên là Đại lộ Kinh hoàng. Tuy thế, sau tháng
06-1972, quân lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu trắc nghiệm với thế độc lập.
Hội nghị Phật giáo thế giới, Phật giáo Việt
nam kêu gọi Hòa bình sớm vãng hồi cho Việt nam và yêu cầu hai phe lâm chiến phải
nghiêm chỉnh thực thi.
Ý nghĩa lịch sử : Phật đản 2519, là một thông điệp dấy
lên phong trào đòi hỏi hai phe lâm chiến phải có tinh thần tạo một nền hòa bình
cho Việt nam, một tinh thần hòa giải dân tộc và đã yêu cầu :
1.- Hai bên lâm chiến phải nghiêm chỉnh
thực thi về các điều khoản đã ký kết.
2.- Phật giáo Việt nam nguyện đóng
góp tối đa với tất cả những khá năng sẵn có. Cố gắng đem hết công sức của mình
để hàn gắn những vết thương chiến tranh. Giáo hội sẽ tận tâm phụng sự xã hội bằng
cách cứu trợ cho nạn nhân chiến cuộc. Thiết lập cô, ký nhi viện, những trại tạm
trú, . . . Tiếp tay với chính phủ bằng cách tạo những nhà tình thương và đào tạo
cán bộ y tế cấp tốc những trạm y tế tại địa phương, nhất là những vùng thôn quê
hẻo lánh.
3.- Mở những lớp học mẫu giáo miễn
phí những vùng bị chiến tranh tàn phá, đều do chư Tăng Ni và Phật tử trực tiếp
hướng dẫn, giảng dạy.
4.- Tiếp tay với chính phủ cứu trợ
những vùng bị thiên tai bão lụt, cứu tế những thương bệnh binh và những trại
cùi xa tỉnh thị, nhất là miền Trung.
5.- Tại hải ngoại, thành lập một tổ
chức vận động hòa bình cho Việt nam của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
I.- Phật đản 2529 –
1985 : Giáo hội và Tăng Ni Tín đồ tại quê nhà bị tỏa chiết, tại hải ngoại
cố gắng vươn lên :
Bối cảnh lịch sử : Vấn đề Thống nhất đất nước thì làm cho người
dân Việt cả hai miền ai cũng mong muốn và mong muốn thật sự. Tuy thế, thống nhất
như thế nào để đừng đưa đến mạnh được yếu thua, mà người chịu đựng vẫn là con
dân nước Việt. Cảnh nồi da xáo thịt. Đó là điều mà chúng ta, ai ai cũng đều suy
nghĩ cho dù là làm dân bất cứ miền nào của đất nước.
Thống nhất đất nước không những chỉ sự ước muốn của
người dân, mà những nhà lãnh đạo chính quyền có tinh thần vì dân, vì nước thật
sự của cải hai miền đều mong muốn và đều đồng tâm hiệp lực cầu nguyện có ngày
như vậy, ngoại trừ những kẻ vọng ngoại, mong cầu sự giàu sang, cố tình bóc lột
trên xương máu quần chúng Việt nam.
Việc đến và phải đến do sự xếp đặt của các thế lực ngoại
bang có quyền quyết định vận mạng đất nước ta, nên đã xảy ra chuyện 30 tháng tư
đen của năm 1975.
Ý nghĩa lịch sử : Ngày đại lễ Phật đản đầu tiên của sự thống nhất
đất nước đã đưa đến :
1.- Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất bị bức
tử ; Chư tăng ni có vị phải chịu cảnh lưu đày, tù tội xa xứ ; có vị
phải bỏ thân trong ngục tù. Có những vị, vì lý tưởng tự do và quyền hành đạo cũng
như truyền đạo không được thực hiện, nên chấp nhận lấy ngọn lửa để tự thiêu
thân tập thể như 12 vi Tăng Ni ở Rạch Ngòi, Cần Thơ. Rồi đưa dần đến những cái
chết của quý Hòa thượng Thích Thiện Minh, Hòa thượng Thích Trí Thủ, . . . Hòa
thượng Thích Huyền Quang bị lưu đày tại chùa Hội Phước, tỉnh Quảng Ngãi, Hòa
thượng Thích Quảng Độ bị lưu đày trở về nguyên quán ở Thái Bình, Hòa thượng Thích
Đức Nhuận nguyên Chánh thư ký Viện Tăng Thống cùng quý Thượng tọa Tuệ Sỹ
và Trí Siêu lâm cảnh tù tội khổ sai chung thân.
