Tách Trà Còn Nóng
Thích
Tín Nghĩa
---o0o---
Hôm
nay Chủ nhật, ngày 14 tháng 10 năm 1990 tức là ngày 26
tháng tám năm Canh ngọ; tôi trang hoàng một bàn thờ đơn
giản trước chánh điện để làm lễ tưởng niệm Hòa thượng
Thích Thiện Minh lần thứ 12; trước ngày 17-10 là ngày mà
Ngài đã đem cái thân xác vô thường để đổi lấy cái Tự do,
Công bằng, An lạc cho Dân tộc và Đạo pháp trong ngục tù
Cộng sản Việt nam.
Ngày giỗ của Ngài năm nào tôi
cũng nhớ và cũng chưng dọn bàn thờ để được đảnh lễ trước
di ảnh của Ngài. Có năm thì làm đông đảo có Phật tử, tín
đồ đến tham dự, có năm thì tôi làm khiêm tốn nhưng không
kém phần trang nghiêm. Tuy thế, chưa năm nào bỏ quên.
Những lúc đi chứng minh, chủ tọa Đại hội cho tổ chức Gia
đình Phật tử, tôi đều khuyến khích anh chị em trong tổ
chức nên thiết lễ tưởng niệm ngài Thiện Minh và hiệp kỵ
cho hầu hết anh chị em Huynh trưởng và đoàn sinh trong
Gia đình Phật tử quá cố.
Mỗi một lần làm lễ tưởng niệm
như thế, một vị Huynh trưởng đại diện thường đọc điếu
văn cả. Năm nay quá bề bộn công tác Phật sự, nên không
điếu văn, cũng không quy tụ các Gia đình Phật tử địa
phương cùng đến tham dự được.
Sau khi đảnh lễ Ngài chín lạy
xong, tôi quỳ xuống trước di ảnh và cung kính pha tách
trà để cúng dường.
Nhìn tách trà đang nóng, đang
bốc hơi và đang từ từ đầy lên; tôi hồi tưởng những năm
về trước đây khi còn ở quê nhà và Ngài còn mang cái xác
thân hữu hạn ấy trên trần thế nầy.
Cuộc đời của tôi mặc dầu theo
làm thị giả Ngài cũng nhiều lần khi còn là một chú tiểu;
nhưng, khi bắt đầu lớn lên và biết khôn thì tôi được cái
diễm phúc khó quên ba lần theo sát với Ngài.
* Lần thứ nhất 1965:
Sau khi cách mạng 01-11-1963
thành công, Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất ra
đời. Ngài là vị Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Thanh niên, Sinh
viên, Học sinh và Gia đình Phật tử. Ngài đi thăm đó đây
trên khắp lãnh thổ miền Nam Việt nam. Nơi nào có tổ chức
Thanh thiếu niên, có tổ chức Gia đình Phật tử là Ngài
đều có mặt. Tuyến đường cuối cùng là Thừa Thiên và Quảng
Trị (Quảng Trị là sanh quán của ngài).
Chuyến ra Huế ngài ở lâu nhất.
Ngài đi thăm hầu hết các Tổ đình. Ngài cùng chư vị Đại
Tăng thọ trai tại Tổ đình Trúc Lâm. Tôi làm thị giả.
Trong bữa cơm đạm bạc ấy, chư Đại Tăng cùng hàn huyên
với nhau qua câu chuyện Pháp nạn 1963. Câu chuyện khi
bổng khi trầm. Tôi thỉnh thoảng lại phải quanh để hầu
cơm quý ngài. Khi đến sau lưng Thượng tọa Thích Thiện
Minh, tôi đưa tay ra đỡ cái chén để đơm cơm, Ngài nhìn
tôi miệng mỉm cười rồi bảo:
“Các chú cố gắng lo tu
học nhiều đi, các Thầy lớn bây giờ phải gánh vác việc
Giáo hội từ trung ương đến địa phương, nên rất ít có thì
giờ để trực tiếp giảng dạy như ngày xưa được. Các chú
nên theo những gì chúng tôi đã làm, đang làm để mai sau
thay thế chúng tôi mà lo cho Đạo, cho Dân và cho Tổ
quốc, ...”.
Tôi chỉ nghe được đến đây thì
một sư huynh trong chùa nhờ tôi chỉ cách pha trà. Bữa
cơm đạm bạc ấy vẫn diễn ra trong bầu không khí đầy thiền
vị của chốn già lam Trúc Lâm.
Sau giờ nghỉ trưa xong, tôi
tiếp tục hầu trà và các Ngài cũng từ từ lên xe về lại Từ
Đàm.
