Please press HOME to go back to the main web page

HOME
Đạt Ma Huyền Trang


ĐẠT MA HUYỀN TRANG

ĐẠT MA HUYỀN TRANG

 

 

*

*   *

 

Ngài Huyền Trang

(596 – 664)  *

 

 

1.-  Thông minh từ tấm bé,

2.-  Đi vào Trung tâm Văn hóa Phật giáo,

3.-  Bước đường gian lao,

4.-  Cuộc tranh luận giaó lý tại Kucha,

5.-  Gặp Đại Hãn :  Vua Sa mạc,

6.-  Thiếp xúc Bái Hỏa Giáo,

7.-   Đường về xứ Phật,

8.-   Vùng hà khắc,

9.-   Bảo tố liên miên,

10.- Xứ êm đềm,

11.- Tim lại thời vàng son Phật giáo :

            *.-  Tại Peshawar,

            *.-  Tại Kashmir,

12.- Dọc sông Hằng,

13.- Nguồn sử liệu,

14.- Huyền Trang đi vào Tây Ấn,

15.- Viếng Nhật Vương,

16.- Phân tích Tây Du Ký,

18.- Công trình và hành trình của Ngài.

 

 

(*)  Theo cuốn “2,500 years of Buddhism”. Bộ Thông tin Ấn xuất bản thì Ngài sinh năm 602.

 

 

*

*   *

 

Ngài Huyền Trang

 

 

1.- Thông Minh Từ Tấm Bé :

 

Ngài Huyền Trang sinh tại Lô Giang năm 596, dưới thời nhà Tùy. (Có sách ghi là 602). Ngài thuộc vào gia đình vọng tộc. Vì Tổ phụ (Ông nội) thi đỗ Á nguyên. Vị Tổ khảo (Thân phụ) thi đỗ Tam trường. Vì vậy, ước vọng của thân phụ ngài chỉ mong sao cho con mình nối nghiệp tông đường.

 

Tuy nhiên, hoàn cảnh xã hội và biến chuyển của cuộc đời lại đưa đẩy Ngài vào con đường khác. Sư thay đổi từ tôn giáo cho đến hành sự. Sử chếp rằng :

-  Vào cuối đời nhà Tùy, chiến tranh xảy ra liên miên và tàn khốc. Xã hội ly loạn. Đã vậy, Khổng Giáo trong thời kỳ nầy lại thiên về ngành học hư văn, từ chương, giáo điều. Chính trị và xã hội bị biến loạn.

 

Năm 604, Ngài học kinh sách của Không tử. Tuy còn nhỏ, Huyền Trang đã tỏ ra có tinh thần phê phán rất nhạy bén và sâu sắc, trong phạm vi của mình. Đó la 2lề lối đả kích tín điều chủ nghĩa.

 

Cha Ngài bảo :

-  Cậu bé nầy thông minh, thâm trầm, nhưng vẫn chưa vào khuôn phép. Nếu khéo uốn nắn, chắc chán mai sau lớn lên, thành đạt và làm quan, sẽ kế thừa sự nghiệp của tổ tông.

 

Nhưng năm đó, chiến tranh tràn đến quê nhà của ngài, nên gia đình phải thiên cư về vùng núi.

Anh của ngài là một vị sư, xuất gia từ lúc còn nhỏ, thuộc môn phái Duy Thức Học. Chính trong thời gian đi lánh nạn nầy, Huyền Trang bắt đầu nghe thuyết giảng và tìm hiểu dần dần về giáo lý của Phật Đà.

 

Ngài thường đi chiêm bái nhữngngôi chùa cổ ở Trung Sơn, Huyền Trang thệ nguyện sẽ xuất gia vào lúc 13 tuổi. Cũng vào trong thời gian chuẩn bị nầy, Ngài bắt đầu nghiên cứu tư tưởng triết học Ấn Độ và cũng đã sớm lãnh hội được các yếu lý căn bản trong những hệ thống phức tạp của các giòng tư tưởng nầy.

 

2.-  Đi Vào Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo

 

Trong thời gian tu học, Huyền Trang bắt đầu học tiếng Phạn. Ngài từng nhấn mạnh :  Cần phải tìm hiểu giáo lý từ gốc. Hơn nữa, các lời kinh rất súc tích, hàm dưỡng, phân tích từ nguyên bản, mới tránh được những mập mờ, sai lạc.

 

Năm  618,  16 tuổi, chiến tranh kết thúc. Huền Trang đến Tràng An (Bây giờ là Thiên An phủ). Đây là một trong những trung tâm Phật Giáo ở vùng Viễn Đông. Vua Đường chăm lo kiến tạo chùa chiền, cung thỉnh các vị Cao Tăng về thành đô. Kinh Phật được dịch thuật và ấn hành để phổ biến sâu rộng. Đây là một trong những thời kỳ vàng son của Phật Giáo Trung Hoa.

 

Trong thời gian tiếp xúc với nhiều tông phái khác nhau, Huyền Trang nhận thấy :  Các cuộc sai biệt, có khi mầu thuẩn, nguồn gồc chưa quán triệt được nghĩa lý trong kinh Phật. Vì vậy, lề lối giải thích mỗi tông phái mỗi khác nhau ;  muốn kiểm định, Ngài cố tìm về nguyên bản tiếng Phạn, mới nhận thấy sự giải thoát của Thế Thân đã trải qua một cuộc hiệu đính như thế. Cũng chính từ những thao thức nầy, Ngài nảy sinh ra ý định phải sang tận xứ Phật để tìm về nguồn gốc. Có vậy, sau nầy mới có thể chấn hưng Phật Giáo, tránh tranh chấp, làm nền tảng vững chắc cho Phật Giáo Trung Hoa.

 

Tuy nhiên, khi Ngài đưa những ý kiến đó trình lên vua Đường thì bị chối từ ngay. Điều nầy cũng không làm cho ngài nản lòng và chùn bước. Vì tương lai của đạo pháp, vì theo hạnh nguyện và tâm niệm tu trì, ngài vẫn đi theo con đường mà ngài đã hoạch định sẵn.

 

Trong cuốn “Đường Tăng Tây Du Ký” (Quan Hải tùng thư xuất bản năm 1832) có đoạn :

-  Đường sang xứ Phật chắc chắn xa xôi và nguy hiểm chồng chất. Có thể bị mất mạng. Có thể không có ngày về. Nhưng tính mạng không có gì là quan tâm. Ngược lại, nếu cuộc Tây Du viên thành, hậu quả thật tốt lành và to lớn. Đạo phát sẽ được phát huy, Phật Giáo sẽ được thống nhất. Văn hóa Trung Quốc sẽ được thay đổi.

