NHƠN
QUẢ
Thượng
tọa Thích Tín Nghĩa
---o0o---
Thông
thường ai cũng biết, ai cũn giải thích được: Nhơn là
nguyên nhơn, Quả là kết quả, hoặc nguyên nhơn và quả báo.
Thực ra, tưởng là đơn thuần như vậy, nhưng không phải là
như vậy.
Đứng về tinh thần Phật giáo mà giải thích sự tương
quan tương duyên giữa nhơn và quả thật vô cùng mầu nhiệm.
Nhơn là cái cớ để sinh ra quả, quả là cái vật do nhơn
phát sinh. Sự liên lạc hay tương phản giữa nhơn và quả
nhiều khi trở nên phức tạp và dễ dàng lẫn lộn làm cho
chúng ta có khi khó nhìn rõ ra được, khó phân biệt, khó
nhận thức. Vì trong nhơn đã có quả và trong quả đã có
nhơn. Chính vì quá khó, nên những người tâm trí bình
thường, hoặc dùng trí thức của thế gian mà không học
Phật, sinh ra nông nỗi; hoặc những vị có học Phật nhưng
học không đến nơi đến chốn, không chịu khó nghiên tầm
thấu đáo chơn lý của nó; hoặc chỉ học suông mà không
thực hành thì rất khó mà hiểu cho được lý Nhơn quả của
Phật giáo. Thật ra thì nhơn nào quả nấy, không bao giờ
sai khác, không bao giờ tương phản; chỉ vì nó đến với
chúng ta nhanh hay chậm (nhơn quả một thời và nhơn quả
nhiều đời). Đã có nhơn thì phải có quả, có quả ắt phải
do nhơn gây ra, đó là lẻ của hơn quả. Nhơn tốt thì quả
tốt lành, nhơn xấu thì quả phải xấu, quả dữ. Đó là một
định luật bất di dịch, đương nhiên. Nhờ lý nhơn quả,
chúng ta nhận thức được rõ ràng là: Thuyết vũ trụ vạn
hữu do một đấng Thượng đế an bài, sáng tạo, có quyền uy
về sự thưởng phạt, ... thì không thể đúng với khoa học
và không phù hợp với chúng ta. Từ đó, chúng ta thấy được
lý nhơn quả đã xóa tan đi vấn đề mê tín dị đoan, không
nương theo một đấng quyền uy tối thượng, một vị thần
linh tối cao. Và cũng từ đó, con người mới không ỷ lại
hay giao phó số phận của chính mình vào một thần quyền
nào khác. Tất cả đều do con người. Đã có nhơn có quả.
Không có thuyết thuyết tự nhiên hay tự hữu, hằng có đời
đời, ... Như vậy, không có một sự thưởng phạt bất bình
do một đấng quyền uy nào đó đưa tới, mà chỉ là do gieo
nhơn để gặt lấy quả mà thôi.
Kinh Pháp Cú đức Phật dạy:
- "Dục tri tiền thế nhơn, kim sanh thọ giả
thị, dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị.".
Nghĩa là:
Muốn biết nhơn quá khứ ra sao, cứ nhìn cái quả
mình đón nhận trong hiện tại; muốn biết cái quả trong
tương lai, cứ nhìn hành động mình đang làm trong hiện
đời.
Chúng ta tạo nghiệp, chúng ta thọ báo. Quả và nhơn
đi liền với nhau như ngày và đêm, như sáng và tối. Con
người là chúa tể tất cả. Con người tạo thiện hay ác để
có qủa lành hay dữ. Lý nhơn quả đã chỉ bày rõ ràng, hiển
nhiên, không thể chối cãi được. Vì con người là chúa tê
nên nó định đoạt tất cả những hành động thường ngày
trong cuộc sống của nó, không một ai có quyền thưởng
phạt hay đặt để cho mình bất cứ cái gì. Chính nhờ lý
nhơn quả của đạo Phật đã đem lại cho chúng ta một đức
tin mãnh liệt, sáng suốt.
