|
......... |
. |
|

Trúc Lâm Thiền Phái Thi Tập
Thích Tín Nghĩa
Tổ Ðình Từ Ðàm Hải
Ngoại
Ấn hành Phật lịch 2547
- TL: 2003
|
---o0o---
Hồi chuông (và,)
^
Mùi hương tịnh độ,
Trong thơ một nhà
tu hành, mang tên tín nghĩa.

Nhà thơ Du Tử Lê
Càng lớn tuổi, tôi càng sinh lòng cảm phục, ngưỡng
mộ các tu sĩ - những người chọn lựa tận hiến cuộc đời mình, cho đạo
pháp.
Lòng cảm
phục, ngưỡng mộ nơi tôi, càng lớn lao hơn, một khi, tôi được biết, đó là
những tu sĩ, lên đường, bước vào nẻo Ðạo, khi còn rất trẻ - - ở độ tuổi
niên thiếu, thanh niên.
Lòng cảm
phục, ngưỡng mộ nơi tôi, càng lớn lao hơn nữa, một khi, tôi được biết, đó
là những tu sĩ, chẳng những đi hết (hoặc sắp hết,) lộ trình đạo pháp (mà,)
còn vượt biên cương giáo lý một đạo pháp; để dung chấp giáo lý những đạo
pháp, khác.
Tôi muốn gọi
các tu sĩ đó, là những Hành-Giả-Tình-Thương-Nhân-Loại-Mới - - Dù họ là sứ
giả rao giảng chân lý cứu, độ trần gian của bất cứ tôn giáo nào.
Ðứng từ vị
trí một kẻ tầm thường, ngã mạn một cách rồ dại, tối ám của mình, hôm nay,
tôi không thể không bày tỏ lòng cảm phục, ngưỡng mộ của tôi, về Thượng Tọa
Tín Nghĩa - - Vị tu sĩ đã tận hiến cuộc đời mình cho đạo pháp - - Kẻ lên
đường bước vào nẻo Ðạo, giữa độ tuổi thiếu niên, xanh ngát...
Nhìn từ góc
độ sân, si của một tâm đặc, cứng chấp thủ của mình, hôm nay, tôi không thể
không bày tỏ lòng cảm phục, ngưỡng mộ của tôi, về Thượng Tọa Tín Nghĩa - -
Vị tu sĩ chẳng những đang bước những bước cuối trên lộ trình đạo pháp
(mà,) ông còn cho thấy, ông đã bước qua khỏi những vạch phấn phân biệt, đố
kỵ giữa giáo lý tôn giáo này, với giáo lý tôn giáo khác.
Sau những
tiếp xúc trực tiếp với Thượng Tọa Tín Nghĩa, cá nhân tôi, muốn gọi ông là
một (trong hiếm hoi) những Hành-Giả-Tình-Thương-Nhân-Loại-Mới.
Tôi nhớ, đã
đọc được đâu đó, lời dạy của Ðức Thích Ca Mâu Ni, rằng, nếu con không làm
lợi lạc được đến cho kẻ khác, thì, hãy cố rán đừng gây đau khổ, thiệt hại
cho kẻ ấy.
Sự trực nhớ
này, càng khiến tôi, hôm nay, không thể không bày tỏ lòng cảm phục, ngưỡng
mộ Thượng Tọa Tín Nghĩa - - Bởi vì, trong ghi nhận của tôi - - với thân,
tâm một tu sĩ, ông chẳng những mang lợi lạc đến cho mọi người - - (Mà,)
ông còn cho chúng ta những vần thơ - - Kết quả của những lao tác tinh thần
trong phạm trù văn chương - - Như mặt khác của những hồi chuông (và,) mùi
hương tinh độ.
Là kẻ tầm
thường với tất cả sân, si, ngã mạn một cách rồ dại, tối ám, nhưng tôi vẫn
thấy, tôi yêu biết bao, những câu thơ của tu sĩ / thi sĩ Tín Nghĩa, như:
Thân này là giả huyễn
Cõi đời cũng tạm thôi
Chuốt trau rồi cũng bỏ
Trang điểm cũng tan đời.
Hoặc:
Bạn nói vừa đủ nghe
Ðể mọi người theo về
Trong phút giây tỉnh thức
Và thoát khỏi bờ mê.
Hoặc nữa:
Chân bước nhẹ vào chùa
Ðừng nói chuyện hơn thua
Thân và Tâm an trú
Trong chánh niệm Phật thừa.
Tôi tin, tôi
sẽ mãi nhớ những câu thơ vừa trích dẫn của Thượng Tọa / Thi Sĩ Tín Nghĩa.
Bằng vào sự
mãi nhớ kia, tôi tin, nếu thân, tâm tôi, có những chuyển đổi nào đó,
(thì,) cũng do nơi những câu thơ kể trên; và, những câu thơ, như vậy.
Du Tử Lê
(Calf. Feb. 2003)
Vài cảm nghĩ về
Tín Nghĩa Thi Tập
^

Nhà văn Vĩnh Hảo
Bàn về thơ, đối với tôi, không phải
chuyện dễ. Bàn về thơ đạo lại càng khó bội phần. Vậy mà không thể không
bàn nói một chút về tập thơ nầy.
Tín Nghĩa Thi Tập gồm khoảng 80 bài do một nhà tu Phật
giáo sáng tác. Tập thơ gom góp bề dày thời gian
20 năm sinh sống và hành đạo của tác giả nơi xứ người, với bao hoài vọng,
hồi ức, kỷ niệm, ước vọng, hoài bão... và trên hết, nỗi tha thiết muốn
đóng góp chút gì đó cho dân tộc và đạo pháp trong giai đoạn nhiễu nhương,
thống khổ của quê hương.
Người đọc có thể tìm thấy nơi đây tâm tình của một nhà tu
chay tịnh nơi cửa Thiền, những nỗi niềm thật gần gũi, mật thiết với đời
sống, qua những bài nói về thế thái nhân tình, lòng hoài vọng cố hương,
hoặc tư duy về vận nước:
Mai cười đùa gió lạnh,
Ðào nở đón xuân về,
Tin xuân đưa tới niềm hy vọng,
Trông ngóng trời xa đượm tình quê.
(Báo Tin)
Lòng xao xuyến thu vàng đổ lá,
Xa quê hương mấy độ thu về,
Thu về lòng những nhớ quê,
Ơn thầy, tình bạn não nề vắng xa.
