|

NHỮNG BƯỚC CHÂN
ĐI QUA
THÚY – LINH
****
Kính dâng lên
Mẹ,
Mến tặng các
em
với vô vàn
thương nhớ,
TL.
MỘT CẢM NGHĨ
Năm năm sống dưới chế độ Cộng
Sãn Việt Nam. Năm năm trời đã được nếm mùi do Cộng Sãn rót
thẳng vào con người tôi.
Kháng chiến Một trước 1954,
tôi còn nhỏ. Những điều mắt thấy, tai nghe, nhận thức về chủ
thuyết Cộng Sãn theo trình độ ấu niên, cũng không hơn gì như
con em của chúng ta hiện tại. Tuổi trẻ, chỉ có bầu máu nóng,
nhiệt tâm phục vụ theo sự hướng dẫn của người lớn ; tâm
hồn như một tờ giấy trắng, chỉ chờ người thợ nhuộm màu đem
đến mà thôi. Nếu người thợ nhuộm biết chọn màu hợp thời
trang, hợp với nhãn quan của mọi người, thì kết quả đem lại
rất khả quan. Giá như người thợ nhuộm vụng về trong lúc chọn
màu, thì kết quả vô cùng đen tối. Hiện tại Cộng Sãn Việt Nam
làm nghề thợ nhuộm vụng về đó. Vì vậy mà dân tộc Việt Nam,
quê hương Việt Nam của chúng ta đã đi vào con đường lầm than
đau khổ. Người dân sống cảnh đói cơm rách áo, học đường
thiếu cán bộ có kiến thức cao để dạy dỗ con em, bệnh xá
thiếu thuốc men, y cụ và nhân viên giỏi…Xứ sở sống lại thời
cổ xưa.
Người xưa có câu :
“Có đắp chăn mới biết chăn có
rận”.
Đúng vậy, mặc dù chúng ta tìm
hiểu để có một số kiến thức về Cộng Sãn qua sách vở, báo chí
chưa đủ, mà phải sống thực trong chế độ Cộng Sãn thì mới
thấy được. Và lúc đó chúng ta chống Cộng mới hữu hiệu.
Tôi bỏ đất mẹ Việt Nam, mang
thân lưu đày biệt xứ; để lại sau lưng một bà Mẹ già và đàn
em dại.
Những ai đã từng sống dưới
chế độ Cộng Sãn bất cứ thời gian nào, đăc biệt là sau 1975,
bỏ nước ra đi còn mang đầu óc thiên Cộng hay có những hành
động làm lợi cho Cộng Sãn dưới mọi hình thức là đắc tội với
dân tộc, đắc tội với lịch sử. Kẻ ấy phải đền tội với đất
nước.
Những Bước Chân Đi Qua
là ghi lại những gì tôi đã sống đã làm, đã chịu và đã chứng
kiến…
Tuy nó không làm hài lòng quý
độc giả, nhưng đây là những gì mất mác, đau lòng của kẻ xa
quê.
GIÂY PHÚT DẶN
DÒ
Ba đêm liền
không ngủ. Đêm nào cũng thức suốt sáng để lo cho mọi công
chuyện được êm đẹp.
Trưa nay, vừa thiu thiu ngủ,
chú tiểu Dũng chạy vào phòng đánh thức tôi dậy . Chú bảo :
- Bạch Thầy, có mấy anh chị
dưới nhà lên thăm thầy.Tôi, mắt nhắm mắt mở, chưa bước ra
khỏi phòng thì bốn đứa em của tôi đã đứng bên tủ sách đươc
kê giường tôi. Tôi bảo:
- Mấy em ngồi xuống đó đi,
Thầy đi chút việc gặp lại sau.
Thường thì các em của tôi gọi
tôi bằng thầy và xưng hô với tôi bằng con như quý Phật Tử
thường xưng hô với quý thầy vậy. Ngược lại, tôi xưng thầy
với các em mà gọi chúng nó bằng em như thường. Trong gia
đình từ bên nội, bên ngoại có thấm nhuần Phật Pháp nên xưng
hô với tôi cũng giống như xưng hô với quý thầy. Ngày còn
sinh tiền, cha tôi cũng gọi tôi là chú thầy.
Tôi vừa rửa mặt xong xuôi.
Chú tiểu Dũng, thị giả của tôi đã chế sẵn cho tôi một bình
trà và thêm bốn chén nước cho khách.
Chùa tôi ở là một ngôi chùa
có quy cũ, có nền nếp hẳn hoi kể từ Ngài khai sơn cho đến
bây giờ. Ngày tôi vào tu học ở chùa nầy thì những khuôn phép
ấy nó từ từ thâm nhập đến với tôi.Cái khuôn phép ấy được duy
trì và truyền thừa cho hàng đệ tử kế tiếp nhau, tính đến nay
cũng đã trên chin mươi năm hơn. Khi tôi đến tu học cũng đã
có sẵn và ngày tôi sắp từ giả nó vẫn còn nguyên vẹn. Một chú
tiểu vào hành điệu ở chùa nầy sau ba tháng là đã biết tiếp
khách, phép hầu thầy; nói chung là phép xã giao với khách
thập phương một khi đến viếng chùa lạy Phật. Những khách
thập phương dù chỉ đến Trúc Lâm một lần thôi cũng đủ để kính
nễ những vị tu học ở chùa mặc dù đó chỉ là một chú tiểu.
Tôi có may mắn là được tôi
luyện ở ngôi Tổ Đình nầy. Những gì tinh túy của Tổ Đình nầy
tôi vẫn mãi nhớ và vẫn canh cánh bên lòng.Vì đó là những đạo
hạnh đẹp đẽ của một vị tu hành chơn chánh. Uống xong hai
chén nước tôi cười và hỏi :
- Sao Mạ khỏe không ? Các
em lên bằng xe đạp hay xe buýt ?
- Bằng xe đạp, hai đứa một
chiếc. Lễ trả lời tôi như thế.
Trong khi đó Nghi, em Lễ chưa
nói gì hết mà mắt lại đỏ hoe, mặt thì buồn buồn. Tôi thấy
không mấy thuận tiện ở phòng tôi trong việc nói chuyện cho
chúng được. Tôi đành lảng sang chuyện khác.
- Mấy bữa ni Mạ ra răng ?
- Mạ mệt hay nhức đầu một
bên.
-
Mạ có uống thuốc chi không ?
-
Dạ có, Nghi đáp.
- Uống thuốc chi ?
- Thuốc của thầy và Sư Cô
Bảo Nghiêm gởi về cũng có.
Tôi có một bà cô em út của
cha tôi cũng xuất gia gần cạnh chùa Trúc Lâm độ 500 mét. Cô
xuất gia đúng vào năm chia đôi lãnh thổ 1954.
- Thôi mấy anh em mình
ra ngoài tháp Tổ để nói chuyện cho vui và mát mẽ hơn. Trong
nầy để Ôn và chúng lý nghỉ trưa.
Năm chúng tôi dắt nhau ra đến
tháp Tổ. Tôi có cả thảy bảy anh em. Tôi con trai trưởng. Kế
tôi là cô em gái nay đã có chồng. Đứa em trai út là Do, là
thứ năm trong bảy anh em. Nó bị nhà nước đưa đi làm một việc
gọi là nghĩa vụ quân sự. Vì nhà nước cho là sạch sẽ không
giống như hai anh của nó là Ngụy quân. Nó được nhà nước
chiếu cố giao cho một cây súng và ít dụng cụ thô sơ gì đó để
qua bảo vệ hay chiếm nước Cam Bốt ? Nó đi trước tôi một
tháng, giá như chậm một tí, bây giờ nó cũng đã theo tôi đi
ra nước ngoài.