Đức Phật dạy:
- "Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi".
hay:
- "Nhất thế duy tâm tạo."
Hết thảy các sự vật, hành động, ý thức,
... đều hoàn toàn do tâm mình tạo tác.
Đức Phật dạy tiếp:
- "Trong các Pháp, Tâm dẫn Đầu, tâm làm chủ,
tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm ô nhiễm tạo nghiệp nói
năng hoặc hành động, sự đau khổ sẽ theo nghiệp kéo đến
như bánh xe lăn theo chân con vật kéo xe."
Và:
- "Trong các Pháp, Tâm dẫn Đầu, tâm làm chủ,
tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm thanh tịnh tạo nghiệp
nói năng hoặc hành động, sự vui vẻ theo nghiệp kéo đến
nhuư bóng theo hình.".
Dựa vào hai câu Phật ngôn trên đây, chúng ta hãy
kiểm chứng vào lý nhơn quả qua một vài trang sử của nước
nhà qua bao thời đại, cũng như kiểm chứng vào việc tu
tập của chính mình, việc tổ chức chính thể, chế độ hay
một đảng phái, một tôn giáo... Nếu như thấy sai quấy thì
cũng nên bình tâm tĩnh trí mà sửa đổi lại, may ra có thể
an lạc, tươi sáng trong tương lai; đừng vì tự ái cá nhân
để nhẫn tâm làm mất đi đoàn kết, làm lũng đoạn tình
người với nhau.... Hãy nhìn vào các triều đại Ngô, Đinh,
Lê, Lý, Trần và cận đại như chín năm chế độ Ngô Đình thì
sẽ rõ.
Từ Bắc thuộc nhà Ngô (939-965) và nhà Đinh
(908-980), trong những lúc giành lại tự chủ, giành lại
độc lập cho quốc gia, đem lại an bình cho dân tộc. Triều
đại thứ ba của nhà Tiền Lê (908-1009), khi nắm được
quyền bính trong tay, Lê Hoàn lợi dụng vua Đinh Tuệ còn
nhỏ mới sáu tuổi, với thập đạo sứ quân, với uy quyền và
chức vụ phụ chánh sẵn có. Lê Hoàn đã sai Phạm Cự Lượng
đem quân ra biên thùy để đánh giặc. Trước khi chống giặc,
Phạm Cự Lượng đã hội quần thần bá quan văn võ trước điện
để tôn Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế. Vì, vua Đinh Liễn bị
loạn thần Đỗ Thích ám hại năm 979 (Việt Nam sử lược
trang 90-91). Nhà Đinh chuyển ngôi cho nhà Tiền Lê từ đó.
Nhà Tiền Lê lên làm vua được ba đời. Vua Lê Long
Đỉnh tức Lê Ngọa Triều chết năm 1009. Tưởng cũng nên
biết rằng: Lê Long Đỉnh là một hôn quân vô đạo, đã từng
lấy mía róc lên đầu Sư sãi, sai lính lấy dầu quấn vào
mình tù nhơn để đốt, và lấy đó làm thú vui tiêu khiển
hằnfg ngày. Khi Ngọa Triều chết, Đào Cam Mộc thấy con
còn nhỏ, nên tôn quan Điện Tiền chỉ huy sứ lên ngôi tức
là Lý Công Uẩn (việt Nam sử lược trang 95-97). Triều đại
nhà Lý bắt đầu.
Đến đây chúng ta thấy lý Nhơn quả của Phật giáo đã hiển
hiện là: Nhà Tiền Lê xây dựng qua sự đoạt ngôi do một vị
võ quan, thì khi mất ngôi cũng do một vị võ quan và con
cái cũng đều còn nhỏ dại cả.
Nhà Lý (1009-1225), trị vì vào khoảng 216 năm. Vị
vua thứ tám là Huệ Tông nhường ngôi cho con là Lý Chiêu
Hoàng năm 1224. Lý Chiêu Hoàng còn nhỏ mới bảy tuổi.