(Cảm Niệm Vu Lan)
Một phần nào nghĩ suốt thâu canh,
Ngồi đứng, vào ra vẫn một mình,
Nhớ nước đau lòng thân sầu thảm,
Thương nhà xót ruột dạ buồn tênh.
(Cảm Thán)
Nhưng đồng thời bạn đọc cũng sẽ nhận ra, qua hầu hết những
bài thơ khác, niềm tin mãnh liệt vào sự vi diệu của Phật Pháp được tỏa
sáng trong từng chữ, từng lời, từng đoạn thơ của tác giả:
Thậm thâm vi diệu pháp,
Là lục tự Di Ðà,
Chí tâm vô biệt niệm,
Thẳng đến cửu liên hoa.
(Chú ý)
Khổ càng tu học, khổ mới tiêu,
Nếu khổ không tu, khổ càng nhiều,
Nghiệp chướng vương mang thêm sầu lụy,
Oan khiên trừ diệt hết đăm chiêu.
(Dứt Khổ)
Xuất gia từ thuở bé, với gần nửa thế kỷ tụng đọc và thâm
nhập kinh điển cũng như các thiền kệ của nhà Thiền, tác giả đã sáng tác
thơ trong một phong thái và tâm cảnh rất tự nhiên, dễ dàng, không gượng
ép. Cảm nhận một điều gì, liền ghi xuống, theo vần điệu nhập tâm quen
thuộc, vậy là thành thơ. Hơi thơ đi nhẹ với chút cẩn trọng như của một
thiền gia nắm giữ hơi thở trong chánh niệm. Lời thơ giản dị, trong sáng,
không cố ý dùng nhiều điển tích hoặc từ ngữ khúc mắc, cầu kỳ. Cấu trúc thơ
vẫn giữ nguyên vẻ cổ điển, không cố tình phá thể hoặc cách tân như nhiều
nhà thơ hiện đại khác, mà lại nhịp nhàng một cách khéo léo trong khuôn
khổ.
Có thể nói, tác giả chú trọng chuyên chở ý đạo, biểu đạt
tư tưởng, hơn là dấn mình trọn vẹn vào thế giới của ngôn ngữ và thi ca.
Nhưng cũng nhờ sự thâm sâu, tha thiết trong thệ nguyện và sự hành trì tu
tập, ngôn ngữ đạo nở hoa. Và sự thành công của tác giả về mặt văn chương,
chính là ở điểm nầy.
Bàng bạc trong mấy chục bài thơ là chân tình của một người
tu, yêu đạo, thương đời, luôn ưu tư đến khổ nạn của người khác, cảm thông
và chia xẻ với mọi người về kinh nghiệm sống cũng như kinh nghiệm tu tập.
Với kiến giải minh bạch và niềm tin kiên cố nơi Chánh Pháp, tác giả, như
một hậu duệ chí hiếu, thừa tự di sản quý báu của Thầy Tổ, thắp sáng ngọn
đuốc từ bi và giác ngộ qua ngôn ngữ thơ của thời đại. Và đây cũng là mặt
thành công khác của tác giả.
Ðối với văn chương cũng như đối với tông môn, tác giả
không đảm nhận vai trò của một người khai phá, mở đường, tìm cầu cái mới;
mà âm thầm tự khiêm, chọn lấy sứ mệnh của một kẻ bảo trì, gìn giữ giềng
mối cao đẹp cổ kính của tiền nhân. Cái đẹp của thi phong và tuệ học ở đây,
vô tình lại tỏa ngát hương vị thâm trầm dài lâu của Chân, Thiện, Mỹ.
Xin cám ơn tác giả và xin trân trọng giới thiệu cùng bạn
đọc.
California, ngày 12 tháng 4 năm 2003,
Vĩnh Hảo
NHÀ THƠ ÁO NÂU ^

Lam Nguyên
Nếu ngược
dòng lịch sử thì ta sẽ thấy Thiền tông Việt nam thời Lý Trần rất thịnh
đạt, Thiền sư đã đóng góp trong cuộc phục hưng Tổ quốc trên phương diện
chính trị và phát triển văn hóa dân tộc. Những nhà thơ thời Lý Trần vừa là
thi sĩ, y sĩ và vừa là giáo sư ... Thời đó, thơ thiền chiếm một số lượng
rất lớn. Ðặc sắc Thiền tông Việt nam thời Lý Trần ngoài tông chỉ “phá
chấp” (cởi bỏ mọi sự vướng mắc), “đốùn ngộ” và “tâm truyền”, Thiền sư còn
phục vụ cho đất nước khi tổ quốc lâm nguy; giúp người dân trên nhiều
phương diện làm cho xã hội mỗi ngày một tốt hơn. Tiêu biểu cho tinh thần
nói trên, vua Trần Nhân Tông (1258-1308) và cũng là Sơ tổ của Trúc lâm
Thiền phái đã diễn ý trong bốn câu kệ ở bài phú Cư Trần Lạc Ðạo như sau:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tác xan hề, khốn tắc miên,
Gia trung hữu bảo, hưu tầm nịch,
Ðối cảnh vô tâm, mạc vấn Thiền.
Trần Nhân Tông
Lam Nguyên dịch:
Ðời cứ tùy duyên vui sống đạo,
Mệt thì nằm ngủ, đói ăn liền,
Trong nhà của quý, tìm đâu nữa,
Trước cảnh tâm yên, chớ hỏi Thiền.
Và, nay tôi xin giới thiệu với quý độc giả nhà thơ Áo Nâu
và cũng là Thiền sư thuộc phái thiền Trúc Lâm.
Thơ. Nói về thơ, định nghĩa về thơ thật là khó. Nhưng
chúng ta cũng có thể nhìn thơ như cây đàn muôn điệu, cây cọ muôn màu. Thơ
là tiếng lòng thổn thức vì cảnh sắc bên ngoài hay sự rung động sâu xa
trong hồn người mà hôm nay xin độc giả cùng tôi thưởng thức bài thơ của
nhà thơ Áo Nâu. Nhắc về Huế thì những ai đã từng đến Huế đều công nhận là
phong cảnh hữu tình đầy thơ và mộng. Huế với sông Hương núi Ngự, với chiếc
cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp, với Từ Nhẫn tháp Linh Mụ cao bảy
tầng đứng soi bóng bên giòng Hương giang, hay đứng nhìn giòng Hương giang
uốn quanh Thành nội rồi bao quanh Cồn hến để trở về biển cả. Ai ra xứ Huế
mà không ít nhiều mộng mơ tiếc nhớ, nhất là người bản xứ khi mang tâm
trạng xa quê như nhà thơ Áo Nâu mà thi nhân đã gởi tâm sự mình qua bài thơ
Nhớ Huế như sau:
Ðã bao lần tôi muốn về thăm Huế,
Lặng ngắm nhìn cảnh cũ của đế đô,
Huế yêu thương, Huế đẹp, Huế mộng mơ...