Khi nghe Ngài cương quyết ra đi, nhiều bạn bè và Phật tử đến ngăn cản. Họ viện dẫn những chuyện ra đi bị thất bại của lớp người trước. Họ cho rằng công việc quá sức con người. Nhưng ngài im lặng, để tính toán việc du hành cam go và xa xôi nầy. Đến đêm 01 tháng 02 năm 629, Huyền Trang bí mật lên đường Tây du.

 

 

3.-  Bước Đường Gian Lao

 

Con đường từ Tràng An (Thủ phủ của Sơn Tây) đi đến Ấn Độ, ngài Huyền Trang phải vượt qua mười hai chặng đường vô cùng gian nguy. Ngài đã phải băng qua nhiều rừng, núi, sông, ghềnh, thác lũ và nhất là sa mạc :

            1.-  Suchow,

            2.-  Hami,

            3.-  Turfan,

            4.-  Kara-Shahr,

            5.-  Bai,

            6.-  Tashkend,

            7.-  Mamarkand,

            8.-  Balk,

            9.-  Samiyan,

            10.- Kabul,

            11.- Peshawar,

            12.- Sau cùng là Đô thị Lahore.

 

Chặn đường đầu tiên là băng qua sa mạc Golbi. Vùng nầy toàn là rừng già trùng trùng điẹp điệp, sau đó là sa mạc nóng bỏng. Nhưng nỗi nguy khốn đến tính mạng luôn luôn bị rình rập. Có một lần, len lỏi trong rừng già, không một dấu chân người bộ hành, Ngài bị lính biên phòng bắn một mũi têm cắm phập vào đùi, máu ra lai láng. Ngài cố tìm lá cây để đắp vào vết thương bị làm độc. Ngài đành dừng lại, không vượt qua được. Nhưng chí sắt son đã làm cho ngài vượt thắng qua được tất cả.

 

Trên sa mạc bao la, chỉ một bóng ngài trải dài một cách cô độc ;  không một kẻ đồng hành hay dân bản xứ hướng dẫn.

Rồi cũng đến được thị trấn Hami. Vua nước Turfan (Còn gọi là Kaochang) một tín đồ Phật Giáo thuần thành, sai sứ thần ra tiếp rước ngài.

 

Trong cuốn Đường Tăng Tây Du Ký, có đoạn chép :

-  Turfan quả là một trung tâm văn hóa, chính trị, xã hội của vùng sa mạc Golbi. Đây là vùng giao liên, trên con đường du hành của đông và tây, cho nên tiếp thu rất nhiều giá trị tinh thần văn minh của xứ người một cách sâu đậm. Dân chúng ở vùng nầy nói thổ ngữ Tocharian. Dân chúng đa số là tín đồ Phật Giáo, nên nề nếp sống rất thuần thục. Tinh thần tín ngưỡng rất cao. Ngày trước, đức Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa (theo truyền thuyết) theo con đường nầy, có dừng lại Turfan.  (Trang 212 – 213).

 

Vị vua cai trị xứ Turfan la Chu Wen Tai (620 – 640) vốn thuộc giòng Trung Quốc. Đây là chư hầu của xứ Tukish-Khan, nhưng vẫn có nhiều liên hệ chính trị, văn hóa với Đường Thái Tông (Trung Quốc). Cuộc tiếp đón ngài Huyền Trang rất trọng thể. Tại đây, ngài đã thuyết pháp cho vua chúa, quần thần nghe và rõ ý nguyện của ngài trong chuyến Tây du. Mọi người đều mến phục ý chí cao cả và mục đích lớn lao vì đạo pháp của ngài. Ngài Huyền Trang đi hành hương các ngôi chùa cổ danh tiếng ở Turfan suốt trong thời gian lưu trú.

 

Vua Chu Wen Tai ngõ ý muốn mời ngài ở lại, giúp cho đạo pháp, ở Turfan, giảng giải giáo lý cho triều đình ;  đồng thời, lãnh đạo giáo hội tại đây. Các vị Cao Tăng, các danh sĩ, các bậc tôn giả cũng đến gặp ngài, khẩn khoảng mời ngài lưu lại để diễn giảng giáo lý, thống lãnh giáo hội, nhưng ngài nhứt mục từ chối :

-  Tôi chỉ theo một tâm nguyện của đời mình, là đi tìm những lời kinh vàng ngọc đích thực của đức Thế Tôn.

Nếu mục đích nầy thành đạt, thì giá trị thật to lớn và ảnh hưởng lâu dài.

 

Vua Chu Wen Tai buồn bả đáp :

-  Quả thật, Ngài đã có một hướng đi vững chắc, không thay đổi. Di chuyển ngọn núi Pamir còn dễ hơn là di chuyển ước vọng của ngài.

 

Cuối cùng, ngài chỉ xin thức ăn nội trong ba ngày đường. Nhà vua cảm động đến rơi nước mắt, không nở rời, xin ngài ở lại trọn tháng. Huyền Trang chấp thuận lưu lại và đem những điều sở đắc căn bản nhất để giảng lý đạo mầu suốt thời gian nầy. Trước khi chia tay, nhà vua còn tận tình viết nhiều thư giới thiệu với các quốc vương quen biết trên chặng đường mà ngài sẽ đi qua vùng Trung Á.

 

Tuy vậy, Huyền Trang vẫn cố tránh những sự phí phạm thời gian suốt dọc cuộc hành trình, cốt để đi theo hướng mình đã vạch.

 

 

 

*

*   *

 

 

4.-  Cuộc Tranh Luận Giáo Lý Kucha

 

 

Sau khi âm thầm rời khỏi Turfan, vào ban đêm, để tránh những cuộc tiễn đưa phiền toái của nhà vua Chu Wen Tai và triều thần, ngài đi về phía tây, đến đô thị Kars-Shart. Dân chúng vùng nầy cũng nói thổ ngữ Tocharish.  Tại đây có vào khoảng một trăm ngôi chùa lớn và chừng khoảng hai ngàn vị Tăng theo Tiểu Thừa Giáo. Dân chúng nghe danh tiếng ngài Huyền Trang, nên đã chuẩn bị cung đón. Tuy vậy, Ngài vẫn âm thầm đến một mình, không một ai hướng dẫn, để tránh sự tiếp xúc. Ngài chỉ nghỉ lại một tối. Sau đó, tiếp tục ra đi đến đô thị Kucha.

 

Kucha là trung tâm quan trọng của vùng Trung Á trên mọi lãnh vực. Cuốn Đường Tăng Tây Du Ký, có đoạn nói về thời gian ở Kucha và những cuộc tiếp xúc tại đây như sau :

-  Kucha, là một ốc đảo. Chung quanh là dân tộc Turo-Mougols. Họ là những thiện chiến, suốt ngày trên yên ngụa, luôn luôn tìm cách để bành trướng ảnh hưởng. Lúc đó, theo tục lệ của Tocharian, thì ngài vàng của Kucha của vua cha Suvarna-Purpa là Suvarna-Deva. Chung quanh vị tân vương nầy có năm ngàn vị sư sãi lãnh đạo tinh thần và giúp việc triều chính. Đây là một trung tâm Phật Giáo Tiểu Thừa. Kucha có những liên hệ ngoại giao và chính trị với Đường Thái Tông.

