Nói xong, thầy từ từ bước xuống cầu thang. Tôi cũng
không biết là thầy ở đâu nữa, vì quá mới nên cái gì
cũng xa lạ hết.
Cứ thế, ngày nào Thầy cũng qua ăn cơm trưa, còn tôi thì
được mấy người trong đó có anh Hồng Quang chở đi chơi
cho biết đó đây. Chủ nhật đầu, tôi nói chuyện với đồng
bào Phật tử chùa Việt nam, rồi sinh hoạt với Gia đình
Phật tử Long hoa; Chủ nhật kế, được ngài Trí Chơn lên
đón bằng xe Bus để về nói chuyện và thăm đồng bào Phật
tử chùa Vạn hạnh vùng San Diego. Ngài Trí Chơn rất chân
tình và niềm nở đối với tôi, khi mời tôi về thăm chùa
Vạn Hạnh, mặc dầu Thầy và tôi chỉ biết nhau lờ mờ hồi
còn ở quê nhà, trên ba mươi năm. Chúng tôi đều là môn
phái Tây Thiên, thuộc dòng Liễu Quán, trên nguyên tắc,
Thầy là vai vế chú bác trong đạo.
Ðược mười tám hôm, tôi lên đường nhận lãnh nhiệm vu mới.
Trước khi đi, ngài Mãn Giác có đãi một bữa ăn thịnh soạn.
Thầy Ðức Niệm thì chúc mừng cho tôi. Tôi cũng có theo
Thầy một hai lần đến nơi mà thầy thường nghỉ và làm việc.
Thấy mà tội. Mang danh Phó viện Trưởng, ở cái phòng chỉ
một chỗ ngủ, một cái bếp cỏn con dùng nấu nước pha trà.
Còn nhà máy in là một cái Garare cũ được tạm chỉnh trang
lại để dùng in kinh sách. Ðiều đáng chú ý là số kinh
sách cung ứng từ năm 1979 cho đến năm 1983 khắp đó đây
đến những chùa ở hải ngoại và các trại tị nạn đa phần
đều từ nơi này mà có.
Ngày từ giả, ra phi trường tiễn tôi có ngài Thiên Ân và
ngài Ðức Niệm. Ra đến phi trường LAX, ngài Thiên Ân bảo
:
- Thầy là người đặc biệt mà tôi tiễn đưa ra tận phi
trường. Tôi chưa đưa tiễn ai bao giờ.
Thầy Ðức Niệm nói thêm :
- Hòa thượng nói đúng.
Riêng, ngài Mãn Giác thì hướng dẫn tôi lên tận Denver,
tiểu bang Colorado để bổ nhiệm với chức vụ Lãnh đạo tinh
thần Cộng đồng Phật giáo kiêm Trú trì chùa Việt nam ở
đây. Phải nói rằng: Khi tôi lên Denver, hai vị gọi điện
thoại hỏi thăm đủ điều cũng như khuyến khích làm Phật sự
là Thầy Mãn Giác và Thầy Ðức Niệm. Có lẽ vấn đề làm việc
ở xã hội mới chưa quen thuộc cũng như tâm đạo của hàng
Cư sĩ tại hải ngoại từ 1975 đến ngày tôi rời Denver chưa
thuần nhất, chưa nhuần nhuyễn, sự tu học và tin vào Phật
pháp cũng chưa vững chắc lắm; cứ xem vị Tu sĩ như chúng
tôi là một ông từ giữ chùa không hơn không kém. Vả lại,
vốn liếng sinh ngữ để nghe điện thoại hoặc đi đường cũng
không có được một chữ, nên tôi phải trở về Los Angeles
để có cơ duyên đi học Anh ngữ. Tôi cộng tác với Thầy Ðức
Niệm từ đó.
Tôi lái xe hai ngày hai đêm về tận chùa Việt nam, vào
chào Thầy Mãn Giác và rồi ra xe về trụ sở Phật học viện
Quốc tế. Ngủ một đêm, sáng dậy tôi và thầy Ðức Niệm nói
chuyện hơi dài, Thầy bỏ buổi học Anh văn.
Thầy nói :
- Thầy về đây làm việc với tôi. Chỗ ngủ nghỉ cùng phòng
ốc, bếp núc để nấu nướng thì không được thoải mái cho
lắm; nếu thầy ngủ ở phòng nầy, tôi qua chánh điện tạm
thờ Phật để ngủ. Hai chúng ta nương nhau làm Phật sự.
Tôi nói :
- Thầy yên tâm. Thầy cứ ngủ đây. Tôi qua bên đó. Trường
hợp ai bị đau ốm, thì ngủ tại phòng nầy. Còn từ nay về
sau, chúng ta tự túc nấu ăn. Buổi sáng Thầy đi học, tôi
ở nhà nấu cơm và đóng kinh sách. Chiều Thầy lo nhà in,
nấu cơm chiều, tôi đi học Anh văn ban tối.