Phú Văn Lâu đứng ngắm mấy chuyến đò,
Ðưa áo Trắng sang sông trường Ðồng Khánh,
Thuyền sông Hương ngược dòng lên Văn Thánh,
Cầu Tràng Tiền in bóng nước Hương giang,
Chợ Ðông Ba đón khách nắng ... mơ màng,
Ngâm câu hát Nam Bình về An Cựu,
Vĩ Dạ đò trăng nhớ ai mộng ảo,
Tịnh Tâm buồn áo não nhớ tích xưa,
Sen nở, hoa cười, gió mát, hương đưa,
Người câu cá đâu có còn ngồi đó ?
Hoàng thành ơi ! Bây giờ còn nhớ rõ ?
Cồn Hến chừ bắp đã trổ bông chưa ?
Ðỉnh Ngự thông reo với mấy câu hò,
Bến Thương Bạc trông qua đò Âm Phủ,
Cầu Thanh Long ngóng lên cầu Bạch Hổ,
Tháp bảy từng Thiên Mụ vẫn đứng yên,
Lặng ngắm nhìn về Phường Ðúc, Tràng Tiền,
Hồi chuông đổ trong màng sương chiều xuống.
Ai lên Từ Ðàm, ai trèo Kim Phụng,
Ai xuống Ðò Cồn, ai nghe tiếng trống,
Ở Tam Tòa liên tiếp đổ từng hồi,
Giữ khuya buồn với giọng hát đầy vơi,
Lòng nhớ Huế, trong tôi dài bất tận,
Là dân Huế, ai mà không oán hận,
Chuyện sáu ba, chôn Phật tử thảm thương?
Ðể lòng dân than khóc suốt đêm trường,
Do chế độ nhà Ngô gây áo não,
Mắt mọi người lệ chảy hoài chưa ráo,
Rồi tiếp theo sáu tám, tết Mậu Thân,
Lập mồ chôn tập thể khắp xa gần,
Làm dân Huế, lại càng thêm điêu đứng,
Tuy như thế, Huế mãi còn đứng vững,
Từ ngàn xưa đến tận suốt ngàn sau,
Xin mọi người, ta hãy đứng cùng nhau,
Ðừng quên Huế, Huế muôn đời bất diệt.
Tín Nghĩa – Nov. 21, 1998
Ngồi đọc bài thơ Nhớ Huế của nhà thơ Áo Nâu giữa đêm thu
mưa buồn nơi đất khách lòng tôi như chùng lại, nhớ
quê nhà ray rứt. Bài thơ Nhớ Huế không những chỉ nhắc lại những địa danh
mà còn nhắc lại những chứng tích lịch sử, chẳng hạng như câu:
“Người câu cá đâu có còn
ngồi đó ?” Ðã gợi lại cho chúng ta
nhớ những lúc nhà cách mạng Trần Cao Vân gặp vua Duy Tân ở hồ Tịnh Tâm
trong Thành nội để bàn chuyện chống Pháp. Nào là tiếng trống Tam tòa, hoặc
Phật giáo Pháp nạn 1963 của nhà Ngô, hoặc tết Mậu thân. Từ đó làm cho tôi
nhớ lại lời phát biểu về thơ của Vương Quốc Duy đời nhà Thanh bên Trung
hoa:
“Thi nhân đối vũ trụ nhân sinh tu nhập hồ kỳ nội, hựu tu
xuất hồ kỳ ngoại. Nhập hồ kỳ nội, cố năng tả chi. Xuất hồ kỳ ngoại, cố hữu
cao chí.” Nghĩa là: Nếu là nhà thơ thì đối với
vũ trụ nhân sinh ta nên bước vào bên trong nhưng lại nên quay ra bên
ngoài. Cho nên, khi bước vào bên trong ta mới có thể quan sát được. Rồi
lại khi bước vào bên trong ta mới có thể thêm sinh khí mà ra bên ngoài thì
lại được cao siêu.
Có lẽ nhà thơ Áo Nâu khi sáng tác bài thơ Nhớ Huế theo
quan điểm trong Luận ngữ:
“Tử viết: Tiểu từ hà mạc học phù thi? Thi khả dĩ hứng, khả
dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán”. Nghĩa
là: Các trò nhỏ ơi, sao không học Kinh thi? Thi có thể giúp cho việc
tạo hứng khởi, giúp cho việc xem xét, việc hợp quần, việc đáng ghét.
Và để khép lại bài viết nầy, tôi xin mời độc giả thưởng
thức hương thiền qua bài Kệ của nhà thơ Áo Nâu để theo đó, Phật tử chúng
ta dùng làm kim chỉ nam cho việc hành và tu theo đạo Phật:
Liễu Nhiên kệ
Ngã thân thiền môn tại,
Ngã nguyện cực lạc quy,
Dục đắc niết bàn lộ,
Nhất hướng niệm vô vi.
Tín Nghĩa
Tác giả dịch là:
Thân tôi nương náu cửa thiền,
Tâm tôi nguyện hướng về miền Lạc bang.
Muốn cho thẳng đến niết bàn,
Một lòng nguyện hướng con đường vô vi.
Thi nhân Áo Nâu đã dùng hai chữ Vô vi hàm chứa hai ý
nghĩa:
Ý thứ nhất theo triết lý Lão tử là ta sống theo lẽ tự
nhiên, không có gì gò bó cả, nên không bị cột chặt để làm mất đi cái chân
chính của mình.