 

Trong khoảng thời gian lưu lại tại kinh thành Kucha, mngài Huyèn Trang có tiếp xúc và nghiên cứu, tham luận giaó lý đức Phật vói các vị Cao Tăng ở đây. Họ không thống nhất một số quan điểm với ngài Huyền Trang. Tuy vậy, điều nầy đã không gây một trở ngại nào trong việc giao hảo. Vi Tăng Thống (Moksa-Gupta) tại Kicha, luôn luôn quý trọng và tán thán công trình du hành và việc tham bái của ngài. Trong cuốn Đường Tăng Tây Du Ký có chép :

-  Suốt hai tháng ở đây, phần thì dùng để tìm hiểu về quan điểm dị đồng giữa các tông phái, phần thì để đợi chờ thời tiết thuận tiện, bớt hà khắc, tôi chợt thấy có một điều căn bản :

-  “Chủ trương :  Giới luật tuy khác nhau, nhưng quả thật, nền văn hóa Phật giáo bành trướng tại tiểu quốc nầy đã tạo cho con người hoang dã một nếp sống thuần thành, sâu sắc và độ lượng.”.

 

Vua Kucha tiễn đưa ngài rất trọng thể khi chia tay. Vua tặng ngựa, lạc đà, nhưng ngài từ chối. Vua đã cho người hộ tống đến tận biên giới. Các vị sư, tín đồ cũng tiễn đưa ngài.

 

 

*

*   *

 

 

5.-  Gặp Đại Hãn :  Vua Sa Mạc

 

 

Bây giờ là mùa bão tuyết. Khí hậu vô cùng khắc nghiệt. Trên lột trình, không có chỗ nào có thể dừng chân nghỉ ngơi được. Thực phẩm thiếu thốn. Nhiệt độ xuống rất thấp. Ngài vẫn ung dung chống gậy độc hành. Huyền Trang tiếp tục đi về hướng tây. Vùng nầy toàn là dốc đá cheo leo, địa thế vô cùng hiểm trở. Cảnh trí thật hùng vĩ. Nhiều dãy núi chọc trời chắn ngang, khó lòng vượt qua được (Ngày nay cát nhà thám hiểm lừng danh trên thế giới đang tìm cách chinh phục các ngọn núi nầy).

 

Ngài vượt qua vùng Bail, tiến đến hồ nước ấm Issyk-Rul. Tại đây, có nhiều doanh trại của Đại Hãn, cát cứ một phương (Vua đóng quân tại vùng nầy từ năm 630).

 

Năm mươi năm về trước, Đại Hãn đã từng được một nhà sư từ Gandhâra đến truyền dạy (Vị sư tên Jina-Gupta). Vì vậy, vị vua nầy luôn luôn ngưỡng mộ Tăng sĩ và hấp thụ sâu xa về nền văn hóa Phật Giáo, ngay cả trong lúc hành quân. Đó cũng là một truyền thống tốt đẹp của những vị vua Đại Hãn triều đại về trước.

 

Cuộc trường chinh đã đưa nhà vua xa dần vùng đất Phật ở Gandhâra. Vì vậy, khi gặp ngài Huyền Trang, vua Đại Hãn đón tiếp rất trọng vọng. Vua tổ chức một tiệc chay để đãi ngài, có cả triều thần, sứ giả đến. Sau tiệc nầy, ngài Huyền Trang đăng đàn thuyết pháp.

 

Đại Hãn thưa :

-  Đây là ngày sung sướng và thanh thoát nhất trong thời hoạt động, chinh chiến và suy nghiệm của tôi. Trước mắt tôi là một nhân vật thần kỳ, tượng trưng cho sự tha thiết tìm chân lý, tha thiết với tiền đồ Phật Giáo ở Đông Phương, tha thiết với công cuộc chấn hưng và thống nhất (ít ra trên đại thể) một số tông phái đã phân hóa. (Đường Tăng Du Ký).

 

Nhà vua tìm đủ mọi cách để lưu giữ cho bằng được ngài Huyền Trang, viện dẫn :  Cần trùng hưng nền Phật Giáo trong những tương quan và tranh chấp tư tưởng, tín ngưỡng hiện nay. Ngài nói rõ ý nguyện duy nhất của một chuyến viễn du đầy tân khổ nầy. Vua Đại Hãn đã sai đội hậu vệ để tiễn chân ngài qua hai vùng rất hiễm trở nhất là Pamirs và Bactria.

 

 

 

*

*   *

 

 

6.-  Tiếp Xúc Bái Hỏa Giáo

(Tại Samarquand)

 

 

Samarquand (ngày nay có tên là Marakanda) là chặng đường khó khăn nhất trong chuyến hành trình của ngài Huyền Trang. Nhất là những sự va chạm về mặt tư tưởng.

Samarquand vốn là kinh đô của tiểu quốc Sogdiana. Ngài Huyền Trang phải nấng ná ở đây một thời gian, trong cuộc phát huy tư tưởng Phật Giáo.

 

Có hai lý do :

1.-  Samarquand là chặng đường cuối cùng trong cuộc bành trướng ảnh hưởng tư tưởng và tôn giáo giữa hai nước Ấn Độ và Trung Hoa. Đây cũng là ngã ba đường thông thương giữa Tiểu Á và Viễn Đông. Vì vậy, trong cuộc giao tiếp nhiều nguồn tôn giáo khác nhau, Samarquand vốn là vùng tranh chấp.

 

2.-  Samarquand vốn cũng là vùng pha trộn giữa Bái Hỏa Giáo và Phật Giáo. Cũng vì vậy, Phật Giáo dễ bị đi vào mê tín, phù chú (Tantrisme) dị đoan.

 

Vì tính chất quan trọng đó, ngài Huyền Trang cố tìm lại giá trị cần thiết của đạo pháp. Một mặt, ngài thuyết pháp để phân biệt chơn giả. Một mặt ngài tổ chức truyền giới cho một số đông Tăng sĩ. Chùa chiền được củng cố lại, loại bỏ những phần của huyền học.

 

Sự thành tựu nầy mở đầu cho cuộc tranh cải, ít ra trên cơ sở, tổ chức và tinh thần Phật Giáo tại Samarquand.

 

*

*   *

 

 

7.-  Đường Vào Xứ Phật

 

 

Lẻ ra, ngài Huyền Trang (theo tập Du Ký) còn lưu lại Samarquand trong một thời gian nữa, vì công cuộc tổ chức lại Phật Giáo ở đây chưa hoàn chỉnh. Ngài đành lên đường để tiếp tục cuộc hành trình.