Vừa đến tháp Tổ, Lễ chận họng
tôi một câu :
- Thôi, thầy đi mô cho mệt,
- Chắc gì thầy đã đi được ?
Nguy hiểm lắm.
Trong lúc ấy, hai cô em út
của tôi, Diệu Thu ngồi xuống đất lấy cây nguệch ngoạc những
đường vẽ không suy nghĩ. Diệu Thủy kế út đứng bên tôi thút
thít khóc không ra tiếng. Bốn đứa đều nước mắt lưng tròng.
Riêng tôi thì se thắt cả cõi lòng, cố lấy lại bình tĩnh, tôi
ôn tồn bảo :
- Để thầy đi, thầy ở nhà
không làm gì được. Thầy cũng không giúp đỡ gì được cho Mạ
cho các em và cho chùa.
Tôi tiếp :
- Các em đừng lo, giả sử có
bị bắt thì các em chỉ nghe tin thế thôi, chưa chắc các em đã
nhìn được thầy. Các em cứ xem thầy đã mất tích. Khi các em
nghe tin thầy mất tích, thì cứ lấy ngày đó làm ngày kỵ cho
thầy là đủ.
Mấy em tôi nhìn tôi bằng cặp
mắt trân tráo mà không dám nói thêm một câu nào nữa. Chúng
cũng thừa biết tính tôi kể từ khi chúng nó biết khôn. Tôi
vốn có một cái tính không mấy tốt đẹp, nhưng tôi cố sửa hoài
mà vẫn chưa được, đó là tính quyết đoán. Tôi đã nói thì tôi
làm. Tôi hứa giúp ai thì giúp tận nơi, dù tôi có bị lỗ lả
chăng nữa.
Đến đây tôi bảo nhỏ các em
tôi :
- Thầy đã quyết định các em
không nên nói nhiều. Các em chỉ biết đến thế là đủ.
Tôi mỉm cười gượng mà trống
ngực đánh thình thịch. Thở phào một hơi nhẹ rồi dặn tiếp.
Các em lên thăm thầy lần nầy
chỉ biết thế. Tuyệt nhiên không được cho Mạ biết.
Tôi sợ Mẹ tôi hay được là
nguy mất. Bà mẹ nào cũng thương con cho dù đứa con ấy khôn
lớn cách mấy.
Khung cảnh của chùa về ban
trưa thật là yên tĩnh. Những ngọn gió thổi qua mặt chúng tôi
thật mát mẽ. Những cây thông già trước cổng chùa hú lên
những tiếng vi vu mỗi khi có làn gió mạnh. Mấy dãy tùng
trồng hai bên tháp Tổ tỏa mùi thơm nồng đượm. Năm anh em
chúng tôi kẻ đứng người ngồi nhìn vào nhau mà không nói lên
được một lời to nhỏ. Trên mấy cành nhãn cạnh chúng tôi,
những con chim hoàng anh cất giọng hót líu lo một cách vô
tư. Giọng hót vô tư của những con chom nhỏ ấy không làm sao
hàn gắn được sự chia ly của anh em chúng tôi trong những
ngày sắp tới. Chim ơi ! Giọng hát của mầy bây giờ nghe ra
như ai oán sầu bi, giọng hát của ngăn cách chia ly… Tại sao
lúc nầy lại có sự xuất hiện của mầy nhỉ ! Hay là mầy đến
đây để chứng kiến sự chia ly của chúng tao. Mầy vô tình hay
cố ý hởi chim ? Hay là mầy cũng có đồng cảnh ngộ như chính
chúng tao vậy ?
Bầu không khí đang đè nặng
chúng tôi. Chim vẫn hót trên cành, hoa vẫn thi nhau khoe sắc
trước gió xuân. Những đóa mai vàng hé nở tuyệt đẹp và tỏa
mùi hương thơm nhè nhẹ. Trước sân chùa, hai dãy vạn thọ cũng
đơm bông đủ màu. Thông vẫn reo, gió xuân vẫn thổi ; thế
nhưng, không làm sao xoa dịu nỗi đau buồn giữa kẻ ỏ người
đi. Cuộc chia ly lần nầy gần như vĩnh viễn.
Đến đây tôi ôn tồn bảo :
- Khi Ba lâm chung, trước
giờ vĩnh biệt, Ba có dặn một điều và bây giờ chúng ta đang
tôn thờ lời di huấn ấy :
- “. . . Dù
hoàn cảnh có đổi dời chăng nữa, các con nên thương yêu nhau,
đùm bọc nhau. Chị ngã em nâng, vui cùng hưởng nhục cùng lo.
Được như thế, Ba sẽ hoan hỷ và ngậm cười nơi chin suối…”
Đó Ba dạy như thế. Nay thầy
nhắc laị và ghi tạc vào lòng. Ba đã tạo ra chúng ta, hy sinh
cho chúng ta đủ điều, nay thì người không còn nữa. Người đã
để lại cho anh em chúng ta những gia bảo vô giá ấy, chúng ta
phải vâng lời làm theo. Chúng ta phải noi gương những gì mà
Người đã làm, đã sống.
Tôi nhắc đến đây tất cả đều
òa lên khóc. Khóc là vì nhớ lại lời giáo huấn tối hậu của vị
cha già trước giờ lâm chung. Khóc là vì chúng tôi sắp xa
nhau và xa nhau mãi mãi.
Rồi đây trên đường đời vạn
nẻo, một người một ngã. Kẻ chân trời người góc biển biết có
khi nào gặp lại ? Và chính tôi, ngày trở về có còn vẹn như
xưa, hay trong số anh em chúng tôi đã có người đi vào lòng
đất lạnh ? Trở về lại căn nhà xưa… Than ôi ! Mẹ tôi cũng
chỉ là một di ảnh trên bàn thờ với ngọn đèn dầu leo lét. Và
ngược lại chắc gì tôi còn sống để trở về đất mẹ hay gởi lại
nơi đất khách quê người với nắm xương tàn vô chủ ? Và chính
tôi lúc đó, sẽ trở thành một nấm mồ hoang …
Nghĩ đến cảnh tượng nầy mà
toàn thân tôi tê buốt, cứng đờ, mặc dù trước mắt tôi đang là
một cảnh tượng sống động. Đang đau buồn giữa tình cốt nhục
sắp bị phân ly. Tôi ngoảnh mặt lại bảo các em tôi rằng :
- Thầy là trưởng trong gia
đình, thầy đi rồi, Lễ sẽ thay thế thầy để phụng dưỡng mẹ già
hôm sớm, trông nom các em như chính thầy đã làm bấy lâu nay.
Có một điều mà các em phải lưu tâm là săn sóc Mẹ nhiều hơn,
vì sau khi thầy đi rồi, không thể nào mà Mẹ không lo buồn.
Mẹ lo sợ rằng thầy sẽ bị bắt. Bản thân thầy cực khổ đã đành,
gia đình cũng bị liên hệ, chùa cũng bị khó dễ, các em cũng
không được yên thân.
Mẹ buồn vì từ nay không còn
nhìn được hình bóng của thầy mỗi lần Mẹ lên chùa lạy Phật,
thăm Ôn, thăm quý thầy…không còn nhìn thấy thầy về thăm Mẹ,
thăm các em như mọi khi. Với những ngần ấy thứ, cũng đủ làm
cho Mẹ hao mòn sức khỏe, tuổi thọ của Mẹ cũng sẽ giảm đi.