Ý thứ hai, Vô vi là Vô vi pháp của nhà Phật là những cảnh
giới bất biến, thường hằng, không sanh diệt, ... Vô vi pháp là pháp xa lìa
nhân duyên tạo tác, xa lìa mộng tưởng điên đảo, đó là Chân như vô vi, tức
Niết bàn. Hay ta có thể nói Niết bàn là tối thắng của Vô vi pháp vậy. Ðọc
bài kệ Liễu Nhiên của nhà thơ Áo Nâu, tôi chợt nhớ hai câu cuối bài kệ Cảm
Hoài của Thiền sư Chân Không (1046-1100) đời nhà Lý như sau:
Nhân nhân tận thức vô vi lạc,
Nhược đặc vô vi thủy thị gia.
Nghĩa là:
Cái cảnh “vô vi” ai chẳng thích,
Ðược vào cảnh ấy mới là nhà.
Cả hai bài kệ khi đọc xong vẫn còn thấy dư âm vang vọng
trong tâm hồn độc giả.
Lam Nguyên
Seattle Thu Kỷ Mão - 1999
Ðôi Lời Bộc Bạch
^
Thơ là một vườn hoa, một bức tranh họa, muôn màu, muôn
sắc và có nhiều góc độ khác nhau tùy theo người đọc và nhìn vào nó.
Thuở nhỏ đi học, rất thích thơ và học thuộc nhiều thơ của
những bậc cổ đức cũng như những bài thơ mới về sau nầy của các thi hào:
Lưu trọng Lư, Thanh Tịnh, Vũ hoàng Chương, Du Tử Lê và nhiều lắm, không
nhớ hết. Tuy nhiên thích nhất là loại thơ Ðường luật, Tứ tuyệt, Ngũ ngôn
và loại thơ mới tám chữ.
Khi học thơ ở nhà trường, các thầy văn chương cũng hay ra
đề cho học sinh, thì tôi cũng thuộc loại khá của lớp. Gần trọn cuộc đời tu
niệm trong chốn thiền môn, chịu ảnh hưởng nhiều về những bài Thi kệ, những
bài Thiền kệ của chư Tổ và Thiền sư.
Chân dung tác giả
Khi còn ở quê nhà, tôi có làm một tập thơ, viết tay rất
cẩn trọng, nhưng chưa có dịp để xuất hiện thì tết Mậu thân đưa nó thành
tro bụi với tủ sách một thể. Rồi hoàn cảnh chiến tranh triền miên, đưa đẩy
làm thân nổi trôi đó đây nơi hải ngoại. Cái may
mắn là mỗi lần đi thuyết giảng Phật pháp đó đây ở Hoa kỳ, Canada và Âu
châu, khi trà đàm, tôi có trình làng với chư Tăng một vài bài Thi kệ, được
chư Tôn Ðức khích lệ và khuyến tấn nên tiếp tục, đặc biệt là Cố Hòa thượng
Thích Ðức Niệm khuyến tấn nhiều nhất; đồng thời, quý Ngài nói: “Thầy Tín
Nghĩa làm sao gom góp lại những bài của các Vị tiền bối trong môn phái để
có một tập thơ của Trúc Lâm Thiền Phái, mặc dầu, thơ của Thầy chiếm hết
tác phẩm.”.
Với sự khuyến khích nhiệt tình ấy, nên tôi cố gắng mỗi khi
thấy cõi lòng thanh thoát, tức cảnh viết vài chữ để dành theo những thể
điệu đã được học từ nhỏ, tuy không hay ho gì cho mấy, nhưng đây cũng
là một kỷ niệm nho nhỏ rất quý giá đối với cá nhân tôi. Hơn hai mươi năm,
mỗi khi làm một ít, góp nhặt lại mới có được tập thơ nầy với tựa đề Trúc
Lâm Thiền Phái Thi Tập.
Tập thơ nầy, phần đầu là những bài của Tổ Khai sơn Trúc
Lâm Ðại Thánh Tự – Cố đô Huế và một số của các ngài vai vế Sư phụ, Sư
thúc, ... Trong tập thơ nầy, tôi không sắp theo thứ tự về năm tháng mà sắp
theo vần mẫu tự ABC.
Hôm nay, nhân duyên vừa đủ cho những gì mà tôi có được,
tôi xin được trình làng và mong được hướng
dẫn. Các bậc Thi hào cao minh nhận thấy những gì trong tập nầy không được
hoàn chỉnh, cũng xin hoan hỷ thương tình chỉ giáo để trong tương lai, nếu
được thì sẽ phong phú hơn.
Nhơn đây, tôi xin chân thành ghi ơn và thâm tạ chư liệt
vị:
_Cố Giác linh Hòa thượng Thích Ðức Niệm, Chánh Văn
phòng Hội Ðồng Ðại Diện của Giáo hội.
_Hòa thượng Thích Hộ Giác, Chủ tịch Hội Ðồng Ðiều
Hành GHPGVNTNHN – Hoa Kỳ,
_Thượng tọa Thích Tịnh Từ, Viện trưởng Tu viện Kim
sơn,
_Thượng tọa Thích Viên Lý, Tổng Thư ký Hội đồng Ðiều
Hành GHPGVNTNHN – Hoa kỳ,
_Thi hào Du Tử Lê,
_Nhà văn Vĩnh Hảo,
_Nhà bình thơ Lam Nguyên,
Ðồng thời, riêng tặng và (Rất) cám ơn Sư cô Thích Nữ Hạnh
Thanh, Một vị phụ tá đã tận tâm, tận tình hỗ trợ cho những Ðại Phật sự
trọng yếu trong suốt hơn mười năm qua, để Thầy yên tâm tu niệm và hành
đạo, nhất là về phần thừa hành Phật sự của Giáo hội được hanh thông và tác
phẩm Trúc Lâm Thiền Phái Thi Tập ra đời một cách mỹ mãn.
Sau cùng xin cám ơn một số bằng hữu trong và ngoài nước đã
chân tình khích lệ, hướng dẫn cũng như tạo cơ duyên để Thi tập được hình
thành và được trình diện đến quý vị và quý đôïc giả.
Tỳ kheo THÍCH TÍN NGHĨA
Hoa Kỳ, mùa Ðản sanh Quý mùi 2547 - 2003
|
An Cư
^
Nhâm ngọ năm nay chúng an cư,
Tăng, Ni câu hội ngoại tháng tư,
Bắc, Nam tông phái đều đầy đủ,
Cúng ngọ, quá đường chúng hữu dư,
Hữu dư thất chúng đã tựu về,
Tu học cùng nhau đủ mọi bề,
Niệm Phật, hô canh, tọa thiền có,
Trú dạ lục thời chẳng bỏ bê,
Chẳng bỏ bê về chuyện tiến tu,
Chư Tăng tịnh niệm với công phu,
Bát kỉnh Ni lưu nương cầu học,
Ðàn tràng hòa ái, tuyệt nhất như.