Phật sự ngày một thêm nhiều. Thầy Ðức Niệm còn bổn phận
phải lên Fresno để giảng pháp mỗi một nửa tháng. Tôi thì
xuống giảng và truyền giới Bát Quan trai cho cho hàng
Phật tử mỗi tháng một lần tại Trung tâm Phật giáo Huệ
Quang tức chùa Huệ Quang bây giờ của Thượng tọa Minh Mẫn
ở đường Bishop.
Tuy tôi làm việc và ăn ở với thầy Ðức Niệm, nhưng, mỗi
nửa tháng tôi đều qua chùa Việt nam để cùng hàng Phật tử
nơi đây làm lễ lạy Sám hối.
Sự sinh hoạt ngày một đa dạng. Hàng phật tử ngày một
thêm đông, nên thầy Ðức Niệm và tôi đều bỏ học và bắt
đầu cho chương trình mới là: vừa tiếp tục in kinh sách,
vừa tìm đất hoặc nhà để kiến tạo cơ sở thực sự cho Phật
Học Viện Quốc tế.
Những ngày chúng tôi ở tại Los Angeles, tiền bạc rất eo
hẹp. Tôi mua một chiếc xe mới từ Denver đem về, nợ nần
chưa trả hết. Mỗi tháng Thầy cho $140.00 để phụ trả tiền
xe. Những lúc túng thiếu, tôi thưa với Thầy là :
- Thầy để Tín Nghĩa xuống với anh Lê Viết Tấn ở Irvine,
xin cắt cỏ một tuần hai ngày, trả xong xe là tôi sẽ nghỉ
cắt cỏ, nhưng, dù thế nào tôi cũng phải chu tất công tác
đóng kinh sách, Thầy đừng lo.
Thầy nói :
- Tui mới vừa học xong, bên Tàu qua đây chân ướt, chân
ráo, chẳng có gì trong tay ngoài mảnh bằng. Vả lại, bằng
cấp ở Tàu đâu có xài gì được cho xã hội Tây phương này.
Thầy cũng vừa từ trại tỵ nạn qua, cho nên hoàn cảnh nầy
hai chúng ta đều thiếu thốn, ráng cùng nhau đều chịu
thiếu thốn. Có lòng thì chư Phật, Bồ tát cũng thương,
cũng gia hộ cho chúng ta, không sao đâu ?
Tuy Thầy nói và an ủi thế, nhưng, những lúc không có
tiền in kinh sách, Thầy cho các chùa thỉnh luôn những
chuông mõ lớn, tượng Phật lớn để có tiền mà tiếp tục
theo hạnh nguyện. Tượng Phật lớn nhất hiện giờ đang thờ
tại chùa Liên Hoa ở Canada, do cố đạo hữu Trịnh Minh Cầu
làm Hội trưởng nguyên là của thầy Ðức Niệm. Chính bản
thân chúng tôi lo đóng thùng và gởi đi. Hàng Phật tử ở
Fresno thấy Thầy không có phương tiện, họ quyên góp nhau
được chút đỉnh mua một chiếc xe cũ với giá $1,800.00,
Thầy cũng bán và đưa vào chuyện in ấn kinh sách. Phật tử
lấy làm ngạc nhiên, liền thưa hỏi :
- Sao Thượng tọa bán xe, lấy gì để đi lại khi cần ?
Thầy cười, rồi nói :
- Quý vị nên biết đức Phật dạy rằng: trong các vấn đề bố
thí, thì bố thí Pháp là quan trọng hơn hết. Riêng Thầy
thì sao cũng được. Khi cần lắm thì nhờ Phật tử nào đó có
phương tiện, cùng lắm thì đi xe Bus, miễn sao có kinh
sách cho hàng Phật tử trì tụng là tốt rồi, …
Có nhiều lúc Thầy nhường lại những bộ y-hậu, pháp cụ tốt
cho quý thầy để lấy tiền in kinh sách. Thầy chủ trương
hoằng truyền Chánh pháp và đào tạo Tăng tài lên hàng
đầu.
Sau một thời gian tìm kiếm, tức là địa điểm Phật Học
Viện bây giờ, hạ tuần tháng ba năm 1982, chúng tôi dời
từ Los Angeles để về đây. Ngôi nhà mấy phòng dùng để cho
bốn hoặc năm người ở thì tốt, dùng làm nơi tu học cho
quần chúng Phật tử thì không thể được. Mọi sinh hoạt
trong khiêm tốn, nhưng vẫn gặp khó khăn với lối xóm, vì
toàn là người Mỹ da trắng. Những lễ lớn như Phật đản, Vu
lan thì phải thuê mướn hội trường của trường bên cạnh.