Thầy vẫn biết thế, nhưng tình cảnh xã hội thế nầy, thầy đành
gạt lệ ra đi. Thầy ra đi không phải vì mục đích để yên thân,
không phải vì miếng cơm manh áo hay chạy theo một cuộc sống
đầy văn minh vật chất. Thầy ra đi cốt để giữ lại tấm thân
nầy về sau để làm một điều gì đó có ích cho Đạo Pháp và Dân
Tộc. Chính vì lẽ đó mà thầy ra đi.
Miệng thì tôi nói thế, tâm
hồn tôi thì rối bời. Vì tôi sắp phải xa Mẹ mà không dám nói
lên lời từ biệt.
Hồi tưởng lại thời thơ ấu của
tôi. Ngày còn nhỏ, tôi được sống cạnh bên Mẹ hơn là bên Cha.
Cha tôi vì kinh tế gia đình phải đi xa để tảo tần xuôi
ngược. Một hoặc hai ba tháng, Cha tôi mới về thăm gia đình
một lần. Mỗi lần như thế nhiều lắm là hai hoặc ba bốn ngày,
rồi Cha tôi cũng tiếp tục đi để lo kế sanh nhai. Tất cả
những việc từ trong nhà cho đến ra ngoài đồng áng đều do một
tay Mẹ tôi định đoạt. Bà là một người đàn bà đảm đang. Thậm
chí vấn đề lo cho con cái không chỉ về vật chất mà cả tinh
thần nữa. Những năm quê tôi bị cảnh binh đao, đa phần con em
ở trong vùng đều bị thất học ; thế nhưng bà vẫn tìm cách
cho tôi có nơi ăn học đàng hoàng. Khi lớn lên, bà đưa tôi
lên tỉnh để theo đòi nghiên bút. Vì thế, tôi được một số vốn
liếng về học vấn tương đối khả quan so với những thanh thiếu
niên ở chốn thị thành.
Những lúc tôi bệnh hoạn, Mẹ
tôi phải băng đèo lội suối đến nơi tôi trọ học để theo dõi
sự học hành của các con. Tôi được người nuông chiều đủ thứ.
Giờ đây, tôi không làm tròn bổn phận của một người con. Tôi
cảm thấy tôi bất hiếu. Tập “Bông
Hồng cài áo” của thầy Nhất Hạnh, tôi đọc thấy : . . .
Mẹ là bầu trời thương yêu dịu
ngọt. Gần bên Mẹ được sưởi ấm tất cả. Mẹ là loọng mía ngọt
ngào, là nãi chuối buồng cau, là ánh đuốt soi đêm cho người
lạc lối. Tình Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào. Tình Mẹ
dài vô tận như mạch suối mát trong nguồn. Tình Mẹ là cái gì
của bao dung, của hiền dịu của từ bi…
Gần bên Mẹ là có tất cả. Xa
Mẹ là mất hẳn tất cả. Những ai đang ở trong tình cảnh nầy
mới thấy rõ một đau thấm thía. Những ai ở trong hoàn cảnh
nầy mới âm thầm lặng lẽ khóc một mình mỗi khi nhớ Mẹ.
Hạnh phúc thay cho những ai
đang còn Mẹ, đang được sống bên Mẹ. Mùa Vu Lan được cài đóa
hoa hồn tươi thắm và hãnh diện mình đang còn Mẹ. Được Mẹ che
chở. Và chính đó làm tôi đâm ra suy nghĩ :
Tay nâng một
đóa hoa hồng
Cài lên ngực
áo mà lòng không vui.
Tại sao vậy ? Tôi cũng cài
hoa hồng như mọi người. Vì tôi đang còn Mẹ. Tuy nhiên vui
sướng lànm sao được ? Tôi đã xa Mẹ. Xa bà mẹ đã mang nặng
đẻ đau để được cái thân tôi nơi cõi đời nầy. Bà đã lo cho
tôi đủ điều, dạy dỗ cho tôi nên vóc nên người. Suốt cuộc đời
của bà chỉ biết hy sinh cho đàn con. Cái gì ngon ngọt nhất,
cái gì ấm áp nhất, bà cũng để dành cho các con. Giờ thì tôi
mất hẳn. Bên cạnh đó, tôi lại xa luôn một bà Mẹ chung lớn
lao : Bà Mẹ Việt Nam. Một mai khi tôi lìa đời, đi vào lòng
đất lạnh cũng không được cái may mắn ở trong lòng đất Mẹ
Việt Nam. Đau đớn quá, trời ơi đau đớn lắm !
Đã ra đi rồi, nhìn về quê Mẹ
chỉ biết :
- “Chiều
chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê
Mẹ, ruột đau chín chìu.”.
Trông về quê Mẹ bằng nữa trái
đất. Trông về quê Mẹ bằng sự tưởng tượng trong trí óc. Ở một
xứ tây phương nào đó mà tôi sắp đến, không biết rồi có ngõ
sau để tôi được chiều chiều ra đứng trông về quê Mẹ ; hay
ra đứng ôm lấy sầu đau, buồn tủi một mình ?
Tủi là Mẹ đã già mà không kề
cận để hầu hạ, săn sóc, để làm được gì cho Mẹ khi người cần
đến. Ra đi rồi, khi Mẹ đau yếu, gối nghiên ai sửa, chén trà
ai bưng ?
Tủi là làm con không lo báo
đáp được gì trong muôn một công sanh thành dưõng dục lớn lao
kia mà đành lòng lặng lẻ ra đi. Gương hiếu hạnh của Lão Lai,
của thầy Tử Lộ, của hai mươi bốn gương hiếu hạnh của Lý Văn
Phức soạn ra đó, vẫn còn đó ; thế mà tôi không bắt chướt để
làm theo.
Hận là bà Mẹ vĩ đại Việt Nam
đang bị lũ Cộng Nô dày xéo. Trên năm mươi triệu đứa con của
Mẹ sống trong cơ cực, sống tủi nhục, đày đọa đầy hờn căm…Có
đứa chết lây chết lất trong các trại tập trung. Có đứa chết
bờ chết bụi, chết ở sông biển, chết trong rừng sâu ; đủ thứ
chết … khi có những đứa con của Mẹ từ giả Mẹ Việt Nam để đi
tìm tự do cho cuộc sống. Tôi ngậm ngùi thương xót cho số
phận của bà Mẹ Việt Nam.
Trời ngã về chiều. Hai chiếc
kim đồng hồ đã xếp chồng nhau ở con số sáu. Tôi bảo các em
tôi hãy về đi để còn lo cho cái tết sắp đến. Các em đồng bảo
:
- Thưa thầy…Tôi nghe tiếng
chào của chúng bị tắt lịm sau hai chữ thưa thầy. Tôi cũng
nghẹn ngào . Chúng tôi nhìn nhau mà không ai chịu rời bước.
Chần chờ như thế gần hơn nửa giờ đồng hồ. Cuối cùng tôi thúc
hối chúng ra về :
- Các em hãy về đi, chúc các
em khỏe, bình an mãi. Các em hãy nhớ làm những gì mà Ba đã
dạy, đừng làm cho Mẹ buồn.
- Thầy đi bình an. Thầy đến
nơi nhớ thư về để Mẹ và chúng con khỏi trông mong.
Chúng tôi thật sự từ giả
nhau. Đó là lần cuối tôi gặp tụi nó để ra đi. Hoàng hôn
tiễn biệt anh em chúng tôi từ dạo ấy.