Nhất như đại chúng tại Từ Ðàm,
Ðàn hạ chu toàn, vạn sự an,
Hải chúng đồng ban lời pháp nhũ,
Ðạo tràng hiển hiện vạn hỷ hoan,
Hỷ hoan tu học suốt hai tuần,
Phật tử tóm thâu được bội phần,
Phân bố: Chư Tăng tuyên giáo pháp,
Hỷ hoan: Phật tử nhận phước ân.
Phước ân đón nhận chúng đại từ,
Phước ở nơi đây: phước hữu dư,
Ân ấy: gieo duyên do tu tập,
Nhâm ngọ năm nay chúng an cư.
Trọng hạ Nhâm ngọ - 2002
|
Bài Thứ Nhất
^
Âm:
Tứ bích tiêu sơ tế vũ nan,
Tùng phong thôi xúc lậu tăng hàn,
Bồ lan tâm ý hoành thu sắc,
Thức đắc lô trung cá đẳng nhàn.
Tổ Giác Tiên
Dịch:
Bốn vách tiêu sơ khó ngăn mưa,
Gió tùng thấm lọt mãnh y thưa,
Bồ đoàn quyết ý thu tâm tưởng,
Biết được trong lư, mặt mũi xưa.
Dịch theo vần Lục bát:
Mưa bay bốn vách khó ngăn,
Gió tùng thấm lọt, bần tăng lạnh vừa.
Bồ đoàn tâm ý tóm thu,
Trong lư, mặt mũi ngày xưa hiện hình.
|
|
Bài Thứ Ba
^
Âm:
Sơ lâm vũ quá tịch dương thì,
Khe bạn hoành tương trúc địch xuy,
Nhứt khúc tự ngu sơn thủy lục,
Thử tình bất dự bạch vân phi.
Tổ Giác Tiên
Dịch:
Rừng thưa đêm vắng gió mưa bay,
Yến vãn bên khe, thúc thổi hay,
Khúc nhạc thiên thu nghe tự đủ,
Tình nầy chẳng ngại đám mây bay.
Dịch theo vần Lục bát:
Rừng thưa đêm vắng, mưa bay,
Nghe chim yết hót, trúc gài am mây.
Thiên thu khúc nhạc đủ đầy,
Mây bay chẳng ngại, tình nầy quản chi.
|
Bài Thứ Hai
^
Âm:
Giác mộng tàn tinh điểm bán không,
Trường thiên cô nhạn ảnh vô tung,
Sơ minh nguyệt sắc tà lan ý,
Ấn nhập thiền thâm tiêu tức trung.
Tổ Giác Tiên
Dịch:
Tỉnh mộng tàn canh thấy tánh không,
Dưới trời chim nhạn vốn không tung,
Vầng trăng chiếu rọi ngoài hiên vắng,
Ấn nhập thiền tâm, tiêu tức trung.
Dịch theo vần Lục bát:
Tàn canh thấy mộng trống không,
Dưới trời chim nhạn vốn không tông (tích) loài.
Vầng trăng chiếu rọi hiên ngoài,
Thiền tăng chứng nhập, trong ngoài tiêu tan.
|
|
Báo Tin
^
Ðông đến hoa đào nở,
Hơi lạnh với cành mai,
Báo tin xuân đến nhiều hương
sắc,
Vạn vật, nhân sinh rộn rã cười.
Cành đào vừa hé nở,
Nụ mai mỉm miệng cười,
Tin xuân đưa đến cùng nhân
loại,
Hương sắc điểm tô đến cho đời.
Mai cười đùa gió lạnh,
Ðào nở đón xuân về,
Tin xuân đưa tới niềm hy vọng,
Trông ngóng trời xa đượm tình
quê.
Trọng đông Kỷ mão -
1998
|
Mơ Ước ^
Ðã ngoại lục
tuần, tuổi có dư,
Nhớ dân thương
nước mãi đậm đà,
Hoa kỳ chích
bóng sầu cô quạnh,
Quốc nội thâm
tình nhớ thiết tha.
Mong ước một
ngày về thăm lại,
Xuyến xao mấy
độ vẫn còn xa.
Bao giờ mới
được về quê cũ,
Hay vẫn chốn
nầy ta với ta?
Trọng
thu Tân tỵ - 2001
|
|
Cảm Niệm Vu Lan^
Lòng xao xuyến thu vàng đổ lá,
Xa quê hương mấy độ thu về,
Thu về lòng những nhớ quê,
Ơn thầy, tình bạn não nề vắng xa.
Chốn phát vãng, vào ra đơn bóng,
Nhớ Mẹ già, xế bóng tóc sương,
Hai hàng lệ nhỏ trào tuôn,
Mấy mùa lá rụng, mấy lần xa quê...
Mùa Báo hiếu lại về, về nữa...,
Phận làm con lần lữa đáp đền,
Nguyện cầu tất cả bình yên,
Thất thế phụ mẫu hưởng miền an vui.
Lúc còn sống, người người hạnh phúc,
Thác hóa rồi, xả tục siêu thăng,
Vu lan tỏ ánh trăng rằm,
Chúng sanh độ tận muôn vàn khổ đau.
Con dân Việt sớm mau giải thoát,
Khỏi gông cùm lũ ác, cuồng nhơn,
Cơm no, áo ấm vẹn toàn,
Việt Nam – Phật Giáo huy hoàng bền lâu.
Vu lan 2534 – Oct. 07, 1990
|
Bồ Đề Đạo
Tràng ^
Bồ đề Ðạo tràng,
Lòng ước ao, thao thức tự xưa nay,
Bầu khí thiêng ngút tỏa ngất trời mây,
Bầu tụ khí đong đầy xua trần tục,
Cội Bồ đề năm xưa cao chất ngất,
Tỏa lá cành xanh mát cho trần gian,
Con đứng đây với tâm trí nhẹ nhàng,
Bái nhận lấy bản chơn kinh của Phật,
Ðây khung cảnh suốt bảy tuần thường nhật,
Ðức Thế tôn thành đạo chuyển pháp luân,
Khắp thế gian hàng con Phật xa gần,
Vân tập về đây cúi đầu đảnh lễ.