Số Phật tử đến sinh hoạt mỗi lúc một đông. Trong những
Phật tử thân quen, thương tình khuyên bảo con cháu của
họ rằng :
- Nếu, những nhà chung quanh Phật Học Viện, cái nào bán
thì các con mua lấy, vừa gần với gia đình, vừa giúp cho
thầy Ðức Niệm khỏi bị kiện cáo lôi thôi.
Ý kiến rất hay, nên một số Phật tử dù ở xa Phật học viện
cả một giờ lái xe cũng lên mua nhà gần viện. Nhờ vậy mà
Thầy đã không gặp khó khăn mà lại thuận duyên khi phát
triển cơ sở.
Trong tình đạo gắn bó giữa tôi và Thầy thì rất nhiều kỷ
niệm từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn. Nhưng có hai chuyện
đáng ghi nhớ nhất trong hai chúng tôi, tuy không mấy đặc
sắc, thế mà mỗi lần nhắc lại là cả hai cùng ôm bụng
cười. Nhơn đây tôi cũng ghi lại vài dòng để gọi là làm
lưu niệm cho cuộc đời hành đạo xứ Hoa Kỳ.
Số là :
Khi cơ sở mới đưa lên vùng này, chúng điệu chưa có, duy
nhất có chú Ân Hạnh, đệ tử của Hòa thượng Thiên Ân cùng
trú xứ. Chú nầy vì có bệnh nên kinh điển chẳng thông
thuộc là bao, chỉ biết tụng kinh ngắn, đánh chuông và
làm công quả lặt vặt như nấu ăn, gói kinh sách để gởi đi
cho những nơi cần đến, hoặc tiếp bổn đạo dẫn vào lễ Phật
trước khi gặp quý thầy, hoặc trông chừng nhà cửa.
Chuyện thứ nhất :
Số là hai chúng tôi, một ngày
như mọi ngày, lo quét dọn vườn tược, trồng cây này bới
cây kia, vun quén những luống rau mới trồng, sửa sang
ngôi nhà mới mua này, những gì của thế gian biến thành
cảnh thiền môn thanh tịnh. Công việc chỉ có vậy mà ngày
nào cũng như ngày nào mất gần mười tiếng đồng hồ. Có khi
chỉ tụng kinh ban sáng, tối lại chỉ niệm Phật chứ không
đủ thì giờ. Sáng sớm tụng kinh xong, cả hai chúng tôi ra
vườn làm say sưa quên cả ăn uống và cứ tưởng là có chú
Ân Hạnh bên trong, nên chẳng để ý gì cho bữa cơm trưa.
Ðến khi mệt liền đi vào nhà để chuẩn bị ăn cơm trưa, nào
ngờ chú đi gởi sách bị lạc đường, không biết đường về.
Chúng tôi kiếm thức ăn chẳng có. Thế rồi, hai chúng tôi
chấp nhận ăn mì gói với rau đã trồng sẵn. Bữa ăn ngon
lành làm sao, chúng tôi mỗi người ăn hết bốn gói mì và
cộng thêm rau sống. Ăn uống xong là hai giờ chiều, rồi
đi ngủ và ngủ li bì cho đến ba giờ sáng hôm sau. Cả hai
đều khát nước không thể tả và no luôn gần như cả ngày
kế. Cho nên mỗi khi nói đến chuyện ăn mì gói là đều cười
ngất và cũng không thể nào ăn hai gói rưởi chứ nói gì
đến bốn gói như dạo ấy.
Chuyện thứ hai :
Nhà mua xong, trả nợ được
tám tháng. Kinh tế bắt đầu eo hẹp. Tiền nhà tháng kế
tiếp không tài nào có đủ. Hỏi mượn quanh thì ai cũng bảo
là đang kẹt. Số tiền thiếu độ ba trăm Mỹ kim. Túng thế,
liền khui thùng phước sương. Tay Thầy bưng thùng tiền
thì nghe tiếng kêu toàn lẻng kẻng, nên cả hai nhìn nhau,
rồi tôi liền ra cửa trước để trông chừng khách khứa ra
vào, Thầy mang thùng phước sương vào phòng để đếm tiền
cắc. Gần một tiếng đồng hồ, Thầy đi ra với khuôn mặt vui
và nói : Dư rồi thầy
Tín Nghĩa ơi, đừng lo !
Và cả hai cùng
cười.
Cá nhân tôi thì không nói, nhưng, tôi cười và tội cho
thân phận của Thầy, một người có học vị thật sự với văn
bằng Tiến sĩ, lại chơn tu, giới thể châu viên; thế mà
khi ra làm Phật sự cũng không phải là chuyện dễ dàng.