* Lần thứ hai:
Pháp nạn 1966 lại diễn ra một
lần nữa. Chư Tăng Ni và Phật tử phát nguyện tự thiêu
thân để cúng dường cũng như để bảo vệ Chánh pháp. Thượng
tọa Thích Trí Quang vào tĩnh đường để tuyệt thực. Thượng
tọa Thích Thiện Minh lại phải vào Sài Gòn để trực tiếp
điều khiển cuộc tranh đấu. Trước khi ra đi, Ngài cũng
dùng cơm với chư Đại Tăng ở Tổ đình Từ Đàm - Huế và tôi
cũng được làm thị giả.
Trong bữa cơm nầy, Ngài cũng
trong cốt cách ung dung tự tại của một thiền sư. Tuy
thế, thỉnh thoảng Ngài cùng với chư Đại Tăng phải thở ra
những giây phút não nề cho vận nước và của Đạo pháp.
Ngài bảo nhỏ:
“Chúng ta nào có ưa
tranh đấu hay giành quyền làm gì, chúng ta chỉ muốn làm
sao Dân thì được no cơm ấm áo và có một trình độ văn hóa
trung bình. Còn Đạo pháp thì được tự do bình đẳng như
nhau”.
Bữa cơm chưa xong, một công
điện của Giáo hội trung ương đánh ra, nội dung ra sao
thì tôi không được biết. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ là cần
Thượng tọa Thiện Minh vào gấp Sài Gòn. Quý Đại Tăng từ
giã nhau, tôi theo chân bổn sư vào lại Trúc Lâm.
Chính phủ dân cử được thành
hình như nguyện vọng của toàn dân và Phật giáo. Thượng
tọa trở lại cố đô Huế để thăm. Phật Đản 1971 lại trở về
với người con Phật. Tôi lên đường làm Sứ giả Như lai để
về chứng minh và thuyết giảng các lễ đài thuộc quận Vinh
lộc theo sự yêu cầu và thỉnh mời của Thượng tọa Thích
Lưu Đức, lúc bấy giờ là tọa chủ Túy Vân Quốc tự và cũng
là chánh đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
tại quận nầy.
Sau ba ngày đại lễ đã xong,
tôi trở lại Từ Đàm để tường trình công tác Phật sự trong
những ngày qua lên tỉnh hội. Xe đi ngang qua trường Quốc
Học, mọi người xôn xao chạy lui chạy tới và hô lớn:
“Tự thiêu, thầy tu tự
thiêu”.
Trong cảnh ồn ào náo nhiệt ấy,
đa phần là tuổi trẻ cứ chạy Honda lung tung. Nhóm nầy
hoan hô, nhóm kia đả đảo.
Anh Phan Văn Gái, một sĩ quan
quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà là huynh trưởng của Ban
hướng dẫn GĐPTVN tại Thừa Thiên - Huế, nói lớn:
“Cái gì còn có đó, còn
có lệnh thượng cấp là Giáo hội, các anh không nên làm
loạn. Làm như vậy là bị bọn cộng sản nằm vùng lợi dụng.
Làm vậy là có lợi cho cộng sản. Các anh phải vâng lời và
tuân theo chỉ thị của Giáo hội, các anh phải ...”
Tôi chỉ nghe được đến đây mà
thôi, vì người quá đông. Câu nói của anh Phan Văn Gái
rất có giá trị. Tuy thế, sau khi anh bị đi cải tạo,
người ta đem câu nói ấy ra tại trại một lần nữa. Và anh
đã đem cái dũng của Phật giáo ra để xác nhận là anh đã
nói như vậy.
Tôi về đến Từ đàm thì mới biết
chú Sa di Chơn Thể tu tại Tổ đình Tường Vân đã phát
nguyện tự thiêu để cầu nguyện hòa bình, cầu nguyện cho
đạo pháp trường tồn và cho dân tộc sớm được no cơm ấm
áo. Một ngày bố tát của Chư Tăng bản tỉnh Thừa thiên tại
Tổ đình Linh quang, trước khi lễ Thượng tọa Thích Thiện
Minh xin chư Tăng có một vài lời giải thích việc làm của
Giáo hội trong những ngày tháng vừa qua.
Trước chánh điện Linh Quang,
trước chư Tăng, trong sắc phục của Như Lai với chiếc
kính màu đen, với chiếc gậy chống bên cạnh. Ngài lúc nào
cũng phải chống gậy vì bị Tổng thống quân phiệt Nguyễn
Văn Thiệu cho nhân viên ném lựu đạn để ám sát Ngài,
nhưng Ngài chỉ bị thượng nặng ở bàn tọa chứ không chết.