Tụ hội về đây là điều không dễ,
Nếu không tu thì không thể bước vào,
Bồ đề Ðạo tràng thanh tịnh biết bao,
Tăng hay tục đều thấm sâu chơn lý:
Giải thoát tình trần, xa rời ích kỷ,
Hiện tâm từ, liễu ngộ lý vô sanh,
Ðến đây rồi, hưởng không khí mát lành,
Không phiền muộn, được thanh bình an lạc.
Vào đến đó (*), đầy an vui giải thoát,
Ra khỏi đây (*), lắm đau khổ muộn phiền,
Hởi người con Phật xa gần.
Quý thu Canh thìn – 2000
(*) tức khuôn viên của Bồ đề Ðạo tràng.
|
|
Cảm Niệm Sư Phụ (1)
^
Giạ lê, đất Hương thủy,
Ðầu thế kỷ hai mươi,
Họ Nguyễn duy hoan hỷ,
Sanh hạ được một người.
Xuất gia sáu tuổi rưởi,
Ðầu sư tổ Giác tiên,
Trúc lâm bước dõng mãnh,
Xả thân để cầu hiền.
Thông minh từ tấm bé,
Ðĩnh ngộ trang nghiêm đời,
Hoa từ bi vừa hé,
Giới định huệ tuyệt vời.
Tăng già mãi cầm cân,
Giáo hội mãi góp phần,
Luôn để tâm chấn chỉnh,
An hòa Chúng trung tôn.
Vượt thời gian, không gian,
Trách nhiệm với Tăng đoàn,
Trong dụng tâm Bồ tát,
Ngoài hiện tướng Thanh văn.
Húy thượng Tâm hạ Hương,
Pháp giới đã phổ huân,
Ðạo hiệu là Mật Hiển,
Rải tâm diệu cát tường,
Cát tường, cát tường thùy,
Giới hạnh tuyệt uy nghi,
Suốt đời cho Giáo hội,
Tăng chúng bất xả ly.
Oai đức thì trác tuyệt,
Bổn sư cũng vừa lòng,
Liền phú chúc diệu kệ,
Tự tại và thong dong.
Kệ rằng:
“Tâm Hương pháp giới huân,
Xứ xứ kết tường vân,
Phú nhữ tâm hương tánh,
Cừ kim chánh thị quân”. (2)
Ngoại tám lăm năm lẻ,
Uy đức rải bốn phương,
Ðã dày công hóa độ,
Cho đạo pháp, quê hương.
Thế rồi, ngày Phật đản,
Giữa tháng tư vui mừng,
An nhiên nhìn Thất chúng,
Từ giả thật ung dung.
Khắp Việt nam đây đó,
Về Trúc lâm giả từ,
Chúc Ngài về cõi Phật,
Ðạt cảnh giới Nhất như.
Quê hương và Giáo hội,
Nhìn lương đóng vắng Ngài,
Trúc lâm chừ vắng bóng,
Bi quyện, lệ chảy hoài.
Từ nay Ngài quảy gót,
Ðạo cốt vẫn trường tồn,
Thừa thiên lưu di ảnh,
Cho Ðại chúng Trung tôn.
Phật đản Nhâm
thân – 1992.
(1) Ngài húy thượng Tâm hạ
Hương, đạo hiệu Mật Hiển. Là thành viên Hội đồng Giám luật Viện Tăng Thống
GHPGVNTN, tọa chủ Tổ đình Trúc Lâm – Cố đô Huế, Phó Pháp chủ GHPGVN. Ngài
xả báo thân đúng ngày Rằm tháng Tư, Ðản sanh 2536, sau khi Giáo hội PGVNTN
Thừa Thiên - Huế đã tổ chức xong lễ Phóng sanh đăng trên dòng Hương giang;
Thất chúng đều đứng chung quanh Ngài, ngài nhìn từng vị một và từ từ quảy
gót đăng trình có sự hiện diện của HT. Thiện Siêu, Sư bà Diệu Không và chư
Tôn thiền đức cùng nam, nữ Phật tử.
(2) Bài kệ đắc pháp do bổn
sư của Ngài là tổ Giác Tiên đã phú chúc.
|
|
Chúc Tết ^
Chúc tết, chúc nhau vạn sự lành,
Chúc người, chúc bạn sống phân minh,
Quê hương dân tộc cần gắng sức,
Hải ngoại kiều bào chớ phân tranh.
Hy vọng tương lai trời bừng sáng,
Mong chờ vận hội ánh bình minh.
Việt nam dân tộc bừng bừng dậy,
Hạnh phúc ấm no mọi gia đình.
Trọng xuân Tân dậu - 1981
|
Cảm Thán ^
Đêm nằm trằn trọc suốt
canh thâu,
Hết đứng rồi đi bởi vì đâu?
Nhớ đến Quê hương đang khổ lụy,
Trông về Giáo hội thấy lao đao.
Càng thương càng nhớ tâm chua
xót,
Còn ước còn mong ý xuyến xao.
Cầu nguyện quê hương và đạo
pháp,
Tự do, khương thái một phần
nào.
Một phần nào nghĩ suốt thâu
canh,
Ngồi đứng, vào ra vẫn một mình,
Nhớ nước đau lòng thân sầu
thảm,
Thương nhà xót ruột dạ buồn
tênh,
Việt nam thống nhất nào hạnh
phúc,
Giáo hội phân ly chẳng quang
vinh,
Cầu nguyện cho nhau cùng tâm
huyết,
Việt nam - Phật giáo sớm an
bình.
Trọng xuân Nhâm tuất -
1982
|
|
Chú Ý
^
Cố lọc thân và tâm,
Chớ để bị hôn trầm
Di Ðà luôn biệt niệm,
Ðạt diệu lý thậm thâm.
Thậm thâm vi diệu pháp,
Là lục tự Di Ðà,
Chí tâm vô biệt niệm,
Thẳng đến cửu liên hoa.
Cửu liên hoa khai mở,
Chắc chắn đón ta về,
Nếu bây giờ tu tập,
Sẽ vượt thoát bờ mê.
Bờ mê không còn nữa,
Ðời sống sẽ thăng hoa,
Thân tâm trừ loạn động,
Tự tại ta với ta.