2.- Hàng Tín đồ : Nhà tan cửa nát, con xa cha, vợ
xa chồng. Hơn một nửa phải vào các trại tù với danh hiệu “Học tập cải tạo”.
3.- Gần hai triệu con dân nước Việt phải tìm cái
sống trong cái chết, bằng cách vượt biên, vượt biển để đổi lấy hai chữ “Tự do”, trên khắp thế giới.
4.- Người con Phật, ra đến hải ngoại cưu mang
: Tìm cuộc sống khả dĩ, tìm kinh tế cho gia đình nơi định cư, hướng về
quê nhà để giúp thân nhân. Song song với cuộc sống, tìm hoàn cảnh thuận duyên để
phục hoạt lại Giáo hội Phật Giáo Việt nam Thống nhất bằng cách xây dựng lại
chùa chiền trong khả năng hạn hẹp lúc ban đầu.
5.- Các Đại giới đàn được mở ra để truyền thọ giới
tử “Tục diệm truyền đăng” giữ gìn
mạng mạch của Phật giáo:
Canada thì có Giới đàn Tịnh Khiết, Hoa Kỳ có Đại giới
đàn Thiện Hòa tại Phật Học Viện Quốc Tế, Âu châu có Đại giới đàn Liễu Quán tại
chùa Thiện Minh, thành phố Lyon – Pháp quốc, v.. v...
J.- Phật đản 2536
-1992 : Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất tại Hoa kỳ, hình thành –
Giáo hội PGVNTN các châu và Canada cũng được thành lập.
Bối cảnh lịch sử : Trong khi Giáo HPGVNTN tại quê nhà
bị tê liệt cả trăm ngàn lần, thì tại hải ngoại bắt đầu xuất hiện các giáo hội
như là :
Hoa kỳ thì có :
- Tổng hội Phật giáo Việt nam,
- Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống
nhất – Hoa kỳ,
- Giáo hội Liên tôn,
- Giáo hội Phật giáo Nam tông, . . .
Canada :
- Giáo hội Tăng già trên thế giới,
- Tổng giáo hội Canada, . . .
Âu châu và Úc châu cũng đều có Giáo hội.
Ý
nghĩa lịch sử : Khâm thừa
Di huấn của cố Ðại lão Hòa thượng Thích Ðôn Hậu, Chánh thư ký Xử lý viện Tăng
thống ; vâng lời Giáo chỉ của Hòa thượng Thích Huyền Quang, quyền Viện
trưởng Viện Hóa đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ; nên quý chư
tôn Giáo phẩm : HT. Hộ Giác, HT. Ðức Niệm, HT. Chánh Lạc, HT. Thắng Hoan,
HT. Trí Chơn, TT. Thiên Trì, TT. Tịnh Từ, TT. Minh Ðạt, TT. Tín Nghĩa, TT. Minh
Dung, TT. Viên Lý, TT. Nguyên An, TT. Nguyên Trí, TT. Nguyên Siêu, TT. Giác Lượng,
ĐĐ Giác Đẳng, ĐĐ Huyền Việt, ... cùng chư tôn Ðại Ðức và toàn thể Tăng Ni Tín đồ
tại Hoa kỳ, đã đồng tâm nhất trí đứng lên vận động Thống nhất Phật Giáo tại Hoa
Kỳ suốt tám tháng liên tiếp.
Ðại
hội thành công mỹ mãn trong các ngày 25, 26 và 27 tháng 09 năm 1992 tại thành
phố San Jose, miền Bắc của tiểu bang California với tinh thần tương thân, tương
kính, tương sám và tương thuận như Giáo Hội Mẹ tại quê nhà đang mong mỏi.