CHIỀU BA MƯƠI
TẾT
Bốn giờ chiều,
chiều ba mươi tết. Mấy anh em trong nhóm của Quỳnh sẽ đến
chùa, hai đứa Phương và Minh cũng nhập cuộc. Lâu và thật
lâu, Quỳnh mới có dịp để thăm lại ngôi chùa xưa, một ngôi
chùa đơn sơ, mộc mạc, kiến trúc theo lối cổ điển. Ngôi chùa
nầy mang một tính chất lịch sử. Vì đây là nơi có tổ chức cho
lớp
Đại Học Phật Giáo
đầu tiên trong những thập niên chấn
hưng Phật Giáo tại miền Trung. Vị khai sơn ra ngôi cổ
tự nầy là một đại danh tăng. Ngài vừa là sáng lập, vừa là
chứng minh Đại Đạo Sư cho hội An Nam Phật Học. Bao nhiêu vị
chơn tu thực học, giới đức tinh nghiêm mà sau nầy là những
nhà lãnh đạo tài ba tối cao của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam,
sơ khởi cũng phát xuất từ nơi ngôi cổ tự nầy. Vì chiến trang
ngày một khốc liệt, nên lớp đại học Phật Giáo từ từ chuyển
qua Tổ Đình Tây Thiên, rồi đưa lên tu viện Kim Sơn thuộc
làng Liễu Bảo, quận Hương Trà. Ngôi cổ tự mang tên là
Trúc Lâm Đại Thánh
tự, được sắc phong của triều Nguyễn. Ngài khai sơn với đạo
hiệu là Giác Tiên đại sư.
Đặc biệt trước cổng chùa có
đào một cái hồ để thả sen theo hình bản đồ Việt Nam. Hai bên
hồ trồng toàn tre và dương liễu. Những du khách đến viếng
cảnh nầy, mới dừng chân trước cổng chùa cũng thấy được cảnh
Đạo Pháp gắn liền với Dân Tộc.
Quỳnh trong chiếc kính đen
thui, tay đang cầm một điếu thuốc đang cháy dang dở, với
giọng nói ồ ề như gà trống từ bên ngoài bước vào phòng tôi
rất tự nhiên. Sau Quỳnh lại có Ân và Thắng. Bộ đi của Quỳnh
cũng chưa xóa hẳn dáng điệu oai hùng của một chàng trai lính
Việt Nam Cộng Hòa, mặc dù đã bị Cộng Sãn nhồi sọ một thời
gian tại trại tập trung. Nhờ những giọng nói ồ ề của nó cũng
đánh tan được một phần nào của bầu không khí đang căng thẳng
trong chúng tôi qua ba ngày liền chưa rời được bến. Đã ba
ngày liên tiếp chúng tôi đều đứng ngồi không yên.
Tội nghiệp cho Trí, suốt ngày
với con ngựa sắt lạch cạch xuôi ngược để kiếm thêm một vài
người nữa. Số người đang kiếm thêm nầy để phụ với chúng tôi
trong phần dầu nhớt cho chuyến tàu sắp đi xa. Lộ trình từ
cửa Thuận An đến Hương Cảng (Hong Kong). Theo như bản đồ và
anh tài công cho chúng tôi hay là phải mất hai ngày hai đêm.
Số dầu hiện tại tuy không đến nổi phải lo lắng, tuy nhiên,
muốn cho chắc ăn, Trí phải tính thêm những trở ngại nếu gặp
trường hợp trời xấu.
Trí một mẫu người can đảm,
tính toán nhậm lẹ, biết chịu đựng, biết hy sinh cho tổ chức.
Trí không phải là tu sĩ, nhưng những năm sống gần thiền môn
nên cốt cách điềm đạm, ăn nói khoan dung, một mẫu người vui
tính và hòa ái. Phép xả giao của Trí có vẽ người lớn hẳn ra.
Anh ta đang theo học chương trình Y Khoa của Đại Học Y Khoa
Huế. Là một con người chí hiếu. Cha Mất sớm thờ Mẹ đúng mức
của một người con hiếu hạnh. Vì thời cuộc đẩy đưa, anh là
người con độc nhất vẫn đành lòng gạt lệ ra đi.
Chiều nay chúng tôi đang vui
quanh bên những mẫu thuốc lá, bên những chén trà thơm đượm
mùi tường vi, bên bình thuốc lào ; Trí lại phải ngược xuôi
để lo cho anh em. Trí đầy lòng vị tha ai ai cũng nể phục.
Sau tháng tư đen, hoàn cảnh
cha xa con, vợ chồng xa nhau, anh em kẻ ở người đi, chúng
tôi cũng đang ở trong tình trạng nầy. Một tình trạng bi đát.
Ra đi không hứa hẹn ngày về. Biết như vậy vẫn ngậm ngùi nuốt
lệ, chấp nhận ra đi. Đi về đâu ? Nào ai biết !
Tại sao chúng ta phải ra đi
? Đi để làm gì ? Bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu điều thắc
mắc cứ được nhắc lui nhắc tới mãi trong chúng tôi. Mấy anh
em nhìn nhau như muốn tìm hiểu một cái gì. Không ai nói lên
điều nào cả. Khói thuốc vẫn bay. Bay mãi. Bay về đâu như
chúng tôi sắp ra đi.
Không khí đang ngột ngạt. Mọi
người trầm tư mặc tưởng. Tôi nhìn lên khung ảnh của chính
tôi được treo lên tường một lần cuối trước khi xa nó mãi
mãi. Quỳnh vẫn cúi đầu im lặng. Ân với mẫu thuốc đang cháy
dở trên tay thủng thỉnh bước ra. Nó thốt lên :
- Chà ông thầy có mấy cây
hoa lan đẹp quá nhỉ ?
Chúng tôi cũng đều đứng dậy
và bước ra sân một thể.
Ra đến sân, Quỳnh nói huyên
thuyên về tuổi học trò của nó cho Phương và Thắng nghe. Tôi
cùng với Minh xuống nhà bếp để cắt mấy đòn bánh tét đang còn
nóng hổi thơm mùi lá chuối do nó đem từ nhà tới.
Chưa đến Tết mà bánh tét đã
sẵn sàng, mới ba mươi tết mà chúng tôi cứ tưởng chừng như
xuân đã qua từ bao giờ. Giàn phong lan với những giò Nghinh
Xuân khoe màu xanh ngọc tuyệt đẹp. Chậu Thủy Tiên với hai
chồi hoa màu trắng ngọc thủy tinh. Tất cả chúng đang chuẩn
bị đón giao thừa trong đêm nay. Lúc nầy vấn đề tết đến với
chúng tôi hình như không mấy đậm đà. Không còn liên quan với
những cái tết vừa qua. Bên tai văng vẳng tiếng người bàn tán
về tết. Những chuyện tết và chuyện cuối năm thiên hạ bắt đầu
tung ra.
Hai dĩa bánh tét và sáu đôi
đũa, một dĩa dưa món làm bằng đu đủ thật ngon lành. Sáu
chúng tôi ngồi quanh bàn. Hai người chung một ghế. Và, tôi
cùng với Quỳnh laị có dịp ngồi chung với nhau như ngày xưa
đã từng chung ghế nhà trường qua các năm của ban Tú Tài.
Mùi bánh tét thơm phức, mùi
thơm của một thứ nếp đặc biệt ở một xứ mà người ta gọi là
làng Chuồn. Xứ nầy thuộc quận Phú Vang. Nơi nầy cũng có
nhiều nhân vật quan liêu và tu sĩ nổi tiếng.