 

Đi về phía nam, ngài phải vượt qua những rặng núi vô cùng hiểm trở. Đây là địa giới cuối cùng của đế quôc Thổ. Vùng nầy mệnh danh là cổng sắt (Gate of Iron), phân tranh của hai nền văn hóa.

 

            Đường vào xứ Phật còn nhiều cam go. Vượt qua giòng Oxus hiểm nghèo. Ngài tiến vào địa phận của Bactria, mệnh danh là Ngưỡng Cửa Vùng Đất Phật.  Ở đây vừa mới xẩy ra một cuộc soán vị.

 

Nguyên là hoàng hậu của xứ Bactria vừa từ trần. Nhà vua cưới nàng công chúa khác (Tarfu) sau đó. Thế là nàng Tarfu yêu tình nhơn hơn là vua Tradu-Shad. Thế là nàng thông đồng với tình nhơn và tay chân trong cung điện, để tổ chức cuộc đầu độc nhà vua, đưa người yêu lên ngai vàng.

           

Tân quân vốn là người một đạo. Vua tổ chức đón tiếp ngài Huyền Trang vô cùng trọng thể. Kế đó, nhà vua lại cung thỉnh ngài vào kinh đô Balk.

 

Tại Balk, cũng nhu Bactria có rất nhiều chùa chiền nguy nga ;  tuy rằng có một số chùa chiền đã bị phá hủy kể từ khi rợ Hung Nô xâm lăng (vào thế kỷ thứ năm). Các vị sư  ở đây theo Tiểu Thừa Giáo. Tuy vậy, họ rất kính trọng ngài Huyền Trang. Một vị triết gia được trọng vọng nhất toàn vùng Bactria, là ngài Prajnakara thỉnh ngài đến để cùng nghiên cứu và thảo luận các nét căn bản về giáo lý.

 

Triết gia Prajnakara tán dương ý nguyện Tây Du của ngài. Trong Đường Tăng Tây Du Ký, có đoạn ghi chép :

-  Ngài Painakar hâm mộ những công trình sưu tầm và tinh lọc giáo lý. Vì vậy, ngài nêu lên nhiều điểm San Định kinh điển thật giá trị (Những tài liệu về những cuộc đối thoại nầy, sau nầy đã được ấn hành trong tập :  Các triết thuyết Ấn Độ và sự bành trướng sang Trung Hoa).

 

 

*

*   *

 

 

8.-  Vùng Hà Khắc

 

           

            Sau thời gian đó, nhà chiêm bái phải vượt qua nhiều đoạn đường khó khăn, vất vả, đến hindhu Kush để tiến vào vùng Bamiyan. Đây là con đường thông thương quan trọng từ vùng Trung Á tiến vào bán đảo Ấn Độ. Cũng tại đây, còn lưu lại một số di tích lịch sử có từ thời đại đồ đá, nơi phát xuất một nền văn minh tối cổ của vùng Trung Á.

 

Trong tài liệu của ngài Huyền Trang có đoạn được mô tả :

-  Phía bắc vùng nầy thành những rặng núi cao. Vì vậy, khí hậu ở vùng nầy cũng khác biệt. Khi tôi đi qua vùng nầy, điểm đáng chú ý nhất là khắp đâu đâu cũng trồng toàn lúa mạch. Thứ lúa nầy chịu đựng được khá lạnh. Các loại cây ăn trái, các loại hoa thì thật hiếm. Thật ra, vùng nầy chỉ thích hợp nhất cho nghề chăn nuôi. Khí hậu vô cùng lạnh lẽo, so với các vùng mà tôi đã đi qua từ trước. Dân chúng thì nóng nảy và hung dữ, ...

            Lối y phục của họ cũng đặc biệt, toàn bằng da thú, bằng len và đều là sản phẩm nội hóa.

 

            Tuy vậy, nếu nhận định về lãnh vực tôn giáo thì cũng là một điều đáng mùng. Vì ở đây, có trên mấy trăm ngôi chùa đồ độ, hiếm thấy ở một nơi nào khác có mức sống như vậy. Tính ra cũng có đến hàng ngàn nhà sư tu hành. Họ theo Đại Thừa. Ngài Huyền Trang có đến thăm một hang động cực kỳ vĩ đại. Tại đây có hai tượng Phật khổng lồ, một tượng cao 115 feet, một tượng cao 170 feet. Những hình được chạm trỗ ở tường về di tích Phật Giáo. Đây quả là một ho tàng quý giá của thời đại.

 

 

 

*

*   *

 

 

9.-  Bão Tố Liên Miên

 

Rời khỏi xứ Bamiyan, đi về vùng Kapiya, thì lại phải băng qua một dãy núi mang tên là Shibar. Độ cao tính ra cũng hơn 9,000 feet. Lúc nầy, ngài Huyền Trang vô cùng vất vả. Bổng nhiên, một cơn bảo tố hãi hùng cuồn cuộc kéo đến, thật ác nghiệt. Trong lúc nguy khốn nầy, chẳng may ngài bị lạc đường. Nếu không nhờ đến các người thợ săn chuyên nghề và tài ba, thì khó mà định hướng và vượt thoát được. Đó là một dịp may hiếm có.

 

Cuối cùng, cũng vượt qua được những giây phút hãi hùng nầy.

 

Kapisa (ngày nay có tên gọi là Begram) là một địa danh ở cực bắc của xứ Kabul, nằm trên trục giao thông chính nối Ấn Độ và Bactria. Đây là một trung tâm thương mãi đồ sộ và cũng là trung tâm sản xuất quan trọng các sản phẩm vùng Á nhiệt đới. Vua trị vì Kapisa là một tín đồ thuần thành Phật giáo Đại Thừa. Trong chuyến đi nầy, có cả nhà hiền triết Prajnakara.

 

Nhà vua cung thỉnh ngài Huyền Trang lưu lại trong cung điện năm ngày, để thuyết pháp, nhưng, để vừa lòng nhà hiền triết, nên ngài cũng mời ông ta đến trú ngụ tại một ngôi chùa Tiểu Thừa.

 

 

 

*

*   *

 

 

 

10.-  Xứ Êm Đềm

 

Sau mùa thu năm 630, ngài Huyền Trang từ giả xứ Kapisa. Ngài lên đường, đi về hướng đông và tiến về vùng Jalbabad (Tên ngày nay là Nagarahâna), sau đó, tiến vào Lampaka. Ở đây, khung cảnh hoàn toàn khác hẳn.

Ở đây là một xứ địa đấu của đất Ấn. Quả là một sự tương phản giữa một Kapisa với núi non trùng điệp và một Lampaka bình phẳng, êm đềm. Dân chúng cũng thế, họ chất phát, đạm bạt và hồn nhiên.

 

Trong Đường Tăng Tây Du Ký, chó chép :

-  Vùng nầy đất đai mầu mỡ. Đâu đâu cũng trồng lúa và mía. Loại cây nào gieo trồng, canh tác ở đây cũng đều được tốt tươi cả. Mưa thuận gió hòa.