Trần Thủ Độ âm mưu tìm cách ép gã cho Trần Cảnh, đồng
thời ép buộc Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng vào năm
1225. Trầnh Cảnh lên ngôi lầy niên hiệu là Trần Thái
Tông. Với manh tâm là củng cố nhà Trần, Trần Thủ Độ đã
dùng tất cả những thủ đoạn, những ác tâm bằng cách:
- Lý Huệ Tông đã xuất gia đầu Phật, nhưng, Trần
Thủ Độ vẫn bắt buộc thắt cổ tự vẩn.
- Tìm cách ám hại hết tất cả những tôn thất, tôn
thần của nhà Lý để trừ hậu họa về sau. Năm 1225, lợi
dụng việc tế lễ các đấng tiên vương của nhà Lý tại thôn
Thái Dương, làng Hoa Lâm, thuộc huyện Đông Hải tỉnh Bắc
Ninh; Trần Thủ Độ cho lính đào ngầm những hầm sâu, lợp
lá bên trên, đợi khi con cháu tôn thất nhà Lý rơi tuột
hết xuống hầm thì cho lính vùi lấp hầm, chôn sống hết.
- Trần Thủ Độ muốn cho nhân dân quên đi tất cả
những tông tích của triều đại nhà Lý, ông lấy cớ là vua
nhà Trần tên Lý (Trần Lý tức là tên của ông nội vua Trần
Thái Tông), để dễ dàng buộc những người mang họ Lý phải
đổi ra họ Nguyễn hay họ khác (Việt Nam sử lược trang
116-121).
- Để tránh nạn thông gia trộm cướp ngôi lẫn nhau,
Trần Thủ Độ bắt buộc các vua nhà Trần phải lập gia đình
với con cháu tôn thất nhà Trần. Tuy nhiên, nhà Trần cũng
không thể tránh được nạn ngoại thích cầm quyền trong tay.
Hồ Quý Ly cò hai bà cô lấy vua thứ năm là Minh
Tông. Một sinh ra Huệ Tông, một sinh ra Duệ Tông. Và,
con gái của Quý Ly lấy vua Thuận Tông là thái tử của vua
Nghệ Tông. Nhờ đó, Hồ Quý Ly đã lợi dụng được bà con,
lợi dụng sự mù quáng của nhà vua để đoạt ngôi vị cho nhà
Hồ. Trong lúc Nghệ Tông đang là Thái thượng Hoàng, nhưng
Quý Ly đã tìm cách bắt buộc phải phế bỏ vua Hiến Đế.
Những vị thái tử, hoàng tử thân vương, ông xin Nghệ Tông
cho sát hại đi.
Sau khi Nghệ Tông mất (1394), Quý Ly ép con vua Nghệ
Tông là Thuận Tông phải hường ngôi cho con là Hiếu Đế
mới ba tuổi và cho người giết Thuận Tông. Tôn thất của
nhà Trần là Trần Nguyên Hãng, Trần Khắc Chân tìm cách
trừ khử Quý Ly, việc không thành, bị Quý Ly giết hại hết.
Cả thảy 370 người.
Năm 1400, Quý Ly cho hạ bệ Thiếu Đế để đoạt ngôi,
lập ra cơ nghiệp nhà Hồ (Việt Nam sử lược trang 174-181)
Cũng tương tự như nhà Trần, để tránh hậu họa trong
miếu đường cũng như ngoài nhân gian, Hồ Quý Ly bắt con
cháu nhà Trần phải đổi thành họ Trịnh. Vì lấy cớ vợ của
Lê Thái Tổ tên là Phạm thị Ngọc Trần (Theo Đại Việt sử
ký Toàn thư trang 101-179).