Có cơ sở xong, Thầy và tôi nghĩ ngay đến vấn đề đào tạo
Tăng tài. Chúng điệu bắt đầu có khoảng năm đến bảy vị,
Thầy làm Giám đốc, tôi làm Giáo thọ Tăng ni sinh của
Viện. Chương trình tu học ở đây tiến đều, đặc biệt là
phần kinh luật rất khá. Khi thọ giới, Giới tử tụng luật
tiểu Trường hàng thuộc lòng đến độ hàng Thập sư và Tuyên
luật sư phải tấm tắt khen. Tháng ba năm 1982, Thầy đi Âu
châu cũng như các chùa tại địa phương để thăm và cung
thỉnh chư tôn đức vào những ngôi vị Thập sư, chuẩn bị
cho Ðại Giới Ðàn đầu tiên, lớn nhất tại hải ngoại, được
khai thị tại Phật học viện Quốc tế. Ðại giới đàn mang
tên vị Cao Tăng Thiện Hòa, Thầy làm Chánh chủ đàn, tôi
làm Trưởng ban điều hành kiêm Công văn
(Hiện Kỷ yếu còn lưu lại tại
Viện).
Cũng trong bổn phận và trách nhiệm hoằng truyền Chánh
pháp, cũng như phát triển cơ sở, tôi đến vùng Dallas,
tiểu bang Texas để vận động thành lập Tổ Ðình Từ Ðàm Hải
Ngoại vào tháng 10 – 1983, Thầy đã cố vấn và tận tình
giúp đỡ về mọi mặt.
Thầy đã từng hy sinh quyền lợi của phần mình để giúp cho
Từ Ðàm Hải Ngoại trong những khó khăn lúc ban đầu về mặt
tài chánh. Từ đây, tôi và Thầy đều có cùng một trách
nhiệm riêng mà đường lối sinh hoạt thị hỗ tương cho
nhau. Những công tác Phật sự chính như thành lập Giáo
hội hoặc những đại lễ Phật đản, Vu lan đều có nhau. Phải
thành thật mà nhìn nhận một điều, kể từ khi thầy Ðức
Niệm có mặt tại hải ngoại, không một Phật sự nào mà Thầy
bỏ sót, đặc biệt là đường hướng của Giáo hội. Thầy đóng
góp một cách tích cực từ vật chất đến tinh thần và đóng
góp tối đa. Tôi còn nhớ mãi lần đầu tiên Thầy đến thuyết
giảng và Chứng minh Ðại lễ Phật đản năm 1984 tại Tổ đình
Từ Ðàm Hải Ngoại. Lúc ấy, Từ Ðàm chỉ là một ngôi nhà cũ,
không có phòng ngủ, không có phòng tắm. Tôi phải gởi
Thầy đến một nhà Phật tử để ngủ qua đêm và có phương
tiện cho bản thân. Thầy chỉ ngủ một đêm, qua đêm sau,
Thầy ở lại với tôi và chấp nhận chịu mọi sự thiếu thốn
như tôi. Thầy phải ngủ dưới thảm không có nệm, không có
nước nóng, không buồng tắm; tôi rất ái ngại, nhưng Thầy
rất hoan hỷ và Thầy còn nói :
- Tôi chịu đựng quen rồi. Nhờ sự chịu đựng đó mà những
năm tôi học ở bên Tàu, khỏi nấu nướng mới có thì giờ
theo học chương trình Cao học và Tiến sĩ.
Theo tôi nghĩ : Có lẽ Thầy thương hoàn cảnh
của tôi lúc ấy thì phải, nên Thầy nói ra như vậy để tôi
yên lòng hoặc Thầy an ủi để tôi có nghị lực một phần nào
mà tiến tu và dõng mãnh mà lo cho ngôi nhà Phật pháp thì
đúng hơn. Tôi không thấy một vẻ gì buồn hiện lên nơi
khuôn mặt hiền hậu và phúc đức ấy. Cũng may, mùa Phật
đản và Vu lan đều là mùa hạ, khí trời của vùng Texas
nóng nhiều hơn lạnh.
Hạnh nguyện độ sanh và trách nhiệm với Phật
pháp đang trên đà hanh thông, Thầy thọ bệnh.
Vào trung tuần tháng 12 – 2001, vừa đi tụng kinh công
phu sáng xong, tay bưng tách trà đi quanh để nhìn cây
cảnh, tiếng chuông điện thoại lại reo lên, tôi nhấc ống
nghe, đầu dây nói tiếng của Sư cô Diệu Tánh báo cho hay
là :
- Thầy con vừa
mới vào bệnh viện, con tin cho thầy hay để thầy cầu
nguyện cho Thầy con.
Hai thầy trò nói chuyện với nhau chưa được
mấy phút, Sư cô xin gác máy để lo những chuyện cần thiết
trước khi vào chăm sóc cho thầy Ðức Niệm tại bệnh viện.