1.- Giáo hội Phật Giáo Việt
nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa kỳ đã được hình thành gồm :
a.-
Một bản Quy chế,
b.-
Một Hội đồng Đại diện (Sau
khoáng đại III đổi lại thành Hội đồng Giáo phẩm) gồm :
- Có vị Chánh Văn Phòng,
- Một hay nhiều vị Phụ tá,
c.-
Một Hội Đồng Điều hành gồm :
- Chủ tịch,
- Nhiều vị Phó chủ tịch,
- Tổng thư ký và Phó tổng thư ký,
- Thủ quỷ và Phó thủ quỷ,
Các
vụ :
- Vụ Tăng sự,
- Vụ Ni bộ,
- Vụ Hoằng pháp,
- Vụ Văn hóa,
- Vụ Giáo dục,
- Cư sĩ,
- Vụ Thanh niên và Gia đình Phật tử,
- Vụ Cư sĩ,
- Vụ Truyền thông,
- Vụ Giao tế,
- Vụ Kinh tế tài chánh,
- Vụ Pháp chế,
- Vụ Nghi lễ. (Sau đại hội Khoáng đại III,
nhóm họp tại chùa Cổ Lâm, Seattle, WA. được đổi thành Tổng vụ).
Các
Ban và Ngành, . . .
Ngoài
ra còn có các miền :
- Miền Liễu Quán,
- Vạn Hạnh,
- Tố Liên,
- Miền Thiện Luật,
- Miền Tịnh Khiết,
- Miền Quảng Đức,
- Miền Khánh Hòa,
- Khuông
Việt,
- Vĩnh
Nghiêm,
Có miền có vị Chánh, Phó Đại Diện,
có miền thì chưa được đầy đủ nhân sự như ý muốn.
d.-
Hội Đồng Giám Luật, (Sau
Khoáng đại III, không còn nữa) gồm :
- Chủ tịch,
- Phó chủ tịch,
- Thành viên Hội đồng,
e.-
Hội đồng Giám sát (Sau
khoáng đại III, không còn nữa) gồm :
- Chủ tịch,
- Phó chủ tịch,
- Thành viên Hội đồng. ...
K.- Phật đản 2530 – 1999 : Đại hội Khoáng đại VIII
: Hợp thức hóa Hội đồng Lưỡng Viện tại quê nhà đang bị tê liệt, không có
điều kiện để phục hoạt và sinh hoạt.
Bối
cảnh lịch sử : Trong suốt 22 năm, kể từ Khoáng đại VII được nhóm họp vào ngày 23 tháng 01 năm
1977, tại Tổ đình Ấn Quang – Sài gòn thì trong các ngày 13, 15 và 15 tháng 09
năm 1999, tại Phật Học Viện Quốc Tế, tiểu bang California, thành phố North
Hills, lại tiếp sức và vùng dậy tinh thần Giáo Hội Phật Giáo Việt nam Thống nhất
trong và ngoài nước.
Đại lễ Phật đản 2530 – 1999 được
trang trọng tổ chức và cử hành tại thành phố Santa Ana, miền Nam California,
quy tụ trên Ba mươi bảy ngàn (37,000) đồng bào, với gần Mười bốn phái đoàn Phật
giáo của các quốc gia Đông Nam Á tham dự. Đặc biệt Đại hội Khoáng đại VIII nầy, cố Hòa tượng Thích Đức Niệm, Chánh
văn phòng Hội đồng Đại diện là Trưởng ban. Và, là Đại lễ Phật đản lớn nhất, quy
tụ Đồng bào Phật tử cũng như quý Phái đoàn Phật giáo nhiều nhất tại hải ngoại,
kể từ khi có làn sóng con dân nước Việt vượt biên, vượt biển đi tìm tự do.
Cũng từ đại lễ Phật đản nầy trở về
sau, những chuyển biến của các Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất Hải ngoại
tại Hoa kỳ, Canada và các châu lục đã lớn mạnh, đã đóng góp tích cực cho quê
hương, xứ sở và Giáo hội Mẹ dưới nhiều hình thực cụ thể và thiết thực.
Ý
nghĩa lịch sử : Kể từ Đại hội VIII do giáo hội Mẹ úy thác,
và Phật đản lịch sử 2530 nầy, đánh dấu những sự kiện đáng kể :
1.- Suy cử hòa thượng
Thích Đôn hậu, xử lý viện Tăng Thống lên ngôi vị Đệ Tam Tăng Thống, tại đại hội
Khoáng đại nhóm họp tại chùa Cổ Lâm, Seattle, WA.