Nhà Hậu Lê (1428-1788), lên ngôi là nhờ giải phóng
ách thống trị của nhà Minh. Tuy nhiên, trong việc làm
nầy, vua Lê Thái Tổ đã dùng một tủ đoạn rất đặc biệt,
Năm 1427, sau mười năm chiến đấu trường kỳ gian khổ, Lê
Thái Tổ tức Bình định Vương Lê Lợi, đang ở trong thế
mạnh, nhưng vẫn không đuổi được quân Minh. Bấy giờ tướng
nhà Minh tên Vương Thông muố đem quân về xứ, nhưng sợ
mang tiếng là hèn nhác, bèn lục tờ chiếu của vua Minh
ban hành năm 1407, nói về việc tìm kiếm con cháu nhà
Trần để lập tự. Trong lúc ấy, cũng có sứ đến nói với
Bình Định Vương phải tìm con cháu nhà Trần lên làm vua
để giải binh. Vì muốn chấm dứt chiến tranh, để sớm thống
nhất sơn hà và để sớm thành công cho Bình Định Vương, Lê
Lợi liền chấp thuận ý kiến đó, liền cho mời Trần Cao (Người
tự xưng là con cháu của Trần Nghệ Tông) lên làm vua bù
nhìn và xưng cầu phong của nhà Minh.
Sau khi Liễu Thăng cầm binh cứu viện bị đánh bại,
nhà Minh nhận cho Trần Cao làm vua nước An Nam; đồng
thời, cho Vương Thông đem quân về nước (Việt Nam sử lược
trang 216-223). Đến khi chiến tranh vừa yên ổn, Bình
Định Vương cho người giết Trần Cao để lên ngôi hoàng đế
năm 1428 (Việt Nam sử lược trang 234).
Khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê 1527, hai họ Trịnh và
Nguyễn lấy danh nghĩa phò nhà Lê để lập tự. Hai vị vua
Trang Tông và Trung Tông thì tương đối có chức vị đẹp
đẽ, có đôi chút quyền thế. Sau đó, cả thảy 13 đời vua
nhà Hậu Lê kể từ vua Anh Tông đến Hiển Tông đều là vua
bù nhìn của chúa Trịnh. Họ Trịnh đoạt vận mạng ngôi vua,
có quyền đưa lên hay hạ xuống. Cũng có thể bị ám hại đi
như vua Anh Tông bị Trịnh Tùng giết năm 1573, vua Kinh
Tông thì bị Trịnh Tùng bắt buộc thắt cổ chết năm 1619.
Vua Lê Đế Duy Phương phế rồi bị giết năm 1732 (Việt Nam
sử lược trang 262-270). Trong suốt hai trăm năm họ Trịnh
duy trì 13 đời vua bù nhìn của nhà Lê, trong đó có ba vị
vua bị bức tử.
Bây giờ nhìn vào nhơn quả của Phật giáo để nhận
xét, cho chúng ta thấy rằng:
- Vua Lê Thái Tổ chỉ giết một Trần Cao bù nhìn mà
con cháu sau nầy người bị giết, kẻ bị bù nhìn dài đăng
đẳng. Như vậy, một khi thành lập một triều đại mới có
một hành động không tốt với triều đại cũ, cho dù là tập
thể hay cá nhân đi chăng nữa; nếu đem ra để viện lý là
phải hành động như vậy vì quốc gia dân tộc đi chăng nữa;
nhưng, những con cháu hậu duệ cũng không tránh khỏi quả
báo của cha ông đã gieo rắc từ trước.
-Trần Thủ Độ đã giết con cháu nhà Lý như thế nào,
bắt buộc con cháu nhà Lý đổi họ ra sao; sau đó con cháu
nhà Trần cũng gánh chịu hậu quả y như vậy do Hồ Quý Ly
đem lại.
Gần đây, triều đại Ngô Đình bội hứa với vua Bảo
Đại, đoạt ngôi nhà Nguyễn ra sao, giết hại các đảng phái
càc giáo phái chân chính như thế nào, để rồi cuối cùng
cả giòng họ phài đón nhận một hậu quả vô cùng thảm não.
Tất cả gần như bất đặc kỳ tử.