Tôi biết Thầy bệnh từ lâu rồi, nhưng, những tưởng là
được gặp thầy, gặp thuốc. Tôi gọi điện thoại cho anh Bùi
Ngọc Ðường để hỏi thăm bệnh tình của Thầy ra sao. Anh
trả lời :
- Thấy Thầy tuần trước có hơi mệt, nhưng vì tuần này có
mấy việc cần làm cho bản tin của Ban Bảo trợ phiên dịch
Pháp tạng Việt nam nên tôi chưa lên viện được. Có chi,
chút nữa tôi chạy lên xem, về gọi cho thầy hay sau.
- Như vậy, anh vẫn chưa biết Thầy đi bệnh viện ?
- Dạ, chưa.
- Bây chừ anh theo dõi tin tức, có gì anh gọi cho tui
hay với. Có lẽ, tui cũng sắp đặt và về với Thầy vài
ngày.
Thế rồi, tôi và anh Ðường đều gác máy và ai lo phận sự
nấy.
Tuần kế, tôi quyết định lấy vé và bay về Phật học viện
Quốc tế để biết rõ tình cảnh ra sao. Anh Ðường đến phi
trường Burbank chở thẳng tôi vào tận bệnh viện. Vừa bước
vào là Thầy đã cảm động và cả hai đều chảy nước mắt.
Chúng tôi không chịu đựng được và sợ Thấy quá xúc động
làm cho mệt thêm, nên chúng tôi tìm cách ra ngoài một
lát. Bốn mươi lăm phút sau, chúng tôi đi vào ngồi bênh
cạnh Thầy gần hai tiếng đồng hồ; sau đó, về viện. Tôi ở
lại được mấy hôm, thấy Thầy có vẻ khá, tôi xin trở lại
Từ đàm. Khi tôi rời khỏi bệnh viện thì Thượng tọa Tịnh
Từ lái xe từ Tu viện Kim sơn về thăm.
Bác sĩ quyết định mổ cái bướu trong gan, nhưng, Thầy từ
chối và chỉ chữa bằng thuốc. Bệnh tình thuyên giảm, Thầy
trở lại Viện, tiếp tục dưỡng bệnh. Bệnh tạm khá, tôi qua
thăm và ở lại gần cả tuần. Trong lần này, tôi thưa Thầy
nên tổ chức giỗ Tổ Liễu Quán
(đây là lần giỗ Tổ thứ hai
tại Hoa kỳ, lần đầu tại Từ đàm Hải ngoại), vì
không thể lên chùa của thầy Vân Ðàm ở Falls Church, tiểu
bang Virginia được. Lý do, lúc nầy vấn đề khủng bố đang
xảy ra trầm trọng, sự di chuyển khó khăn và có phần nguy
hiểm. Và, trong ngày Giỗ Tổ, Thầy tổ chức luôn Ðại lễ an
vị chư tôn tượng Phật và Bồ tát tại Tân chánh điện mới
rất trọng thể và đông đảo quần chúng Phật tử, mặc dầu
mới hoàn tất chương trình xây cất được ba phần tư công
tác.
Tôi và Thầy hay trao đổi cho nhau những tâm tình Phật sự
của Viện, của Từ Ðàm và của Giáo hội.
Tôi biết Thầy có bệnh Tiểu đường, đi đâu, Thầy cũng lè
kè những bình thuốc do đệ tử chưng nấu hẳn hoi để mang
theo mỗi khi đi diễn giảng các hội Phật giáo xa xôi khắp
Hoa kỳ và Candada. Không một đơn vị nào dù là trong hay
ngoài Giáo hội, dù là nhỏ hay lớn, một khi đã cung thỉnh
Thầy về thuyết giảng, chứng minh mà Thầy không tận tình
trong nhiệm vụ Sứ giả Như lai, của một bậc Sư trưởng,
một nhà dìu dắt đầy chân tình và tận tụy. Ði đến đâu,
Thầy cũng khuyến tấn đàn hậu học dù xuất gia hay tại
gia, phát tâm tu học, hướng về con đường mà Giáo hội từ
ngàn xưa đã gầy dựng, xiển dương và duy trì.
Hình ảnh của Thầy đi đến đâu là ban rãi tình thương đến
đó. Những ai đã được gặp Thầy một lần, thì bằng mọi cách
cũng tìm về Phật Học Viện để xin cận kề học hỏi.
Những lần Ðại hội sơ khởi để thành lập Giáo hội, hay là
sau khi đã được hình thành, nếu chọn Phật Học Viện làm
nơi hội họp, thì Thầy lo lắng và phục vụ hết mình từ vật
chất đến tinh thần. Thầy nghe chư Tăng cung tựu là Thầy
vui vẻ, giống như mở hội chính trong lòng. Thầy tận tình
chăm sóc, hỏi han từng vị một, cho dù Tăng hay Ni, lớn
hay nhỏ. Riêng mối thâm tình keo sơn giữa Hòa thượng Hộ
Giác và Thầy nối dài từ quê nhà ra hải ngoại thì không
nói.