Màu xanh của bánh ảnh hưởng
của màu lá chuối. Nhìn bánh hiện tại mà tôi hồi tưởng những
lần ăn bánh tét cách đó mấy năm về trước.
Tết 1974. Một cái tết mà tôi
đang tại chức ở chùa Báo Ân thuộc bộ tư lệnh quân đoàn I.
Toàn dân đang nô nức để chờ đón xuân về, nhà nhà lo mua sắm
đủ thứ. Trái lại, những chiến binh của Việt Nam Cộng Hòa lại
đang đổ dồn về các tiền đồn để lo canh chừng cho dân chúng
được an hưởng thái bình trong ba ngày tết. Nào là những
chiến xa chiến cụ được đưa đến những nơi như là Đại Lộc, Quế
Sơn. Thật tội nghiệp cho những anh lính chiến, năm cùng
tháng tận cũng không được hưởng cảnh đầm ấm bên bếp than
hồng với gia đình. Vì nghĩa vụ các anh phải ra đi. Hy sinh
lợi riêng để lo cho quốc gia dân tộc. Xe chuyển bánh, một
vài anh lính cất cao giọng hát :
“ …Con biết
xuân nầy Mẹ chờ, Em trông. Nhưng nếu con về bạn bè thương
mong. Bao lớp trai hùng chào xuân chiến trường…”
Một anh khác :
“…Mẹ ơi !
Con xuân nầy vắng nhà…”
Giọng hát không hay, nhưng
cảm thấy bùi ngùi xao xuyến làm sao. Những chiếc xe cũng đan
tâm chở đoàn trai lính chiến ra biên giới không một lời giả
biệt. Xe vẫn chạy. Đàn con yêu của tổ quốc cũng mất dạng sau
tiếng im bặt của động cơ. Những cánh thiệp đầu xuân được gởi
đi. Nào là xuân hạnh phúc, xuân thanh bình, xuân đoàn tụ…
Hạnh phúc ! Đoàn tụ ! Thanh
bình ư! Những danh từ nói lên nghe bùi tai. Nói lên nghe đẹp
đẽ. Thực chất có được như vậy không nhỉ ! Tiền tuyến đang
bốc mùi lửa hận do Cộng Quân tham tàn gây hấn. Bao lớp trai
mang chiến bào ra đi. Ra đi mà không hẹn ngày về. Ra đi để
bảo vệ núi sông hay phơi thây ngoài chiến địa ? Bao nhiêu
cái chết tất tưởi. Những cái chết của chiều ba mươi tết
không được một người lo lắng, chỉ nằm một mình lạnh lẽo, hiu
quạnh trên chiếc băng ca, không một thân nhân đón nhận. Có
chăng chỉ nhữnh anh lính gác trực từ từ đưa thi thể vào
phòng đông lạnh cho xong chuyện. Đợi đến xuân qua mới được
báo tin.
Còn đâu nữa những
cảnh trông bánh chưng chờ trời sáng. Hay chỉ có ánh hỏa châu
thay thế rực sáng cả một vùng trời để tải thương ? Anh lính
chiến phải ôm súng gác rừng thâu đêm…
Chiều ba tết năm ấy là thế
đó. Một cảnh đau buồn cho thân phận Việt Nam. Một mãnh đất
không mấy lớn, không bằng một giải áo so với lục địa Trung
Hoa hay tiểu bang Texas, California của Hoa Kỳ ; thế mà
không biết bao nhiêu đứa con trai yêu dấu của Mẹ Việt Nam đã
tiếp tục nằm xuống để lót đường cho hòa bình, cho độc lập.
Ôi ! Hòa bình ! Ôi Độc lập!
Làm sao có thể nói lên những danh từ rỗng tuếch như thế.
Trong khi đó hòa đàm tại Ba Lê thì tắt nghẹn, Cộng Quân lại
vi phạm ngưng chiến lung tung. Hòa hợp, hòa giải cũng trở
thành những màng hài hước trên bàn giấy ?
Hôm nay cũng chiều ba mươi
tết, sáu chúng tôi cùng ngồi chung lại với nhau để nói
chuyện ra đi. Độc lập ! Hòa bình ! Con em của chúng ta
phải ra đi cầm súng để đánh giết những người không thù hận,
mà chỉ vì hai chữ chủ nghĩa. Một số lớn con em phải ra đi
với danh nghĩa tình nguyện, để cho nhà nước trả nợ ở những
vùng quanh năm không thấy được ánh mặt trời, chỉ toàn là
băng giá. Bao nhiêu chuyện ra đi được bàn tán xôn xao trong
chiều ba mươi tết. Hai chữ ra đi đối với dân tộc Việt Nam
bây giờ sao nghe đơn giản, nhưng được chuyển biến dưới nhiều
hình thức khác nhau. Có người ra đi bám lấy mạng sống trong
gang tấc. Có kẻ ra đi trong tập thể dưới sự hướng dẫn của
chế độ, trên tay có trang bị vũ khí.
Mấy chữ hòa bình độc lập như
chiêu bài : “Không có gì quý
hơn độc lập, tự do.”. Một thứ độc lập, tự do được
hiểu theo luận điệu của loài quỷ đỏ vô thần. Tự do không cơm
áo. Tự do không tín ngưỡng. Và tự do đi lại phải có giấy
phép hẳn hoi…
Độc lập ! một thứ độc lập
trong tập thể. Độc lập trong sự cai trị độc đoán một chiều.
Độc lập theo khuôn mẫu như những con tàu ngoan ngoãn đi trên
những con đường sắt đã được đặt sẵn. Tự do, độc lập hiện tại
của xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thế đó.
Chiều ba mươi tết của năm
1978 nầy, chúng tôi cũng bắt đầu từ giả bằng những tiếng
cười vui vẻ. Vui vẻ để còn gặp lại nhau trong cùng một
chuyến đi. Vui vẻ để rồi những ngày sắp tới sẽ cùng nhau
chia xẻ ngọt bùi, những gì sẽ phải đến với chúng tôi. Chúng
tôi vui vẻ thật sự.
Anh em ai nấy ra về hết. Sân
chùa bây giờ chỉ còn lại mình tôi với mấy chậu hoa lan đang
nở rộ trước hiên chùa. Nhìn phong lan đối với tôi bây giờ
không mấy thích thú, nhưng rất quyến luyến. Quyến luyến bởi
rồi đây không còn tự tay săn sóc nó. Quyến luyến thật nhiều
vì không được gặp lại cảnh cũ người xưa. Những bạn bè trong
hội phong lan không còn đến cùng với tôi để thưởng ngoạn
những giò lan đặc biệt. Xa tất cả, xa luôn cả mái chùa thâm
nghiêm và vị Sư Phụ già kính yêu trong suốt hai mươi mấy năm
tôi đã trao thân gởi phận để học đạo giải thoát của đấng Chí
Tôn. Vì, từ nay tôi không còn những diễm phúc hầu cận bên
Người hôm sớm, để được nghe Người giáo huấn những lời vàng
ngọc. Không còn được nhìn thấy những gương mặt hiền hòa của
Người mỗi ngày đi sớm về trưa. Hình bóng của Người là một
trang sử vô giá mà tôi phải học hỏi và tôn thờ. Tôi xa
Người, xem như đời tôi mất hẳn một vị cứu tinh. Con xin
Người hoan hỷ chấp nhận để con ra đi.
Ra đi để lại
quê hương,
Một đường
Giáo Hội, một đường tình thâm.