Vì thế, Ngài ngồi thấp không được mà phải đứng hàng giờ
để nói chuyện.
Cũng vì Ngài bị bể bàn tọa nên
tờ Sóng thần đã đăng hàng tít lớn ở trang đầu rất tiếu
lâm do Chu Tử viết có câu như sau:
- “Thượng tọa bể bàn
tọa”.
Nhưng sau đó, ông nhà báo nầy
có tên là Chu Văn Bình với bút hiệu Chu Tử cũng tranh
đấu, cũng xách bị xuống đường rồi cũng bị nhà cầm quyến
đương thời đàn áp.
Luật nhân quả đến với ông ta
là bị thương ở mặt, rồi cũng bị quần chúng đặt lại một
vế đối để đối lại như sau:
- “Văn bình sức miệng
bình”.
Trong dáng đứng khấp khỉnh
nhưng rất uy nghi, Ngài chậm rãi nói như sau:
- “Kính thưa quý thầy,
chúng ta là hàng đệ tử Phật, chúng ta lại là con dân
nước Việt, chúng ta không thể làm ngơ khi đất nước điêu
linh, dân chúng lầm than và đạo pháp lâm nạn.
Vấn đề tự thiêu của chú
Sa di Chơn Thể là một sự hy sinh vô cùng cao đẹp. Rất
tiếc là chú hy sinh còn quá trẻ, chưa đến lúc phải hy
sinh thân mạng như thế. Tôi thưa với các thầy trẻ hiện
diện hôm nay rằng: Việc gì cũng phải suy nghĩ chín chắn,
còn có Giáo hội, còn có chúng tôi. Việc đất nước và đạo
pháp là việc chung, rất trọng đại. Một ngày nào đó, các
thầy các chú cũng phải thay nhau gánh vác. Lớp nầy nằm
xuống thì lớp kia đứng lên. Lúc nào cũng đem, tâm nguyện
tu hành và lợi tha mà hành hoạt thì Phật tổ sẽ gia hộ
cho chúng ta, hồn thiêng sông núi cũng chứng tri cho
chúng ta.”.
Vì còn thì giờ dài để chư Tăng
làm lễ Bố tát, nên Thượng tọa thăm hỏi vắn tắt và từ giã
để đi vào thăm bổn sư là Hòa thượng Đệ nhị Tăng Thống
cùng Tổ đình Thuyền Tôn.
Trong lúc đi cùng gồm hai xe.
Xe trước do cố Thượng tọa Thích Thiện Lộc làm tài xế chở
Ngài Hòa thượng Thích Thiện Siêu, xe sau do Hòa thượng
Thích Mật Hiển tự lái lấy, tôi cũng được tháp tùng làm
thị giả.
Xuống xe, các ngài từ từ tiến
về cổng chùa. Thượng tọa Thích Thiện Minh đã than:
- “Bậy thiệt, răng Ôn
lại cho xây cái hồ ngay trước chùa sâu như cái hố rứa
không biết?”.
Thượng tọa Thiện Lộc trả lời:
- “Thiện Tấn xây, chứ ai
nữa.”
Các Ngài chỉ thở dài và cùng
vào hầu Ôn Thuyền tôn. Trà là xong xuôi, Ngài cùng với
Hòa thượng Thiện Siêu thưa chuyện với Ôn như sau:
“Ôn cho đào cái hồ trước
cổng chùa như rứa, không có lợi cho Tăng chúng, không có
lợi cho môn phái lắm đó.”.
Ôn Thuyền Tôn day:
“Cái chú Thiện Tấn, nó
xây đó. Tôi nói mà nó không chịu nghe. Nó nói, nó xây hồ
Quán Âm.”.
Quý Ngài đi thăm trong chuyến
ấy cũng đồng ý là không nên đào sâu như thế. Cuối cùng
là cái hồ bị bỏ dở.
* Lần thứ ba 1976:
Sau khi cộng sản chiếm miền
Nam Việt Nam. Tất cả phải lập lại cuộc đời, trong đó có
Tăng Ni. Tôi cùng với chư Tăng Giáo hội Đà Nẵng và một
số Phật tử khác đứng ra lập một tổ hợp xe đạp lấy tên là
Tổ hợp Đoàn Kết. Thượng tọa Thích Minh Tuấn là Giám đốc,
tôi làm Quản lý. Vì công tác chung nên phải thay phiên
nhau vào Sài Gòn để mua vật liệu. Tôi được đề cử đi
trong chuyến thứ ba thượng tuần tháng 6-1976.