2.- Hội đồng Điều hành của
Giáo hội đã đến trụ sở Liên hiệp quốc, tại Nữu Ước (Hoa kỳ) cũng như tại Genève (Thụy sĩ) để vận động cho Giáo
hội Mẹ được phục hoạt, cũng như có Nhân quyền tại Việt nam.
3.- Kế đó, các đại hội của
các tổng vụ được diễn ra :
- Đại hội Tổng vụ Văn hóa, họp chùa tại Phật Đà ở San Diego, California,
- Đại hội Tổng vụ Cư sĩ, họp tại Tổ đình Từ Đàm Hải ngoại, Dallas, Texas
- Đại hội Tổng vụ Thanh niên, sơ bộ tại Tổ đình Từ Đàm Hải Ngoại, chính
thức tại chùa Diệu Pháp, miền Nam California.
4.- Cung thỉnh đức Hòa thượng
Thích Huyền Quang, đương kim xử lý Viện Tăng thống lên ngôi vị Tăng Thống.
5.- Cung thỉnh chư Tôn túc
vào Hội đồng chứng minh của GHPGVNTN trong cũng như ngoài nước,
6.- Công bố Hội đồng Lưỡng
viện của Giáo hội Mẹ, họp tại Tu viện Nguyên-Thiều - Bình Định cùng
với biến cố Lương Sơn.
7.- Bổ sung nhân sự vào Văn
phòng II Viện Hóa Đạo, . . .
8.- Ngày 18 tháng 12 năm 2005, lễ
kỷ niệm 30 năm, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bị nhà cầm quyền Cọng sản
Việt nam tìm cách bức tử, chư tôn đức Tăng Ni cũng như hàng Phật tử bảo vệ
Chánh pháp bằng cách tự lấy ngọn lửa để thiêu thân ; nói lên ý chí sắt
son phụng sự đạo và lẽ sống tự do của người dân.
Tuy nhiên, hằng năm Giáo hội
PGVNTNHN-Hoa kỳ đều có long trọng tổ chức Đại lễ Phật đản thật trang nghiêm đến
những vùng Phật tử và Đồng hương cư trú đông đúc như : San Jose, San Diego, Minnesotta, v.. v…
L.- Kỷ Niệm : Ba Mươi Nam, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất Tranh Đấu
Bối cảnh lịch sử :
Như chúng ta đều biết, chính sách Cộng Sản trên toàn thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng, đều có chung một chủ trương : Không Tôn giáo, hoặc có, thì cũng là công cụ của chính thể
Cộng Sản.
Thực vậy, kể từ tháng Tư đen – 1975, miền Nam Việt Nam hoàn toàn do Cộng Sản kiểm
soát, thì vẫn có tôn giáo trong giáo điều (họ cho là Hiến pháp) của họ
được nói lên rằng : Tự do tôn giáo và tự do
không tôn giáo. Nhưng thực ra, họ dàng dựng một tôn giáo theo kiểu của
Đảng và Nhà nước kiểm soát chặt chẻ. Phật giáo Việt nam không nằm ra ngoại lệ
đó.
Ý nghĩa lịch lịch sử :
Khi Cộng Sản cưởng chiếm miền Nam Việt Nam, họ đã bắt bớ, giam cầm, tù đày hoặc
phân hóa những Tăng Ni và Tín đồ có tâm đạo nhiệt thành. Thu hồi chùa chiền mà
đặc biệt là các vùng thôn quê thật vô cùng trầm trọng. Bởi thế, đã đưa đến cho
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất những chua xót và đau đớn, nên trong những
ngày Đại hội Thường niên, kỳ 1, nhiệm kỳ IV của
GHPGVNTNHN-HK, đã nhóm họp và đưa ra những Quyết nghị như dưới đây :
QUYẾT NGHỊ 15 ÐIỂM
của Ðại hội Thường
niên lần 1 nhiệm kỳ IV
GHPGVNTNHN tại
Hoa Kỳ - Văn phòng II Viện Hóa Ðạo
Ðại hội Thường niên kỳ 1 nhiệm kỳ
IV Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ - Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo (GHPGVNTNHN-HK-VP.II
VHÐ) tổ chức tại Chùa Phật Pháp ở thành phố St Petersburg, tiểu bang Florida
Hoa Kỳ, trong ba ngày 7, 8 và 9.10.2005, đã thể hiện sâu xa tinh thần "kiến hòa đồng giải" (1) với Ý thức Giải nguy hiện trạng nội ma
ngoại chướng đang phân hóa cộng đồng dân tộc và cộng đồng tôn giáo.