Bằng chứng:
Nhà Ngô đã phản bội Quốc trưởng Bảo Đại thì Hội
đồng Tướng lãnh hạ bệ nhà Ngô. Nhà Ngô giết hại các phần
tử chân chánh, các chính trị gia đảng phái, nhân sĩ yêu
nước; đồng bào vô tội để cũng cố chế độ độc tài gia đình
đình trị mà đã một thời mang tai tiếng là tam đại Việt
gian; cuối cùng quân nhân cán chính các cấp và toàn dân
miền Nam Việt Nam đã đứng lên làm cách mạng, làm lịch sử
xóa tan Ngô triều. Và, các tướng lãnh cũng đã đối xử một
câu khi cho người đi đón hai anh em Ngô Đình Diệm là:
Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc.
Trên đây là những trang sử đã để lại cho
con dân hậu duện Việt soi chung đã ảnh hưởng rất rõ ràng
theo giáo lý nhơn quả của nhà Phật.
Còn trong Phật giáo, dù xuất gia hay tại gia cứ y
theo giáo lý mà hành trì, tu niệm. Đạo Phật đặt nặng vấn
đề hành trì hơn là lý thuyết. Lý hay, thuyết giỏi mà
không thực hành, không tu tập thì chẳng khác nào cái đãy
đựng đồ.
Lời thật lúc nào cũng khó nghe và dễ mất lòng,
nhưng, thuốc đắng thì đả tật. Viết lên đây chỉ là một ý
kiến xây dựng và mong mỏi được nhìn hình ảnh đẹp đẽ
trong mai hậu; với hy vọng lớp hậu duệ của con dân nước
Việt trong cũng như ngoài nước nhìn vào lịch sử qua lăng
kính nhơn quả của Phật giào để xây dựng cho mình, cho
người và chung cho xã hội được hoàn hảo hơn. Làm được và
sống được như giáo lý nhơn quả mà đức Phật đã dạy thì đó
là đã trực tiếp tạo hạnh phúc, tạo an lạc cho mình, cho
người và cho xã hội.
Đức Phật thường dạy:
..."...Ai cũng sợ gươm đao, ai cũng sợ
chết, vậy hãy lấy lòng mình suy lòng người, đừng giết,
đừng bảo ai giết.", "Ai cũng muốn tránh điều khổ, ai
cũng muốn có hạnh phúc. Vậy hãy lấy lòng mình suy lòng
người, đừng gây điều khổ cho người khác, đừng phá hại
hạnh phúc người khác", "Ai cũng có gia đình, thân nhân
muốn bảo bọc, muốn duy trì hạnh phúc được tốt đẹp. Vậy
thì đừng phá gia đình, đừng phá thân nhân của người
khác.", "Ai cũng muốn của cải của mình được trọn vẹn yên
ổn. Vậy hãy lấy lòng mình suy lòng người, giữ gìn của
cải của người khác, đừng xâm phạm, đừng gian tham, đừng
bóc lột, đừng cướp giựt!...".
Là Phật tử luôn luôn tưởng nhớ lời đức
Phật thường dạy: Thân mạng vô thường, sớm còn tối
mất,...", như sương ban mai trên đầu ngọn cỏ
lóng lánh, phản chiếu tợ kim cương dưới ánh nắng mát dịu
của buổi bình minh; nắng gắt lên rồi thì còn lại được
gì? Vì, trong kinh Phật dạy:"Mạng tợ ngưng
sương...".Thân người như bóng câu qua cửa sổ,
như sợi chỉ mành treo chuông. Chiêm nghiệm được như vậy
thì cuộc sống của mình, của người và của xã hội sẽ mãi
mãi an lạc, hạnh phúc. Từ đó thế giới sẽ không còn chiến
tranh, lao tù. Không còn cảnh mạnh được yếu thua, giàu
sang hiếp đáp kẻ nghèo khó, khốn cùng. Nhìn nhau toàn là
anh em trong giòng nước mắt cùng mặn và trong giòng máu
cùng đỏ như nhau.
Thượng tọa Thích Tín Nghĩa