Ra đi lòng
những dặn lòng,
Chí tâm tu
niệm còn mong ngày về.
Ra đi giữ
trọn tình quê,
Dân Tộc, Đạo Pháp nặng nề hai vai.
Làm trai cho
đáng nên trai,
Ra đi còn
nhớ ngày mai còn về.
Xin người
giữ trọn tình quê.
Và, tôi cũng rời chùa vào
chiều ba mươi tết. Chung quanh tôi vẫn thản nhiên trong bầu
không khí của xuân đang về. Một mình một bóng âm thầm ra đi…
GIẢ TỪ HUẾ ĐÔ
Cũng như mọi
khi, tôi phải thức dậy sớm trước 04giờ30’ sáng để lo tụng
kinh công phu khuya. Một công việc thông thường mà tôi đã
làm cách đây 27 năm về trước. Hiện tại tôi đang làm, và vẫn
tiếp tục làm cho mãi mãi về sau. Những ai có tâm đạo nhiệt
thành, có tu niệm thì những buổi tụng kinh sớm mai như thế
không thể bỏ qua được. Vì mỗi lần không đi tụng kinh được,
thấy lòng mình như thiếu sót một cái gì. Suốt ngày hôm đó,
con người thấy bần thần không tính được việc gì ra việc gì
cả. Tôi cũng đã gặp trường hợp đó qua những lúc bệnh hay
những ngày lao động quá sức con người.
Sau khi Cộng Sãn
cưỡng chiếm miền Nam, tất cả những Tăng, Ni đều sinh sống
qua ngành cày sâu cuốc bẫm. Một ít sống về nghề thủ công. Sở
dĩ Tăng, Ni sống theo ngành cày cuốc, là vì đa số chùa chiền
ở Huế đều có ruộng đất hương hỏa do các nhà giàu có tâm đạo
cúng để hộ tự.
Sẵn ruộng chỉ đem
sức ra làm là tiện lợi nhất. Vấn đề làm ruộng trong chế độ
Cộng Sãn lại hợp thời trang theo nhãn hiệu : Lao động là
vinh quang ! Vinh quang cái gì nổi. Cày thì có, cơm thì
không. Cuối cùng cũng chán phèo. Những lúc mệt mỏi như thế,
tôi không thể tài nào đi tụng kinh được.
Tuy nhiên cũng thức dậy trước
năm giờ. Đó là thói quen kể từ khi tôi hành điệu đến bây
giờ. Sau buổi tụng kinh xong, lại có tiết mục uống trà. Trời
Huế, nắng cũng như mưa, những ngôi cổ tự ở vùng núi thường
có những ngọn gió lành mạnh. Ngọn gió ấy thổi đến đâu thì
cái lạnh nó chạy theo đến đó. Ngoài trời càng lạnh thì tách
nước trà nóng lại càng giá trị ; mặc dù trà lá lúc nầy
không ngon như của Việt Nam Cộng Hòa thuở trước. Nhưng pha
trà xong, bao nhiêu tách trà được hâm nóng. Một chiếc hoa
Tường Vi vừa hé nở được thả vào bình trà mới chế sau khi đã
trán một lần nước sôi cho trà dịu xuống. Một mùi hương nồng
đượm hấp dẫn mời gọi những vị uống trà lão luyện cùng những
vị mới biết uống trà cũng lấy làm thích thú. Tôi không biết
nghệ thuật trà đạo của người Nhật Bổn ra sao. Nhưng thú uống
trà “độc ẩm” tại cố
Huế thì tuyệt hảo. Những ngôi chùa chung quanh kinh thành
Huế, chùa nào cũng có trồng hoa Tường Vi để dùng vào thú
uống trà.
Sau hai tách trà
ấm bụng. Trên tay còn mang theo một tách nữa to gấp đôi hai
tách đầu, vừa đi vừa đưa lên miệng để ngụm những hớp nhỏ.
Tay nâng tách trà, mắt đảo quanh giàn phong lan. Bao nhiêu
giò lan cao thấp không đều được treo lủng lẳng giữa hai cái
sân hình chữ khẩu của chùa. Cái sân nầy chung quanh bao bọc
là nhà. Bất cứ từ nhà nào nhìn ra cũng đều được nhìn phong
lan cả. Tôi có cả thảy là khoảng tám mươi loại. Đa phần là
lan ở miền Trung từ Đà Lạt đến Ba Lòng. Sở dĩ tôi biết đích
xác như thế là do đọc và học theo cuốn sách nói về nghệ
thuật chơi phong lan của giáo sư Phạm Hoàng Hộ. Ông ta cũng
mô tả những lúc cùng đại văn hào Nhất Linh thưởng thức phong
lan tại rừng Đà Lạt. Tôi cũng bắt đầu mê phong lan sau ngày
giả từ Đà Nẵng. Ngoài những giò lan quốc nội, tôi có thêm
khoảng mười hai giò lan ngoại quốc. Tôi có mua lại một giò
lan của bộ đội lấy từ dinh của đại tướng Trần Thiện Khiêm.
Sau Tháng tư đen, tôi buồn chán tất cả. Giả từ Đà Nẵng trở
lại Huế Đô là nơi tôi được sinh ra, lớn lên và học thành
người ; nhưng hôm nay tôi cảm thấy xa lạ và buồn nản biết
bao. Cũng giòng Hương Giang lững lờ đó, cũng mái chùa thâm
nghiêm lịch sử Từ Đàm đó, cũng núi Ngự Bình với những cây
thông trụi lá đứng trên chóp cao nhìn xuống và trơ gan cùng
tuế nguyệt đó, cũng còn chiếc cầu Trường Tiền sáu vài mười
hai nhịp…Bao nhiêu cô gái nữ sinh Đồng Khánh mà bây giờ là
trường Trưng Trắc, không còn có được một chiếc nón bài thơ
che nghiên nửa vành làm duyên nữa sau hai buổi đến trường.
Giòng Hương Giang vẫn lững lờ trôi, nhưng không còn in bóng
của cô gái Huế thiết tha trên cầu bằng những tà áo trắng
đượm tình quê hương. Thay vào đó là những chiếc áo bà ba
không đồng màu.Con đò đưa khách trước bến Thương Bạc qua lao
Thừa Phủ bây giờ mất dạng sau tháng tư buồn. Bao nhiêu cảnh
tượng của cố đô Huế giờ chừ như thay đổi hẳn. Tôi là dân
Huế, thế nhưng tôi không còn được cái cảm giác rằng : Huế
đẹp, Huế mơ, Huế nên thơ…cho dù còn trăng soi giòng Hương,
đâu có hồn nhiên như một nhà thơ đã từng ca tụng:
“ …Vườn ai mướt
quá xanh như ngọc ?...”
Để có :
“…Lá trúc che
ngang mặt chữ điền…”
Tất cả đã đi vào hoang vắng.
Huế, bây giờ buồn lắm ai ơi ! Còn đâu nữa giọng hò Nam Ai,
Nam Bằng cất lên trong những con thuyền xuôi ngược giòng
Hương Giang. Không còn hồi chuông Thiên Mụ ngân dài trong
chiều sương. Càng đi quanh Huế bao nhiêu, tôi càng cảm thấy
xót xa và đau nhói tận tim gan bấy nhiêu. Càng buồn tôi lại
càng đam mê chơi thú phong lan nhiều hơn. Và cũng nhờ đó,
tôi có thẻ đánh lừa được những ai cố tình xoi mói về tôi
trong những năm tôi đang tại chức trú trì chùa Báo Ân thuộc
bộ tư lệnh quân đoàn I, quân khu một
I. Tôi thích với phong
lan đến độ những tên Cộng Sãn địa phương phải đặt cho tôi
một biệt hiệu là “Ông thầy
phong lan”. Những ngày sống trên đất Huế, tôi
càng thấy thương cho số phận của dân Huế. Huế bây giờ thay
đổi hẳn. Nó thay đổi theo cuộc chiến trên hai mươi năm.