Trọng hạ Ðinh mão - 1987
|
Cõi Vắng (*)
^
Một mình đứng giữa chốn hoang vu,
Khói quyện chân mây tỏa mịt mờ,
Tuyết phủ bốn bề thân buốt giá,
Gió lùa tứ phía miệng cứng đơ.
Kêu ai chẳng được thôi đành chịu,
Gọi bạn không quen cũng đợi chờ.
Từng phút ngóng trông, từng phút mất,
Quay qua, nhìn lại chỉ mình ta.
Trọng đông Canh thân - 1980
(*) Kỷ niệm ngày đi học anh
văn ESL tại Ðại học CCD Denver, chưa quen đường đi lạc ra ngoại ô, xe hư
bị nằm giữa đường.
|
|
Cố Nguyện
^
Phát nguyện đường tu ngoại mười ba,
Ði tu đâu luận trẻ với già,
Câu kinh, tiếng kệ: đầy an lạc,
Tiếng mõ, hồi chuông: chẳng phôi pha,
Giải thoát lòng trần: tâm dứt khổ,
An nhiên cảnh tịnh: ý chẳng nhòa,
Ðã là cát bụi, về cát bụi,
Cõi Phật nương về, sẽ có ta.
Trọng xuân Giáp tý - 1994
|
Dong Ruỗi ^
Lang thang,
Từ độ luân hồi,
Tử sinh nào biết:
Ðất trời tiêu hao.
Hết ra,
rồi lại đi vào,...
Nào ai,
Tính sổ đâu nào,
Mà lo?...
Trọng đông Giáp
tý - 1984
|
|
Cố Tập Tu ^
Đời có khổ Phật khuyên dứt khổ,
Cố tập tu, bớt khổ thêm vui,
Phật dạy răn cố giữ ai ơi!
Sống như thế thì đời tươi đẹp,
Vâng lời Phật, lòng không chật hẹp,
Xả bỏ đi những chuyện thế gian,
Tâm không còn lòng dạ tiểu nhân,
Cố giữ được tinh thần Phật giáo,
Lời Phật dạy, thâm sâu uyên áo,
Tâm thảnh thơi bất cứ ở đâu,
Tình yêu thương ban rải cho nhau,
Không phân biệt kẻ giàu, người mọn,
Phát tâm tu phải đi cho trọn:
Với những gì kinh điển khắc ghi,
Cố hành trì: Hỷ xả từ bi,
Hướng dẫn nhau cùng đi tới đích,
Tham sân si, khi tu phải dứt,
Tiến tu thì biến thức thành chơn,
Tu làm sao thoát khỏi phàm trần,
Lúc tịnh niệm: Thân tâm buông xả,
Tu giải thoát, con đường cao cả,
Càng tiến tu, Phật hóa càng mau,
Chín phẩm hoa sen, sớm được vào,
Vô minh diệt, trần lao cũng diệt,
Trên đây là những lời tha thiết,
Nhắc mọi người để biết hành trì,
Thở ra là miệng niệm tức thì,
Di Ðà Phật, đứng đi cũng niệm,
Niệm thế nào đến lúc vô niệm,
Chánh giác thời sẽ đến với ta,
Dù thân nầy đang ở Ta bà,
Tâm ta vẫn đang là Tịnh độ,
Xin mọi người cần chuyên, nhớ rõ:
Cố tập tu, dù khó cũng thành,
A Di Ðà Phật tâm kinh,
Nhất tâm trì niệm, phước phần có ngay.
Mạnh hạ Kỷ tỵ - 1989
|
Im Lặng
^
Một phút giây im lặng,
Là phút giây bình yên,
Một phút giây im lặng,
Là trút hết ưu phiền.
Nếu im lặng tịnh tu,
Ðạt cảnh giới nhất như,
Nếu im lặng mộng tưởng,
Thì khổ báo chẳng chừa.
Nếu biết dùng im lặng,
Ðể quán tưởng chướng duyên,
Ðưa thân tâm an trú,
Vào cảnh giới tịch nhiên.
Nếu dụng tâm im lặng,
Vào cảnh giới tham thiền,
Thân tâm không loạn động,
Ðược giải thoát an nhiên.
Trọng hạ Ất hợi - 1995
|
|
Ðông Về
^
Trời mùa đông, xứ cờ hoa đầy tuyết,
Lá xa cành cây đứng lạnh cô đơn,
Chung quanh ta là màu trắng khăn tang,
Phủ tất cả cây cành cùng đường sá,
Một mình ta với khung trời xa lạ,
Ngọn gió lùa buốt giá tận tâm can,
Còn gì đâu chuyện hứng thú mơ màng,
Tất cả đó chìm vào cơn giá rét,
Gió đông về lại mang thêm hơi tết,
Tết ở đây chẳng giống tết quê nhà,
Tết ở đây vui chỉ có mình ta,
Hàng Phật tử, nhà nhà lo bấm thẻ (*),
Chiều ba mươi, một cửa chùa nhỏ bé,
Ðếm loanh quanh chưa tới được dăm người,
Ðây cũng là tết mới với riêng tôi,
Không thân thích bà con cùng thầy bạn,
Ai mới qua đây, cái gì cũng chán,
Ở lâu rồi cố bám chẳng muốn về.
Mặc dầu trời buốt giá, cảnh lê thê
Nhưng tất cả mải mê cùng xứ lạ,
Dù bên ngoài gió mưa rơi lả chả,
Nhưng ai ai cũng hỷ hả vui lòng,
Mưa về gió lạnh đêm đông,
Cơm no áo ấm, đẹp lòng bên nhau.
Ðêm đông Denver - 1980
(*) Bấm thẻ:
Tức mọi người phải đi làm, không được nghỉ theo ý như ở quê nhà, dù là tết
hay những ngày lễ lớn như: Phật đản, Vu lan, Rằm tháng mười.
Kỷ niệm
những ngày làm Trú trì chùa Việt nam và lãnh đạo tinh thần Cộng đồng Phật
giáo Việt nam tại Denver, tiểu bang Colorado.
Ðón Xuân
^
Ðón xuân đất khách chẳng quen ai,
Xuân đến lần nầy, lần thứ hai,
Ngó tới nhìn lui như muốn khóc,
Quanh đi quẩn lại cũng biếng cười.
Ðào mai vài cụm, hoa vừa héo, (1)
Tùng cúc đôi cành, lá chẳng tươi. (2)
Kiếm pháo đốt chơi, cần giấy phép, (3)
Ra vào lui tới cái thân côi.