Sau ba ngày Ðại hội, qua bốn cuộc
họp khoáng đại sôi nổi, chư Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni và quý đạo
hữu Cư sĩ, đại diện 33 phái đoàn thuộc các Hội đồng, các Tổng vụ và các Miền,
kiểm điểm Phật sự trong năm vừa qua với ý chí thiết tha kiện toàn Giáo hội và vạch
hướng phát huy sinh hoạt Giáo hội tại hải ngoại liên hệ với tình hình trong nước.
Ðặc biệt Ðại hội này có sự tham dự của Ðại biểu các Giáo hội đến từ Âu châu,
Canada, Úc Ðại lợi và Tân Tây Lan.
Khâm thừa Quyết định 27/VPLV do Ðại
lão Hòa thượng Xử lý Thường vụ Hội đồng Lưỡng viện ký ngày 10.12.1992 về việc
công nhận Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ là Văn
phòng II Viện Hóa Ðạo, Ðại hội khai triển Quyết nghị thành lập Hội đồng Thường
vụ Văn phòng II Viện Hóa Ðạo thông qua tại Ðại hội Khoáng đại III tháng
10.2004, thành văn bản Dự thảo Quy chế Văn phòng II Viện Hóa Ðạo để trình Hội đồng
Lưỡng viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, phê chuẩn. Ðây là bước tiến
mới trong việc liên kết và điều hợp Phật sự giữa các châu.
Sau khi nghe 12 Báo cáo hoạt động
của các Tổng vụ thuộc Hội đồng Ðiều hành GHPGVNTNHN-HK - VP.II VHÐ và nghe hiện
tình sinh hoạt tại Âu châu, Canada, Úc đại lợi và Tân Tây Lan, Ðại hội vô cùng
phấn khởi trước sự phát triển ngày càng lớn của Giáo hội tại hải ngoại trên các
lĩnh vực xã hội từ thiện, cứu trợ thiên tai, hoằng pháp, văn hóa, truyền thông
và vận động quốc tế.
Ðại hội đồng thanh quyết nghị :
1. Phấn khởi và hỗ trợ công cuộc
phát triển của Giáo hội trong nước thông qua sự thiết lập 5 Ban Ðại diện Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại các tỉnh Quảng Nam - Ðà Nẵng, Thừa thiên - Huế,
Bình Ðịnh, Khánh Hòa và Bà Rịa - Vũng Tàu trong ba tháng vừa qua ;
2. Chiếu Quyết nghị thông qua tại
Ðại hội Khoáng đại III tháng 10.2004, tổ chức Kỷ niệm "30 năm Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất vận động cho Tự do tôn giáo và Nhân quyền" vào ngày 18.12.2005 tại Chùa Diệu
Pháp, trụ sở trung ương của Giáo hội, ở thành phố San Gabriel, California.