 

Khí hậu dễ chịu, thanh thoát lạ thường, cũng ít khi có sự thay đổi đột ngột như các vùng ở nhiệt đới. Một số dân sống trong những túp lều đơn giản và thích ca hát. Rõ ràng là một dân tộc yêu đời, yêu người lạ lùng. Trời trong, mây tạnh không có tuyết. Họ hồn nhiên đến nỗi mỗi khi giao thương với các sắc dân từ những phương xa, chuyên nghề buôn bán khôn ngoan, thì họ thường bị lườn gạt, tội nghiệp. Cũng vì thế, lắm khi họ đâm ra nhu nhược.

 

Có điều phải nhận rõ ràng rằng họ là những người mộ đạo (Phật Giáo Đại Thừa), thường hay tham gia những hội hè, lễ bái, cúng dường. Đâu đâu cũng tạo dựng chùa chiền, điện thờ rất trang nghiêm. Phật Giáo ở đây, nhìn về phương diện nghệ thuật (Nhất là trên lãnh vực hội họa, điêu khắc), chịu ảnh hưởng Hy Lạp. Đó là vết tích của nền văn hóa Aryens, từ Tây phương mang đến. Dân tộc nầy, trong quá khứ, cũng đã từng chịu nhiều đau khổ do chiến tranh gây ra. Các đoàn quân Hung Nô từ phương bắc đã tràn vào đây từ thế kỷ thứ ba và thứ tư và đã tàn phá kinh khủng. Chứng cớ là có nhiều di tích lịch sử đã bị hư hoại gần hết.

 

Nghệ thuật cổ truyền tuyệt vời đã bị chôn vùi trong khói lửa một cách oan uổng. Sau Hung Nô lại đến lượt người Ả Rập, những thiệt hại nặng nề do các quân đội nầy gây ra cũng không kém rợ Hung Nô. Vì vậy, khi tiếp xúc với các bô lão Lamkapa, điều đầu tiên, ai cũng nhận thấy, là niềm xót thương, một thời vàng son của dân tộc đó.

 

Tại Lampaka, ngài Huyền Trang đã được các Cao Tăng trong vùng hướng dẫn đến chiêm bái một Phật tích nổi tiếng nhất của xứ nầy. Đó là căn nhà của tên cướp Gopala được đức Phật giáo hóa.

 

Sử chép rằng :

-  “Gopala là một tướng cướp khét tiếng. Khắp xứ ai ai cũng kinh hãi. Luật pháp chẳng làm gì được y. Đã vậy, y còn có một số thủ hạ đầu trâu mặt ngựa vô cùng độc ác. Một ngày kia, đức Phật trên đường thuyết pháp, Ngài đã dừng chân ở Kampala. Gopala vì tính hiếu kỳ cũng chen chân vào xem. Ngài giảng về lý nhơn duyên sinh. Sau một hồi lâu, Gopala chợt tỉnh ngộ.”.

 

 

 

*

*   *

 

 

11.-  Tìm Lại Thời Vàng Son Phật Giáo

 

 

Trước khi chiếm bái những di tích Phật Giáo (về cuộc đời đức Phật từ xuất gia cho đến lúc nhập diệt), tại vùng châu thổ sông Hằng, ngài Huyền Trang đến hai trung tâm Phật Giáo đã trải qua một thời vàng son :

 

-  Peshawar,

-  Kashmir.

 

a.-  Tại Peshawar :

 

Peshawar là một tiểu quốc miền tây bắc xứ Ấn Độ ngày nay. Nó nằm về phía thượng lưu của sông Gange.

Miền nầy vào thời đại oai hùng của vua Kaniska, là một trong những chiếc nôi của nên văn minh báo đảo Ấn Độ. Vào đầu tây lịch (thế kỷ thứ nhất) các giống dân phương tây sang xâm lăng peshawa. Trong cuộc bành trướng thế lục quân sự tàn bạo nầy, họ đã gieo rắc văn hóa lẫn tôn giáo.

 

Cũng trong ý đồ đó, họ muốn tiêu diệt tất cả những di tích cũ. Theo tài liệu cuốn 2500 years of Buddhism thì tại Peshawar có đến một triệu (1) di tích và đền đài, chùa chiền Phật Giáo.  (Đại thừa và Tiểu thừa – trang 236).

 

Khi ngài Huyền Trang đến đây, thì tình trạng tiểu quốc nầy vẫn chưa hồi sinh. Ngài chép lại :

-  “Tôi vào nơi đây, tâm cảm bùi ngùi. Một vương quốc rộng lớn ngày xưa như thế, mà nay phải trở thành một thuộc quốc của Kapisa !  Các đô thị trông thật tiêu điều. Có nơi không thấy được một bóng người. Họ sống thưa thớt, cô đơn, như những chiếc ốc đảo. Chỉ có tại kinh đô Peshawar, có khoảng chừng một ngàn gia đình sống thưa thớt mà thôi. Họ sống thật lẻ tẻ.

Không ngờ một nền văn minh vàng son, rạng ngời như thế mà nay lại bị băng hoại trầm trọng.”. (Đường Tăng Tây Du Ký, chương 1, trang 142).

 

 

b.-  Tại Kashmir :

 

Rời Peshawar, ngài Huyền Trang tiếp tục đi về phía đông. Chủ đích của ngài là hành hương và thỉnh kinh. Ngoài ra, ngài còn muốn tìm học ở các vị Cao Tăng Ấn Độ về Pháp Tướng Tông (Duy Thức Học).

Ngài băng qua một rặng núi già và đã bị nhuốm bệnh nặng. Cuộc du hành đành phải bị gián đoạn hơn bốn tháng. Câu chuyện ngài đã được chữa trị theo y thuật Ấn, được ghi chép trong cuốn Tây Du Ký khá thú vị, thỉ mỉ.

Ngài tiếp tục đi vào vùng Udyama (Còn gọi là Uddi-Yana). Nơi đây, cũng bị ảnh hưởng rất nặng nề của cuộc xâm lăng thô bạo của Hung Nô. Tuy vậy, vì địa thế hiểm trở, nên những di tích Phật Giáo ở các hang động sâu thẳm vẫn còn giữ được nhiều kinh điển được chép bằng bối diệp.

 

Theo tài liệu của Ngài ghi chép lại thì :

-  Lúc ngài gần đến, tiểu quốc nầy vẫn còn 1,400 ngôi chùa, 18, 000 vị Tăng. Vẫn có đủ hai nguồn ảnh hưởng Đại Thừa và Tiểu Thừa Phật Giáo. Ngoài ra còn có thêm Phù Chú Giáo.

 

Sau đó, ngài vượt Ấn Hà (Indus) tại tỉnh Udabandha. Ngài dừng lại một thời gian khá lâu ở Taksasita, vì đây có rất nhiều di tích, tượng, pháp cụ, các hóa thạch của Phật Giáo, dù cho đã có một phần bị bàn tay phá hoại của rợ Hung Nô.