Quý đông Tân dậu - 1981
( 1) và (2) Mùa đông ở
xứ Hoa kỳ tuyết phủ, nên tất cả hoa đều héo lá và bị hư.
(3) Ở xứ nầy, muốn đốt pháo
phải xin phép hẳn hoi, nhưng cũng chưa chắc đã được; ngoại trừ những cộng
đồng lớn.
|
Ðồng Tiền^
Trên đời quý nhất lại là tiền,
Tiền nói, tiền kêu để thành tiên,
Chồng vợ, anh em đều rút tỉa,
Mẹ cha, bè bạn cũng đua chen.
Nghĩa tình tiền thiếu, tình cũng bớt,
Hiếu sự tiền dư, hiếu vẫn bền.
Suy gẫm cho cùng rồi cũng vậy,
Té ra, đời chỉ ngán đồng tiền.
*
* *
Ðồng tiền chỉ đạo mọi hướng đi,
Tiền thiếu, đời ta sẽ bị khi, (1)
Ðạo đức tốt lành khi tiền đến,
Ân tình hời hợt lúc tiền đi.
Nghèo hèn giữa chợ không người mến, (*)
Giàu có trong non có khách vì. (2)
Hờn giận, thương yêu do tiền hết,
Biết tu mới khỏi bị cu li... (3)
Cu li, tiền thiếu mới khổ thân,
Nói được làm sao chuyện an bần? (4)
Giờ trước vui vầy vì chưa mó,
Phút sau hờn giận bị chia phân.
Mắt mờ tiền đủ nên thiếu trí,
Dạ tối tiền thưa lại hóa sân.
Nông nỗi vì tiền, sinh đủ thứ,...
Chi bằng tu niệm mới an thân.
*
* *
An thân chớ lụy với đồng tiền,
Chớ luận có tiền mua được tiên,
Giá trị không tiền mà an lạc,
Hư danh lắm của vẫn ưu phiền.
Trên đời sung sướng là tu học,
Dưới thế âu lo ấy đảo điên,
Phật dạy tu thân nên khắc kỷ,
May ra bén gót bậc thánh hiền.
Thánh hiền tu được bởi có nhìn:
Họa phước sinh ra cũng do tiền,
Dân tộc điêu linh vì tham nhũng,
Quốc gia khốn đốn lắm đảo điên.
Thầy trò đạo bạn không thành thật,
Tình nghĩa thân sơ vẫn quàng xiên.
Quý nhất trên đời là tu niệm,
May ra cuộc sống mới an nhiên.
An nhiên cảnh tịnh, vượt ưu phiền,
Xa cảnh trần ai khổ triền miên,
Túi đựng bạc tiền, nhiều kẻ hót,
Thân không manh áo, chẳng người vin.
Tiền làm tôi tớ, là vinh dự, (5)
Tiền hóa chủ nhân, sẽ khuynh nghiên.
Tâm sự đôi lời xin đừng giận,
Tại sao chỉ trích chuyện đồng tiền?
Trọng đông Giáp tý - 1984
(*) Hai câu 6 và 7 phỏng
theo câu đối ngạn ngữ là:
Bần cư trung thị vô nhân
vấn,
Phú tại thâm sơn hữu
khách tầm.
(1) Khi tức khi
dễ. (2) Vì tức nể vì. (3) Cu li tức bị làm tôi tớ, bị lệ
thuộc. (4) An bần tức an bần lạc đạo nghĩa là vui vẻ với đời sống nghèo
khó, nhưng thanh tao, nhàn hạ; không bị đồng tiền xui khiến mất lý trí,
mất cả tình nghĩa. (5) Ðồng tiền là người đầy tớ tốt, nhưng lại là một chủ
nhân ông rất xấu.
|
|
Dứt Khổ ^
Khổ càng tu học, khổ mới tiêu,
Nếu khổ không tu, khổ càng nhiều,
Nghiệp chướng vương mang thêm sầu lụy,
Oan khiên trừ diệt hết đăm chiêu.
Ðiều lành phát khởi thêm thoải mái,
Thói xấu rời xa bớt tiêu điều.
Tu tập, ai ơi nên cố gắng!
Thân nầy nhàn hạ chốn tịch liêu.
Trọng hạ Giáp tý - 1984
Gởi Quý Pháp Lữ (1)
^
Tôi ở Hoa kỳ,
một phương xa,
Gởi chư Pháp lữ
(*) ở quê nhà,
Cố công diễn
xướng phần Phật pháp,
Gắng sức lưu
truyền chuyện Ðạo ca,
Ðuốc tuệ rạng
soi khắp thiên hạ,
Ðèn từ chiếu
sáng đến bá gia,
Ðôi lời tâm
huyết xin gởi đến,
Ðệ huynh Pháp
lữ họ Thích già (2).
Trọng thu Quý dậu – 1993
(1) Pháp lữ:
Những bạn bè cùng tu học.
(2) Thích
già: tức đức Phật Thích ca.
Nam Mô A Di Ðà
Phật
|
Giải Nghiệp
^
Đời có khổ nên tu trừ khổ,
Ðừng phàn nàn nầy nọ ai ơi!
Ðã tiến tu phước báo đến thôi,
Ðừng suy tính và ngồi mong đợi.
Tu làm sao cho đời khỏi tội,
Tu làm sao tăng phước, họa tiêu,
Tu làm sao tâm tịnh, tội tiêu,
Ðược như thế là điều may mắn.
Muốn giải khổ, tự thân cố gắng,
Muốn giải khổ, đừng đắm dục trần,
Muốn giải khổ, khỏi họa vào thân,
Phải nhất quyết để tâm khỏi động,
Lúc tiến tu tâm đừng trông ngóng,
Ðược cái nầy, cái nọ: huyễn thôi,
Muốn an tâm, ích lợi cho đời,
Lời Phật dạy, tu thời chu đáo,
Ðể không còn luân hồi lục đạo,
Nếu không tu khổ báo theo hoài,
Muốn dứt nghiệp, ra khỏi trần ai,
Di Ðà Phật, sáu thời trì niệm,
Ðã tiến tu, tâm cần phục thiện,
Ðể an vui, tinh tiến đường tu,
Hết khổ thời thấy ánh chơn như,
Không còn lún sâu trong kiếp tới,
| |