Thầy đã cư xử, đối đãi với chư tôn đức, dù sơ giao hay
thâm giao, thường hay nhường chỗ nằm nghỉ thường nhật
của mình cho các vị lớn trong đó có hai vị thường lấy
làm cảm động và hay tâm sự với tôi: đó là Hòa thượng
Thắng Hoan và thầy Thiện Trì.
Hai vị, mỗi khi trà đàm với tôi, đều nói :
- Ông cụ Ðức Niệm cứ nhường chỗ nằm của cụ để mình ngủ
nghỉ, thấy ngại quá. Chúng tôi từ chối.
Nhưng Thầy nói :
- Quý Ngài về đây thành tâm chung lo Phật sự và hết lòng
xây dựng Giáo hội, xiễn dương Chánh pháp, phục vụ quốc
gia dân tộc là quý lắm rồi. Chúng tôi phục vụ các ngài
có sao đâu. Miễn sao các ngài hoan hỷ.
Kể
từ
khi Thầy
lâm trọng bệnh
gần một năm rồi, cách một hoặc hai tháng, tôi lại về với
Thầy một lần và mỗi lần như thế cả tuần lễ.
Những lúc Thầy có sức khỏe tương đối, tôi cùng Thầy
thường hay đi bách bộ có khi thì trong vườn thiền của
Phật Học Viện, có khi đi xa hơn ra ngoài đường phố để
tâm sự với nhau về những Phật sự đã làm trong những ngày
sống đời xa xứ. Thầy thường bảo :
- Nếu tôi được bình phục, bằng mọi cách, tôi sẽ tạo dựng
một cơ sở tương đối khá lớn hơn Phật Học Viện hiện nay
để cúng dường cho Giáo hội làm cơ sở, văn phòng sinh
hoạt được tốt và thuận duyên hơn. Những Ðại lễ mà đặc
biệt là Phật đản, Ðại hội, v.. v… cũng dễ dàng cho Giáo
hội.
Nghe Thầy nói, tôi lấy làm cảm động và hồi tưởng lại
những ngày đầu, chư tôn đức Tăng Ni, không phân biệt
tông phái, môn phái, đã
vâng Giáo chỉ của đức Tăng Thống Ðại lão Hòa thượng
Thích Ðôn Hậu, về dự phiên họp đầu tiên để thành lập
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa
Kỳ - Làm lễ Tưởng niệm cố Hòa thượng Thích Ðôn Hậu - Ðại
hội Thường niên Một, nhiệm kỳ I - Ðại hội Khoáng đại Tám
do Giáo hội Mẹ phó thác đều cử hành tại Phật Học Viện.
Những chi phí căn bản cho những Ðại lễ hoặc Ðại hội, tuy
nói là Giáo Hội lo liệu, nhưng thật ra, Thầy gánh vác
tất cả. Chính tờ báo Phật giáo Thống nhất cũng vậy. Ðiều
nầy, tôi biết rõ và rất rõ. Và, chư tôn Thiền đức đều
thấy.
Cơn bệnh trầm trọng của Thầy khoảng hơn một năm lại tái
phát. Thầy vừa vào bệnh viện lần thứ hai chưa được hai
hôm thì tôi đã có mặt bên giường bệnh cùng Thầy. Tôi cầm
tay Thầy và nói những câu chuyện vui để cho Thầy có thể
quên đi cái đau và quên đi một phần nhỏ lo lắng trong
cái lo lắng bao la mà cuộc đời Thầy đang gắn bó với Ðạo
pháp và Quê hương .
Thân bệnh mà tâm không bệnh. Thầy vẫn cố gắng dạy đồ
chúng và vẫn hướng dẫn thợ thuyền làm cho xong chương
trình xây cất Tân chánh điện cũng như dựng các tôn tượng
Phật A Di Ðà và Di Lặc trong khuôn viên của Viện. Thầy
rất mong được chứng kiến và được tự thân dự làm lễ An
vị.
Bệnh tình tái phát khá trầm trọng. Thầy vào bệnh viện
trở lại trước tết Quý mùi. Chư Tôn Giáo Phẩm và hàng
Phật tử rất lo ngại. Tăng chúng của Viện cũng như anh
Ðường báo cho tôi biết là Hòa Thượng bệnh nặng lắm. Bác
sĩ bảo chỉ vài ngày nữa.
Tôi thưa với anh Ðường :
-
Bây giờ chỉ biết cầu nguyện. Ngoài tha lực của Phật
thì không cách nào hơn. Chúng ta mong cầu làm sao để Hòa
thượng qua khỏi đêm Giao thừa là quý rồi.
Anh Ðường nói :
- Tôi cũng mong như vậy.