Chén trà nóng trên tay chưa
vơi đi mấy. Một tiếng chó sủa vang. Tôi ngẩng đầu lên nhìn.
Phương với chiếc xe đạp đang từ từ vào sân chùa. Vừa thoáng
thấy nó, một tiếng thưa thầy của Phương tiếp theo. Tôi tiếp
:
- Có giò lan nào không mà
con vào sớm thế ?
Phương đáp :
- Thưa, có chứ. Nhưng chắc
là đẹp hơn những giò mà thầy đang có.
- Ở đâu ?
- Ở nhà con ?
- Loại gì ?
- Dạ, Kiều Đàm Thanh màu
trắng ngọc. Nhụy mở gà.
Thế rồi, tôi dẫn nó vào phòng
cùng uống trà. Hai thầy trò vài lần kéo thuốc lào rồi ra đi.
Hai chúng tôi dẫn nhau lên
chào Sư Phụ tôi. Vừa bước vào bàn trà của Sư Phụ, Ngài hỏi
nhỏ :
- Chi rứa ? Trong lúc ấy thì
Phương đứng mấp mé ở gần cánh cửa.
- Bạch Ôn cho con đi tí
việc.
Sư Phụ tôi cũng tiếp theo đó,
đứng dậy để ra vườn như mọi khi. Ngài thường đi quanh vườn
sau những tuần trà đã ấm bụng. Ngài vừa ra cửa, gặp Phương
liền hỏi :
Đi mô mà sớm rứa ?
Phương thưa:
Dạ bạch Ôn, con vào xem phong
lan.
Ngài mở một nụ cười
hiền hòa và giải thoát làm sao.
Ngài là một trong những vị
Hòa thượng danh tiếng không những tại cố đô Huế mà còn là cả
miền Nam cũng như toàn Việt Nam trước năm 1954 nữa. Ngài
thản nhiên thả bộ ra cửa sau mặc cho chúng tôi tự do.
Hai thầy trò chúng tôi đi
quanh giàn phong lan, nhìn những giò lan đâm chồi nẩy lộc
thật đẹp. Phải nhìn nhận cốt cách và tên tuổi của phong lan
đẹp hơn địa lan (thổ lan)
nhiều lắm. Qua câu chuyện nhỏ to chỉ hai thầy trò biết nhau.
Phương cho tôi hay là đã gặp được mọi chuyện xong xuôi cho
công việc vượt biên.
Phương nói :
Thầy biết Trí không ?
- Trí nào ?
Nó là em rễ của Quỳnh.
Sau một hồi ngẫm nghĩ, tôi
mới nhận ra Quỳnh là bạn học của tôi cách đây hơn mười năm
về trước. Sau khi tốt nghiệp tú tài, Quỳnh theo đòi đời binh
nghiệp. Tôi vào Đà Nẵng làm nghề gõ đầu trẻ.
Gần hai tiếng đồng hồ liền,
tôi và Phương nói những chuyện không đâu để tránh sự chú ý
của mọi người xung quanh.
Trong những ngày sinh sống
dưới chế độ Cộng Sãn, con người thường hay nghi kỵ lẫn nhau,
nhìn ai mình cũng đâm ra nghi ngờ, không mấy tin tưởng.Giờ
cơm ban mai thường lệ vừa điểm ba tiếng bảng. Phương từ giả.
Tôi tiếp tục uống trà vì không ăn buổi sáng cũng đã lâu lắm
rồi. Bây giờ cũng thế.
Đúng mười một giờ, tôi lạch
cạch chiếc xe đạp xuống thẳng nhà Quỳnh. Khi nầy bây giờ
không giống như xưa nữa. Trường Bồ Đề được đổi thành trường
Nguyễn Huệ. Tên một vị Hoàng Đế nông dân chất phác nhưng oai
hùng, đã từng làm cho trên tám mươi vạn quân nhà Thanh phải
thất điên bát đảo. Tôn Sĩ Nghị một kiện tướng của nhà Thanh
với một số tùy tùng vùng chạy mà quên cả ấn kiếm. Những tỉnh
Quảng Đông, Quảng Châu gần biên giới Việt Nam khi nghe đến
oai danh của vị vua nầy cũng phải khiếp sợ. Thế nhưng trường
Nguyễn Huệ bây giờ không còn diễm phúc oai hùng đó. Tường
phủ rêu xanh. Bao nhiêu vết đạn của cuộc chiến nồi da xáo
thịt còn để lại loang lỗ khắp cả sân trường. Một đống gạch
vụn trong sân trường còn vẹn như xưa. Nhà Quỳnh ở cạnh đó mà
tôi không tài nào nhớ ra được. Một phần sợ công an gát cổng
trại giam bên kia đường đối diện với trường trông thấy. Một
phần vì sau khi rời ghế nhà trường hơn mười năm, cảnh vật
thay đổi khó nhận diện. Muốn vào nhưng không thể đường đột
để vào được. Bắt buột phải trở về trong lo lắng. Đi một đoạn
tôi vụt suy nghĩ : Nếu như không gặp được Quỳnh làm sao
chuyến vượt biên được chu toàn. Tôi đành quay xe trở lại.
Lần nầy tôi cố đánh bạo để đi vào. Cũng may mắn làm sao,
được gặp cô Thủy em của Quỳnh. Cô ta cất tiếng chào :
- Da, thưa thầy.
- Con là gì của Quỳnh ?
- Dạ em ruột .
Hai thầy trò cùng đi vào nhà.
Quỳnh tiếp tôi trong tình bạn học cũ. Tay bắt mặt mừng. Đây
là lần đầu tiên chúng tôi lại gặp nhau kể từ khi cùng thôi
học. Qua vài hơi thuốc Quỳnh cất giọng nho nhỏ :
- Chú biết không ? Tụi tui
sáu đứa, chưa kể mấy đứa em của tui.
Nó tiếp :
- À quên xin lỗi thầy chứ !
- Thầy hay chú gì cũng được.
Mình đi tu đâu cần gì danh tướng. Đâu phải vào chùa kiếm
chức tước nầy nọ như ở ngoài đời ?
Đi tu là cố diệt trừ tất cả
những gì của phàm phu, chúng sanh đang tiếp nhận. Mình phải
làm theo những gì mà chư Phật Tổ đã răn dạy. Luôn luôn cố
gắng dẹp bỏ những thói hư tật xấu, dẹp bỏ tất cả những tị
hiềm bẩn thỉu, ty tiện, để từ đó bước lên cảnh giải thoát
cho bản thân và có thể dẫn dắt người khác cùng vào con đường
tươi sáng ấy. Có như thế mới xứng đáng là đệ tử của Phật.
Và, xứng đáng được Đức Phật cho mấy chữ :
“Xuất Trần Thượng Sĩ”.
- Thầy nói vậy, chứ tôi theo
ba mẹ tôi lên quy y với ôn Tường Vân đã lâu lắm rồi. Cũng
được quý thầy trong môn phái hướng dẫn giáo lý Phật và hướng
dẫn nếp sống đạo đức thuần cẩn, cũng cố làm cho bằng được.