 

Ngài đi vào trung tâm văn hóa Kashmir. Tại đây, những cơ sở vẫn còn nguyên vẹn. Ngài lưu lại gần hai năm trời (từ tháng 5 năm 631 đến tháng tư năm 633), một phần là để nghiên cứu các tư tưởng và các tông phái Phật Giáo, một phần lớn khác là để chép lại kinh tạng, luận tạng, sau nầy mang về Trung Quốc.

 

Tại Kashmir, Ngài đã tìm ra được nguyên bản các bộ kinh dưới đây :

 

            -.  Trường A Hàm,

            - .  Trung A Hàm,

            -.  Tạp A Hàm,

            -.  Tăng Nhứt A Hàm,

            -.  Tiểu A Hàm.

 

Các Luận thì gồm có :

 

            -.  Dhamma-Sanghani (Phân lạo các pháp),

            -.  Vibhanga (Những tiết mục phân biệt),

            -.  Dhatukatha (Luận giải về các nguyên tố đại thuyết),

            -.  Puggala Pannatti (Nhơn thi thuyết chỉ dành các cá tính),

            -.  Kathavathu (Tiểu sự),

            -.  Yannaka (Song đối thuyết),

            -.  Patthana (Nhơn quan, tương quan thuyết).

 

Tại Kashmir, Ngài thọ giáo với một vị Cao Tăng quảng bác là ngài Maha-Yanist 70 tuổi, để tham luận về tinh túy truyền thống Phật Giáo (Maha-Yanist được các nhà nghiên cứu lịch sử xem như là lý luận gia bậc nhất tại Ấn Độ vào thế kỷ thứ bảy).

 

 

*

*   *

 

12.-  Dọc Sông Hằng

 

Từ vùng Kashmir, ngài Huyền Trang đi về phía đông nam, thượng lưu sông Hằng (Gange). Ngài bắt đầu tìm thấy những con người dân xứ Phật hiền hòa, ảnh hưởng của nền văn minh phong phú tối cổ.

 

 

1.-  Thoạt tiên đến Sakala :

 

Sakala còn gọi là nước Sialkot, vùng chịu nhiều ảnh hưởng của Hồi Giáo. Trong những cuộc tranh chấp dài đằng đẳng trong lịch sử tôn giáo Ấn Độ. Lúc đó quốc vương Sakala thuộc quyền cai trị chuyên chế của vua Mahirakula (còn có tên là Mihirakula). Cuộc tranh chấp thực ra thì chỉ do những kỳ thị của một số cuồng tín, ngài Huyền Trang đã chứng kiến cảnh đó. Trong một thời gian lưu lại thủ đô Sakala, ngài cũng cố gắng khuyên can tín đồ Phật Giáo và Bà La Môn cần nhẫn nhục.

 

Sakala, còn là quê hương của nhà hiền triết lừng danh cách đó hai thế kỷ :  Đó là Vasubandhu, Huyền Trang đến chiêm bái và tìm hiểu những quan điểm nhận thức tôn giáo Vasubandhu, ít ra là trên lãnh vực phương pháp luận đông phương.

 

 

b.-  Rời Sakala, ngài đến Cinabkukti (633) :

 

Đời sống ở đây chuyên về hai nghề :  Săn bắn và chăn nuôi. Trình độ văn hóa chưa được mở mang nhiều.

Khi đi ngang qua con đê ở vùng Beas, thì bị bọn thảo khấu bắt giữ trong một thời gian ngắn.

 

Trong tập Tây Du Ký có thấy một đoạn :

-  Cinabhukti (dịch là Chiên Bá Lý) là một tiểu quốc còn phôi thai. Chưa được hấp thụ nền văn hóa Ấn Độ. Họ thiên về Đa thần giáo. Hầu hết cúng tế, cầu đảo theo óc mê tín, lối dị đoan. Họ theo Phù chú giáo. Vì vậy, họ chưa hiểu gì mấy về tư tưởng và tổ chức Phật Giáo. (trang 242).

 

Cũng may, Ngài gặp được một nhân vật trí thức nghiên cứu về Bà La Môn Giáo và thỉnh cầu Huyền Trang giảng thêm giáo lý căn bản của đạo Phật. Ngài lưu lại một tháng và cố công truyền đạt giáo lý Phật Đà cho một số người.

 

 

c.-  Mathara, ánh sáng Phật Học (634) :

 

Đến năm 634, Ngài trở về Cinbabhakti, khi đi về Jalandhara, đi đến trung tâm Phật Giáo Mathara.

Mathara là một đô thị cổ. Dân chúng ở đây có trình độ văn hóa khá cao. Phật Giáo phát triển rất mạnh. Theo truyền thuyết, vào đầu công nguyên thì tại Mathara đã có những cơ sở ấn hành kinh điển chính của đạo Phật.

 

Ngày nay, các nhà sử học và xã hội học, cổ sinh vật học đã khai quật rất nhiều chứng liệu về văn hóa Phật Giáo thời ấy.

Huyền Trang đã bỏ ra nhiều thì giờ để đi khảo sát và chiêm bái vùng nầy.

 

Ghi Chú :  (1) Hiện nay,  tại vùng cổ viện quốc gia Tân Đề Ly, thủ đô của Ấn Độ, còn lưu trữ rất nhiều tài liệu về văn hóa, nghệ thuật của Mathura. Một cuốn sách cổ của địa phương có ghi chép lại cuộc hành hương của ngài Huyền Trang năm 634 tại vùng nầy.

 

 

 

*

*   *

 

13.-  Nguồn Sử Liệu Huyền Trang

 

Trên một khía cạnh khác, tập Đại Đường Tây Du Ký của ngài Huyền Trang còn mang tính chất lịch sử.

Thời đại đó, Phật Giáo suy yếu. Bà La Môn và Ấn Độ Giáo có ảnh hưởng lớn. Giặc Hung Nô tàn phá nhiều di tích Phật Sử. Triều đại Gupta, đóng một vai trò chủ yếu trong việc đưa Bà La Môn Giáo để chế ngự các tôn giáo khác. Đó là đề cương sử liệu nầy, về phương diện sử liệu.

 

Về niên biểu :

 

            -.  Triều đại Maurya (317 trước Tây lịch),

            -.  Vua A Dục (268 – 232 trước Tây lịch),

            -.  Sự xâm lăng ngoại nhân (180 trước Tây lịch),

            -.  Đế quốc Kushana (129 – 152 sau Tây lịch),

            -.  Triều đại Gupta (thế kỷ thứ tư),

            -.  Các vương triều phân hóa (thế kỷ thứ sáu),

            -.  Hồi giáo xâm nhập (thế kỷ thư 11).