Tôi thành tâm cầu nguyện trước Phật đài; đồng thời, tôi
cũng sắp đặt việc chùa và thưa trước với Phật tử của Từ
đàm là :
- Hòa thượng Ðức Niệm có thể hầu Phật bất cứ lúc nào.
Thầy mua sẵn vé trong tay. Nếu Ngài đi ngoài Tết thì
quý. Giá như Ngài đi trong tết thì quý vị theo Sư cô Trú
trì mà chu tất mọi việc. Thầy phải qua Phật Học Viện để
lo liệu.
Hàng Phật tử của Từ Ðàm chỉ biết y giáo phụng hành.
Qua khỏi Tết, rồi qua khỏi rằm Thượng nguyên Quý mùi,
lòng tôi mừng khấp khởi. Mua vé về với Thầy và ở lại gần
tuần. Trong rằm tháng hai, tôi hướng dẫn đồ chúng của
Phật học viện lạy Thù ân, sám hối và tụng Lương hoàng
Sám pháp để hồi hướng cho Thầy. Trước khi tụng, tôi thưa
với Thầy rằng :
- Nếu, trong ngày Rằm này, Thầy xả bỏ báo thân để về với
Phật thì tốt, nhưng, nếu Thầy nhắn nhủ và thị hiện điều
gì thì đến ngày 19 tháng hai, vía Bồ tát Quán Thế Âm,
Thầy hầu Phật cũng được.
Thầy cười vui vẻ.
Hằng ngày, tụng kinh bái sám cầu nguyện cho Thầy, nhưng
cũng trực tiếp sám hối cho chính mình và ở luôn bên Thầy
cho đến giờ thầy ra đi.
Cách ngày vía Quán Thế Âm, thấy thần sắc của Thầy vui và
khỏe hẳn ra, tôi định đổi vé trở lại Dallas để làm lễ.
Vé chưa kịp đổi thì chiều ngày 17, Thầy có vẻ như yếu và
muốn ra đi, tôi mặc áo và ngồi suốt bên Thầy.
Thầy bảo thì thào :
- Mặc áo hậu và đỡ tôi ngồi dậy cho trang nghiêm để nghe
chư Tăng hộ niệm.
Thầy ngồi rất nghiêm trang, vừa nghe chư Tăng hộ niệm
vừa đưa mắt nhìn từng vị một. Trong đêm 17 âm lịch nầy,
có một lúc Thầy bảo :
- Cho Thầy ăn uống một tí gì đi.
Cô Diệu Tánh lấy muỗng đút cho Thầy ăn chút bánh bông
Lan và uống nước ngọt.
Trong lúc đang ăn, tôi hỏi :
- Sao, Hòa thượng ăn thấy ngon không ?
Thầy cười và gật đầu. Tôi nghiêng tai nghe Thầy nói :
- Ngon.
Tôi cười to và Ðại chúng cùng cười lên. Lúc ấy, ai nấy
đều thấy cõi lòng của mình vui chi lạ. Và, hình như
không thấy ở nơi Thầy có một cử chỉ đau nhứt nào. Khuôn
mặt hiền hậu, dễ thương.
Có lẽ, những giây phút trong đêm 17, là ngọn lửa bùng
cháy sáng rực lên lần cuối trước khi vĩnh viễn không còn
được cháy sáng nữa. Suốt ngày 18, Thầy yếu dần nhưng vẫn
tỉnh thức. Tôi và anh Ðường cứ theo dõi và chuẩn bị mọi
thứ để sẵn sàng công bố.
Trong ngày 18 âm lịch, đúng 11 giờ, Hòa thượng Mãn Giác,
từ chùa Việt Nam lên Phật Học Viện để gặp Thầy lần cuối
cùng. Rất dễ thương trong những giây phút gặp gỡ giữa
Hòa thượng Mãn Giác và Hòa thượng Ðức Niệm. Hòa thượng
đến rất bất ngờ, làm tôi cũng bối rối. Tôi cho gọi môn
đồ của Viện, y hậu chỉnh tề, đảnh lễ Hòa thượng Mãn
giác, trước khi đưa Ngài vào thăm.
Tôi hướng dẫn Hòa thượng Mãn Giác vào bên giường, Hòa
thượng Ðức Niệm, chấp tay xá và ngài Mãn Giác nói :
- Nghe thầy bị đau, thầy ni lên thăm.
Tôi đưa tay nắm tay Hòa thượng Mãn Giác để lên tay của
Hòa thượng Ðức Niệm. Tay trong tay và bốn mắt nhìn nhau,
không ai nói với ai câu nào. Hòa thượng Mãn Giác thì
nước mắt lưng tròng, Hòa thượng Ðức Niệm thì niệm Phật
thì thào qua hơi thở không được đều lắm.