Ở lại hai ngày tại chùa Già
Lam. Tôi được Hòa thượng Thích Trí Thủ cho phụ làm nấm
với thầy Nguyên Giác, tức thầy Nguyễn Khắc Dũng cùng học
ban Tú tài năm xưa
(bây giờ đang
ở tù với thầy Trí Siêu và Tuệ Sỹ).
Trời về chiều, Thượng tọa Thích Thiện Minh đến thăm Ôn
Già Lam và tu viện. Khi nghe Thượng tọa đến, Hòa thượng
đã mặc áo vàng chế trà sẵn để đãi Thượng tọa.
Nhưng không biết tại sao khi
Thượng tọa đến gần cây vú sữa và tháp chuông của Già
Lam, Ngài đứng lại. Trong lúc ấy, các thanh niên Tăng
từ từ bao quanh Ngài. Ngài ngồi trên bậc gác chuông để
nói chuyện với anh em Tăng trẻ. Ngài nói hết giờ nầy qua
giờ khác, mặc dầu Hòa thượng đã cho chú thị giả cho ra
mời hai ba lần.
Ngài ung dung tự tại và chậm
rãi nói nhu sau:
- “Đất nước và Đạo pháp
còn gánh chịu nhiều cam go hơn nữa”.
Ngài nói chưa hết câu thì một
vị Tăng trẻ thưa:
- “Thưa Thượng tọa, hay
Thượng tọa nên tạm lánh ra nước ngoài một thời gian, sau
đó tìm cách xoay xở. Dù sao ở bên ngoài cũng có thì giờ
tự do hơn.”.
Vị Tăng trẻ nói đến đây, Ngài
nói tiếp ngay:
- “Các chú phải biết,
Thầy đi ra ngoài lúc nào cũng được. Tuy nhiên, Thầy
không thể bỏ Giáo hội, bỏ Đạo pháp, bỏ quý Thầy, bỏ Dân
tộc và bỏ Quê hương trong lúc nầy được. Lúc nầy là lúc
mình phải có trách nhiệm. Nếu cần đổi mạng sống để có
tất cả như Thầy vừa kể, Thầy cũng an tâm hoan hỷ. Các
chú phải biết: ra ngoài là mình nhục nhã lắm. Họ sẽ xem
mình ra gì nữa. Mình không thương dân mình thì làm sao
họ thương dân mình”.
Câu chuyện anh em Tăng trẻ
thưa qua, Thượng tọa dạy lại. Thượng tọa nhắn nhủ rằng:
- “Các chú cố gắng mà
thương Đạo, thương Quê hương dưới mọi hình thức. Ai còn
tu hay không, còn giữ được áo cũng thế cả.”.
Anh em có mặt trong chiều hôm
ấy chỉ biết im lặng và ngoan ngoãn cúi đầu nghe những
lời giáo huấn đó.
Thượng tọa ngồi tâm sự với anh
em mất ba tiếng đồng hồ. Cuối cùng Hòa thượng Thích Trí
Thủ phải đích thân ra mời và trên tay còn có một tách
trà còn nóng. Thượng tọa thương kính trước cung cách của
Hòa thượng Thích Trí Thủ như thế, Ngài đành từ giã anh
em Tăng trẻ.
Đó là lần cuối cùng của đời
tôi được gặp Ngài. Ngày mai tôi trở lại Đà Nẵng và vài
tháng sau, tôi từ giã Đà Nẵng và trở về Huế để hầu hạ
Bổn sư.
Một tin sét đánh ngang tai,
khi tôi nghe đài BBC cho hay là Thượng tọa Thích Thiện
Minh, một chính trị gia lỗi lạc của khối Phật giáo Ấn
Quang đã bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam bức tử trong
lao tù tại Sài gòn.
Cũng từ đó, tôi tìm đường lánh
nạn ra hải ngoại đến Denver, tôi tại dựng đoàn Thanh
Niên Học Phật Thiện Minh. Ở Lyon, Pháp quốc, Thượng tọa
Tánh Thiệt cũng lập ngôi chùa mang tên Thiện Minh. Ở
California, Gia đình Phật tử cũng lập miền Thiện Minh.
Và hằng năm, tất cả những ngôi chùa Việt Nam ly hương
trên thế giới cũng tưởng niệm Hòa thượng Thích Thiện
Minh, trong đó có Tổ đình Từ Đàm Hải Ngoại với tách trà
còn nóng để tưởng nhớ đến hạnh nguyện vô úy của Ngài.