Tuy thế thỉnh thoảng tôi thấy một số quý thầy lớn có khoa
bảng, có chức vị khá cao trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất làm những điều sai với lời Phật dạy. Thậm chí còn
một số thầy lại mang cái ngã
“tự tôn” to bằng cái đấu. Chưa mở miệng ra là đã
phùng mang trợn mắt. Gặp điều gì hơi không thuận ý mình là
đã nổi sân lên gấp cả trăm lần so với Phật tử. Tui hỏi thầy
:
- Đi tu là diệt ngã. Trong
khi đó, các thầy nếu ai đụng tới là ngã nó trào lên còn hơn
chúng tôi nữa, chính mình chưa tu được cho mình thì làm sao
đem cái đức ra hóa độ chúng sanh ? Mà theo tôi thì : Chúng
sanh thì vô lượng vô biên và nhiều nghiệp chướng khác nhau
nữa. Đã thế, không biết quý thầy ấy vô tình hay cố ý lại
chia phe chia phái, chia ra nhóm thân sơ, ai quy y với mình
thì cho như là thân thuộc. Ai không quy y với mình thì cho
là thành phần chống đối. Thử hỏi quý thầy lớn mà như vậy.
Làm sao quý thầy nhỏ hơn, quý thầy hậu bối và hàng Phật tử
noi theo cho được ?
Quỳnh nói một hơi dài và
không kịp thở, tôi mĩm miệng cười và từ từ đáp lại :
Quỳnh, ông bình tĩnh. Thủng
thẳng nghe tôi nói. Phật tử thì nhiều mà con Phật thì không
có nhiều dù tại gia hay xuất gia. Đức Phật cũng đã từng dạy
:
- “ Ngụy
tác Sa Môn, tâm phi sa môn”
là vậy đó.
Nghĩa là : Hình tướng là một
ông thầy tu hay một Phật tử trông ra hiền lành ; nhưng, mang
một tâm niệm không phải là ông thầy tu hay một Phật tử chơn
chánh. Một vị xuất gia làm đệ tử Phật vào chùa chỉ biết lợi
dưỡng riêng tư dưới nhiều hình thức, đem ba tấc lưỡi sáo ngữ
ra tung hỏa mù với Phật tử, tín đồ. Một số vì nhẹ dạ hay vì
một vài cảm tình riêng tư nào đó rồi cũng bao che nếu họ làm
điều bất chánh ; rồi cũng xưng tụng mặc dù họ làm những
điều càn dở. Suốt đời họ không làm được một việc cho chính
mình, cứ đi cầu cạnh hết người nầy đến người khác. Hết hội
Phật Giáo nầy đến hội Phật Giáo khác. Chỉ trông thừa hưởng
vào người khác. Bên cạnh đó, cũng có hạng Phật tử mạo danh.
Nghĩa là cũng đi chùa, cũng tham gia tổ chức nầy nọ ; trước
mặt thì ton hót, khen ngợi, nhưng luôn luôn tìm cách đâm sau
lưng quý thầy suốt đời nhiệt tâm vì đạo. Điều dễ hiểu nhất
là hạng người cầu danh nầy muốn lái quý thầy theo con đường
của mình. Không được thì sanh ra hận thù. Hạng người nầy gọi
là “Khẩu Phật mà tâm xà”
rất nguy hiểm. Họ chỉ tu hình tướng và đầu môi chót lưỡi,
thực chất và bản chất của họ không chịu tu. Ngay cả vấn đề
tụng kinh bái sám cũng thế. Đến chùa là tìm cách kết cấu bè
phái. Đến giờ tụng kinh thì chuồi tay vào trong túi quần đi
quanh chùa nhìn thầy và Phật tử hành lễ.
Tui cũng biết vậy. Mỗi khi
tui phàn nàn là ba mẹ tui la lên :
Đó là việc của quý thầy. Đó
là việc của người ta mắc gì mà mi nói. Đồ ôn dịch.
Bị ông bà già la cho một trận
, nên im lặng, nay gặp thầy, tâm sự cho vui thế thôi, thầy
cũng hoan hỷ, đừng giận nghe.
Có chi mô. Tôi chả giận ai
bao giờ, ai làm mình nhận thấy đúng thì ủng hộ, tham gia. Ai
làm sai, mình từ từ xa lánh. Mình lo chưa xong, làm sao mà
lo chuyện bao đồng. Có điều tôi mong muốn làm sao mà mọi
người chịu khó vâng theo lời Phật dạy để làm đúng. Không
đúng hoàn toàn, nhưng ít ra cũng không đến nổi lợi dụng Phật
pháp để chế biến ra một con đường khác. Đó là điều tôi lấy
đau lòng .
Tôi vừa giảng giải một vài
thắc mắc cho Quỳnh xong, hai chúng tôi lại bắt đầu bàn thảo
thêm những công tác sắp đến. Quỳnh cho hay : Sau chuyến đào
thoát của Quỳnh ra khỏi trại cải tạo, lại phải đổi tên thành
tên Thái. Bên cạnh nó có thêm Ân, Thắng
(sĩ quan), Đạt
(hạ sĩ quan). Đặt biệt
là Đạt. Mấy anh em cho nó cái tên là Đạt lưụ đạn. Anh nầy
nằm trong ban ám sát của Phục Quốc Quân tại vùng Đà Lạt.
Quỳnh cũng cho tôi hay thêm, tất cả mấy anh em đều có súng
hẳn hoi. Nếu cần, cảm thấy không chống cự được, tự sát.
- Thầy thấy sao ?
Tôi trả lời :
- Tôi sao cũng được. Nhưng,
tránh sự chống trả càng nhiều càng tốt.
- Đó là cực chẳng đã, thế
chẳng đặng đừng.
- Tôi cũng nghĩ như thế.
Hai chúng tôi đồng cười xòa
và tiếp tục câu chuyện, uống trà, hút thuốc. Quỳnh đứng dậy
gõ nhẹ lên trần nhà vài cái. Một miếng các-tông được sơn
cùng màu trần từ từ đưa về một bên. Một anh bạn vừa ốm vừa
đen leo xuống khỏi trần nhà với giọng Bắc :
- Chào thầy.
- Chào anh.
Quỳnh giới thiệu :
- Đây là Ân, cùng đi với
chúng ta trong chuyến nầy. Trong khi đó nó chỉ tay qua tôi
và nói :
- Đây là ông thầy, bạn học
cũ của tôi tại Bồ Đề cách đây mười mấy năm về trước.
Cả ba vừa bắt tay nhau, rồi
những mẫu thuốc Sa-Pa cũng tiếp tục cháy. Một ông bạn thứ
hai mình cao và gầy, tiếp tục từ trần nhà chui xuống, cất
giọng miền Nam :
- Sẵn thuốc, các ông đốt làm
tôi ngột thấy mồ.
- Xạo, muốn xuống thì nói
đại cho rồi, bày đặt ngột với ngạt cái gì. Quỳnh tiếp.
Mục giới thiệu lại được tiếp
tục một lần nữa. Đến đây Quỳnh cho tôi hay là còn một ông
bạn nữa, nhưng phải gởi trú ngụ một chỗ khác. Vì nhà chật,
vả lại ông ấy rất khó tính. Hễ không ưa là phang ẩu. Anh em
sợ bị bại lộ lung tung nên đành cho ở riêng. Sau một hồi đàm
đạo, tôi lại phải trở về chùa để thu xếp cho xong chuyện.
|