 

 

Chứng tích sự suy thoái :

 

Một đặc điểm nổi bật nhất trong Tây Vức Ký là trình bày về tình trạng chính trị và xã hội trong thời ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh và chiêm bái.

 

 

*.-  Sự suy thoái của Phật Giáo sau thời đại Gupta :

 

Triều đại Gupta :  Khởi đầu từ năm 320 đến hết thế kỷ thứ tư. Triều đại nầy do nhà vua Chadra-Gupta sáng lập (Cai trị nước Magada) suốt thế kỷ thứ nhất và thứ hai sau công nguyên. Tại Ấn Độ đã có hai đế quốc :

-.  Đế quốc Kasana (Quý Sương),

-.  Đế quốc Andra.

 

Đế quốc Kasana bành trướng vùng Tây Bắc Ấn. Trong khi đó thì đế quốc Andra hoành hành tại các quốc gia trù phú Đông Nam Ấn. Nhưng đến vào khoảng thế kỷ thứ ba (dương lịch) thì cả hai đế quốc nầy đều bị suy thoái.

 

Có nhiều nguyên nhân, nhưng vấn đề chủ yếu là chính sách cai trị hèn kém và độc đoán. Nhơn cơ hội đó, các tiểu bang của cả hai vùng ùn ùn nổi dậy, tổ chức kháng chiến, và dần dần nắm lại chủ quyền. Tuy nhiên, các triều đình mới lập vấp phải các nhược điểm khác.

 

Trong số các tiểu bang nầy, riêng có nước Magada, do vị vua Sandra-Gupta cai trị là kịch liệt nhất, trên nhiều lãnh vực (Theo tài liệu L’Inde Classique - Xuất bản năm 1947 – 1953, trang 218 và 219).

 

Vua nầy có một quân đội vô cùng hùng hậu, một đội hải thuyền rất mạnh mẽ. Dần dà, triều vua Gupta đã đánh dẹp các tiểu bang lân cận. Giang sơn thâu về một mối.

 

Suốt thế kỷ thứ tư, triều đại Gupta ta trị vì được xem là một triều đại huy hoàng nhất trong công cuộc phát huy nền văn hóa cổ điển Ấn Độ.

 

Đối với sự tiến bộ nầy, nền khoa học phôi thai, như số học và thiên văn học, cũng phát triển mạnh mẽ.

 

*.-  Vào thế kỷ thứ năm, Ấn Độ bị Hung Nô tràn vào xâm chiếm. Đất nước gặp cơn tao loạn triền miên.

*.-  Đến thế kỷ thứ sáu, Ấn Độ lại bị cảnh qua phân trầm trọng, các thế lực cũng yếu dần.

 

 

*.  Cơ cấu quốc gia :

 

Vào triều đại Gupta, tài liệu trên (của Huyền Trang) đã nêu lên những nét đặc trưng như sau :

 

-.  Quốc gia theo chế độ trung ương tập quyền.

Các tiểu bang nầy thuộc và chịu theo mệnh lệnh của trung ương. Tuy nhiên, họ lại được toàn quyền điều lý nội bộ. Quan lại, viên chức của mỗi tiểu bang cũng được tuyển chọn, theo quyền hạn của các chính quyền địa phương.

 

-. Độc quyền thế tập (Cha truyền con nối) :

Một đặc quyền khác là tại các tiểu bang nầy, không những các vị quốc vương, mà cả đến các quan lại (cao cấp hay hạ cấp) viên chức các ngành đều xử dụng độc quyền thế tập của mình. Cắt nghĩa lý do nầy, các nhà nghiên cứu cho rằng :  Rõ ràng đây là ảnh hưởng sâu đậm tinh thần của Bà La Môn Giáo (về giai cấp).

 

Theo quyền hạn nầy thì :  Cấp bực cao thấp mỗi người, không phải do tài năng của chính mình, mà lại là do tập quán trật tự xã hội của mỗi giai cấp.

 

 

Tôn Giáo :

 

a.- Bà La Môn Giáo :  Nguyên nhân chính đưa trật tự xã hội Ấn Độ trở lại chế độ giai cấp là do Bà La Môn Giáo hưng thịnh. Lúc nầy, Bà La Môn Giáo đã trở thành một quốc giáo, với đầy đủ ý nghĩa của nó. Tôn giáo nầy lúc ấy có nhiều đặc quyền :

*.-  Quảng bá giáo lý trong xã hội,

*.-  Tổ chức xã hội theo tiêu chuẩn trong kinh điển.

 

Hơn thế nữa, khi Bà La Môn Giáo hưng thịnh, các tôn giáo khác như Ấn Độ Giáo cũng phải tùng phục theo. Họ chịu chi phối để hội nhập vào mọi hoạt động tinh thần. Ví dụ :  Giáo lý, thần thuyết, tập tục, sinh hoạt, ... Cho đến tất cả những hình thức xã hội nầy cũng dần dà khuôn rập theo Bà La Môn Giáo.

Vì những lý do kể trên, cho nên, phong thái Bà La Môn Giáo lúc nầy càng mạnh hơn bao giờ hết.

Một khía cạnh khác cũng đáng lưu ý.

 

*.-  Càng ngày, theo cái đà phát triển thần quyền và chính quyền như thế, giới chức của Bà La Môn Giáo đã nắm vững hơn, các quyền uy chi phối quốc gia của mình, dựa trên nền tảng phân chia giai cấp (nhất là Tăng Lữ) đến mức độ thật chặt chẻ. Dĩ nhiên, các chức sắc của Bà La Môn Giáo ở khắp các địa phương cũng đã lợi dụng thời cơ và uy thế của mình, đã xạy cất thêm nhiều đền đài quy mô, tráng lệ. Về văn học nghệ thuật cũng vậy. Giới trí thức phải bắt chước theo học phong và văn phong của Bà La Môn Giáo.

 

 

b.- Phật Giáo, Kỳ Na Giáo :

 

Trong khi Bà La Môn Giáo và Ấn Độ Giáo (ly khai) được củng cố bao nhiêu, trái lại Phật Giáo và Kỳ Na Giáo bị phân hóa, biến chất thêm nhiều bấy nhiêu.

 

*.-  Suy thoái :  Trên bình diện tổ chức, hai tôn giáo nầy vẫn cứ giữ lấy mức sinh hoạt điều hòa, kỳ thực ra, thực chất của nó thì đang ở trong tình trạng suy thoái.

 

*.-  Tha hóa :  Trước sức mạnh của Bà La Môn Giáo, các học phái cũng tựa vào tôn giáo nầy, dùng làm trọng tâm, xây dựng, trước tác, lập ngôn, ... Và đó cũng là đề tài giảng huấn cho các tín đồ của mình.

Cứ theo đà tiến triển đó, ảnh hưởng của Bà La Môn Giáo và Ấn Độ Giáo đã tạo cho toàn dân Ấn Độ một nếp sống, một nền luân lý khác biệt, có tính cách phân chia giai cấp rõ rệt.