Sau gần một giờ thăm viếng, tôi tiễn đưa Hòa thượng Mãn
Giác ra xe. Trước khi ra về, Hòa thượng có nhắn nhũ dạy
bảo cho môn đồ của Viện những điều rất chân tình.
Tôi lại trở vào và bắt ghế ngồi bên cạnh Thầy, miệng
niệm Phật, mắt đưa về khuôn mặt của Thầy để theo dõi
từng phút, từng giây. Hơi thở của Thầy khi dài, khi
ngắn, khi thì thông suốt, khi thì mệt nhọc. Hai mắt bắt
đầu nhắm nghiền lại. Chốc chốc lại hé ra như muốn nhìn
hay nói lên một điều mà không thể làm được. Chúng tôi
cũng chỉ biết niệm Phật và nhìn trở lại.
Vào khoảng hai giờ rưỡi chiều, ngày 18, Ðại lão Hòa
thượng Thích Tâm Châu từ Los Angeles lên thăm. Hòa
thượng, đến đột ngột và tôi cũng bối rối, nhưng tất cả
đều thông cảm cho nhau. Hòa thượng theo tôi vào tận
giường của Thầy để thăm.
Hòa thượng Tâm Châu nhìn và niệm Phật, đồng thời, Ngài
bảo :
- Thôi thì hết duyên độ sinh thì về với Phật.
Hòa thượng nói đến đó, và liên hồi niệm Phật độ hai mươi
phút, ngài từ giã trước khi ra về, ngài còn nói thêm :
- Có Tín Nghĩa ở đây thì tôi yên tâm. Bây giờ tôi về trở
lại trên Los. Có gì Thượng tọa cho tôi hay.
Tôi dạ và tiễn Hòa thượng lên xe, rồi cũng quay trở lại
với Thầy.
Cái dễ thương đặc biệt của hai Hòa thượng là : Vị nào
cũng gọi điện thoại trước khi lên Viện thăm Thầy, nhưng,
không được. Vì trong giây phút sau cùng nầy quá sức bối
rối, cho nên không ai nhận điện thoại hoặc điện thoại
bận. Thế nhưng, nhị vị Hòa thượng vẫn bảo thị giả lấy xe
chở đi.
Hai Ngài cũng có chung một ý nghĩ như nhau là :
- Con cứ chở thầy lên thăm Hòa thượng Ðức Niệm đi. Nếu
không vào thăm được, đứng ngoài phòng nhìn vào, Thầy
cũng đủ yên tâm lắm rồi.
Bởi thế, khi có các vị vào cho tôi hay là có Hòa thượng
lên, tôi chạy ra là các Ngài đã ngồi đợi bên ngoài rồi.
Gần tám giờ tối, đêm 18, tôi cho gọi hết đồ chúng và
cung thỉnh nhị vị Hòa thượng Trí Chơn, Huyền Dung cùng
vào và đồng thanh niệm Phật. Câu Nam Mô A Di Ðà Phật
vang lên cả gian phòng. Không ai nói năng gì chỉ chuyên
một lòng niệm Phật và chăm chú vào Thầy. Hơi thở dồn
nhanh dần và có những lúc như dứt khoảng.
Tôi, thầy Minh Chí, Sư cô Diệu Tánh đồng ghé vào tai
Thầy để nói :
- Hôm nay là ngày 19 tháng hai, vía của Bồ tát Quán Thế
Âm, Thầy về với Phật là rất tốt.
Nhị vị Hòa thượng thức suốt đêm hôm đó. Ðồng hồ vừa điềm
hai giờ sáng, của ngày vía, Thầy trút hơi thở và vĩnh
viễn xả bỏ tấm thân nhỏ bé vô thường để về cảnh giới
thường tịch trong tiếng niệm Phật của Ðại chúng.
Tôi đã trực diện từ đầu đến cuối sự ra đi thanh thản của
Thầy. Thoải mái, an nhiên, hoàn toàn không bị ảnh hưởng
bởi cơn bệnh trầm trọng của Thầy. Tôi rất cảm phục. Tuy
thế, lòng tôi vẫn đau buồn thương tiếc. Ðể gói lại những
sự liên hệ giữa tôi và Thầy, tôi có những câu thơ mộc
mạc gởi đến Thầy :
Chúc Thầy
thanh thản, an nhiên,
Tây phương Thánh cảnh là miền an vui,
Thầy nay mây trắng lưng trời,
Còn tôi ở lại, đầy vơi hồng trần.
Di Ðà trì niệm chuyên cần,
Mong ngày tái ngộ tri âm cùng Thầy.
Ðám tang của Thầy được Giáo hội tổ chức trọng thể. Ðây
là đám tang lớn nhất xưa nay tại hải ngoại kể từ khi có
làn sóng vượt biển 1975.
Tỳ Kheo THÍCH TÍN NGHĨA