Ngoài việc đánh dấu mốc thời gian trên đường thành tựu, mục đích còn để tỏ lòng
tri ân, tưởng niệm và tôn vinh 22 Tăng, Ni và Phật tử hy hiến thân tâm bảo vệ
Chánh pháp, Tự do, Nhân quyền, mà 12 Tăng Ni tự thiêu tập thể ngày 2.11.1975 tại
Thiền viện Dược sư, tỉnh Cần Thơ, là những Ngọn Ðuốc mở đầu cuộc vận động lịch
sử cho Tự do tôn giáo và Nhân quyền tại Việt Nam. Ðại hội hỗ trợ Phòng Thông
tin Phật giáo Quốc tế phát hành cuốn sách "30 năm Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất vận động cho Tự do tôn giáo và Nhân quyền" thu tập các văn kiện, tài liệu
trong và ngoài nước suốt thời gian vận động 30 năm, 1975 - 2005 ;
3. Phát huy thành quả cụ thể trong
năm 2005, gia tăng tổ chức quy mô các khóa tu học, an cư kiết hạ cho chư Tăng,
Ni năm tới, và mở rộng các khóa hoằng pháp cho Phật tử các giới ;
4. Tổ chức học tập các văn kiện,
thông điệp và tài liệu do Hội đồng Lưỡng viện trong nước và Văn phòng II Viện
Hóa Ðạo ở ngoài nước công bố. Tổ chức những chuyến viếng thăm thường niên qua
các châu ;
5. Mời gọi sự tham gia của giới
Trí thức, Nhân sĩ và Cư sĩ trong công cuộc Vận động dân tộc cho Tự do, Nhân quyền
và Dân chủ ;
6. Hỗ trợ và phát huy phong trào
Gia Ðình Phật tử Việt Nam tại Hoa Kỳ, mà những thành quả khích lệ thời gian qua
biểu hiện sức sống năng động của thế hệ trẻ Phật giáo ;
7. Tiến hành Quyết nghị của Tổng vụ Văn
hóa tổ chức kỷ niệm các nhà văn hóa quá cố và trao giải thưởng văn học và
nghiên cứu cho các nhà văn, học giả hiện thời ;
8. Rút kinh nghiệm các cuộc cứu trợ
của Giáo hội cho các nạn nhân Sóng Thần tại Thái Lan, Nam Dương, Tích Lan, giúp
đỡ người tị nạn Việt Nam ở Phi Luật Tân, Cam Bốt, cũng như các cơn bão lớn tại
Hoa Kỳ và Việt Nam, cơ cấu hóa công tác từ thiện xã hội để phục vụ kịp thời những
nạn nhân khi thiên tai xẩy đến, nhằm thể hiện cụ thể lòng từ bi của Phật giáo ;
9. Yểm trợ bằng mọi phương diện
cho công tác đào tạo Tăng tài tại Thừa thiên - Huế và các tỉnh khác ở Việt Nam
;
10. Thiết lập Ban Tri ân và Báo hiếu
đối với chư vị tôn túc cao tuổi trong và ngoài nước ;
11. Ðại lễ Phật Ðản 2550 sẽ được tổ
chức tại Santa Ana, miền Nam California Hoa Kỳ, vào thượng tuần tháng Tư âm lịch
Bính Tuất, 2006, do Hòa thượng Thích Chơn Trí đảm trách ;
12. Ðại hội Thường niên kỳ 2 nhiệm kỳ IV sẽ
được tổ chức tại chùa Thích Ca Ða Bảo ở San Jose, miền Bắc California, trong dịp
lễ Colombus năm 2006 và do Hòa thượng Thích Trí Lãng đảm trách ;
Trên lĩnh vực hoạt động đối ngoại
và quốc tế :
1. Mở rộng công tác ngoại giao
thân hữu với các phong trào Phật giáo, Nhân quyền và Dân chủ trên thế giới, đặc
biệt tại các quốc gia Châu Á ;
2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống
nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ cùng với Giáo hội các châu tiếp tục cuộc vận động quốc
tế để hoàn tất mục tiêu tối hậu : đòi hỏi trả tự do cho Ðức Tăng thống Thích
Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Ðộ và chư Thượng tọa giáo phẩm thuộc Hội đồng
Lưỡng viện bị bắt ngày 9.10.2003 và quản chế sau Ðại hội Nguyên Thiều, đặc biệt
phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ;
3. Kêu gọi sự hậu thuẫn của thế giới
thực hiện Chương trình 8 điểm trong "Lời Kêu gọi cho Dân chủ Việt
Nam" do
Hòa thượng Thích Quảng Ðộ nhân danh Hội đồng Lưỡng viện, Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất, công bố năm 2001, như một tiến trình dân chủ hóa Việt Nam bằng
tình nghĩa dân tộc và phương thức bất bạo động, nhằm chấm dứt tình trạng phân
tranh, nghèo đói, suy kiệt của đất nước;
Phật lịch 2549 –
Làm tại Chùa Phật Pháp, thành phố
St Petersburg, tiểu bang Florida,