 

*.-  Thực Lợi Luận :  Thực Lợi Luận là một đường lối chính trị của triều đại Gupta.

Đường lối nầy, trên nguyên tắc căn bản, dựa vào tinh thần của Bà La Môn Giáo và Ấn Độ Giáo.

 

Tây Vức Ký có chép :

-  Căn cứ vào sách vở của Ấn Độ lưu hành, thi Thực Lơọi Luận có hai công năng :

*.-  Tổ chức và điều hành theo guồng máy hành chánh.

*.  Duy trì trật tự công cộng, đồng thời, đàn áp chống đối các chủ trương đối nghịch.

Thực Lợi Luận đã dựa vào những bộ luận vốn đã có từ trước, rồi đem san định lại, và dung hòa cách nào cho thích hợp với hoàn cảnh sinh hoạt xã hội và chính sách cai trị đương thời.

Các loại sách của Thực Lợi Luận nầy vẫn được các triều đại kế tiếp áp dụng như là một phương châm để trị nước. Mãi đến khi Hồi Giáo (Mohamed) xâm nhập vào đất Ấn, đầu thế kỷ thư 11, do vua Sulta Mahmud trị vì, thì chính sách nầy bị cải cách bớt một vài phần.

 

 

 

 

 

*

*   *

 

 

16.-  Ngài Huyền Trang Vào Đất Tây Ấn

 

a.-  Di tích và Phật Tháp (Thời đại Kaniska) :

 

Phật giáo là một kỳ quan của Ấn Độ và cũng là một công trình kiến trúc Phật Giáo lớn.

Công trình xây dựng nầy phải nói là do Kaniska (vào thế kỷ thứ hai sai Tây lịch) điều động với tất cả những cố gắng triền miên.

 

Tây Vức Ký chép :

-  Từ khi nhà vua Kaniska quay về với Phật Giáo, Ngài đã dốc lòng hộ trì chánh pháp. Ngài đã tận dụng tất cả những khả năng, uy quyền, tài lực và vật lực trong công cuộc hoằng dương chánh pháp. Đối với chư Tăng, ngài một mục tôn kính. Chính ngài Mã Minh và Hiếp Tôn Giả đã dùng giáo pháp vi diệu để cảm hóa ngài.

Sau nầy, hai công trình lớn lao đối với tiền đồ Phật Giáo ở Lamkapa thời đại trung cổ là :

            *.-  Phật Tháp (Ở Phú Lâu Xa Bộ Na).

            *.-  Cuộc Kết tập Kinh điển lần thứ tư.

 

Phật tháp cao vào khoảng Bốn mươi trượng, tọa lạc tại Phú Lâu Xa Bộ Na, Phật tháp nầy không những lừng danh khắp năm xứ Ấn Độ như là một Phật tích độc nhất vô nhị, mà trong thời đại ngày nay (thế kỷ 20) cũng đã được ca ngợi là rất giá trị, nhiều nét đặc thù.

Vua Kaniska đã cống hiến cho việc kiến tạo Phật tháp với tâm vị tha của Ngài, cho thời đại và cho mai hậu nữa. Ngôi Phật tháp nầy rất kiên cố, vĩ đại trong kim cổ kỳ quan.

 

b.-  Peshawar, di tích Phật sử :

 

Ngài Phật tháp ra, Peshawar còn là di tích lịch sử, đáng ghi nhớ nhất là việc Kết tập Kinh điển lần thứ tư.

 

Tây Vức chép :

*.- Căn cứ theo truyèn thuyết và căn cứ theo nhữg tài liệu đã thành văn, vua Kaniska rất say mê, mến chuộng tìm tòi, nghiên cứa triết lý Phật Giáo.

Vua thường cung thỉnh các vị Cao Tăng đạo hạnh, vào kinh đô để cúng dường và khai thị yếu pháp.

Một ngày nọ, nhà vua lấy những điểm giải đáp khác nhau của các vị Cao Tăng, để trình bày với các bậc trưởng giả. Lúc đó, có ngài Hiếp Tôn Giả (Parsika), lưu lại tại cung.

 

Vua Kaniska thưa :

-  Bạch Ngài, con xin biết cách nào để phân biệt các tôn giáo ?

 

Ngài Hiếp Tôn Giả đáp :

-  Từ khi đức Như Lai diệt độ cho đến nay, thơi gian đã khá lâu, các hàng môn đệ ai cũng cho rằng tông phái của mình là đúng, tông phái khác là sai. Đó là nguồn gốc của sự phân chia.

 

Vua lại thưa :

-  Bạch ngài, vậy xin Tôn giả suy nghĩ một phương thức nào, đẻ sớm cứu vãn sự phân hóa ngaỳ càng phức tạp ấy.

 

Ngài Hiếp Tôn Giả :

-  Chỉ có cách là Kết Tập Tam Tạng Kinh Điển. Tổ chức có quy cũ, hẳn hoi.

 

Nhà vua nghe xong, lấy làm hoan hỷ, tán thành kết tập kinh điển (lần thứ tư).

 

 

*

*   *

 

15.-  Ngài  Huyền Trang Viếng Giới Nhật Vương

 

 

Giới Nhật Vương (Harsa-Siladitya) là một triều vua lớn nhất ở Bắc Ấn vào thế kỷ thứ bảy (Vào khoảng 606 – 647), chấn hưng vùng nầy sau một thời gian dài bị ngoại xâm.

 

Sử Ấn Độ chép rằng (theo ngài Huyền Trang) :

-  Triều đại Gupta chỉ vững chắc suốt một thế kỷ dài. Cho đến những năm cuối cùng của thế kỷ nầy, người Hung Nô ở phương bắc trên đà bành trướng mạnh mẽ, đã đưa quân vào xâm lăng. Và đén tháng 09 năm 482, người Hung Nô thực sự đặt nền tảng cai trị ở miền Tây Bắc Ấn. Cuộc xâm lăng nầy đã làm đảo lộn luôn cả một hệ thống văn hóa, xã hội, tín ngưỡng cổ truyền Ấn. Tình trạng bi đát nầy đã kéo dài gần nửa thế kỷ.

 

Năm 533, một số nhà ái quốc đã hợp lực với vua Yasodharma (pháp tánh) khởi binh, tổ chức cuộc chiến đấu suốt hai năm.

Cuối cùng, cũng được thành công và đưa xứ sở đến một tinh thần khác.

Khi người Hung Nô rút lui, cũng chính là lúc mà Ấn Độ gặp cảnh qua phân mãnh liệt nhất trong lịch sử Ấn. Cảnh thập nhị sứ quân, biên thùy một cõi hiên ngang, mạnh ai nấy chiếm.

 

Trong thời gian đó, Giới Nhật Vương giấy lên cuộc trung hưng. Giới Nhật Vương tiếp đón ngài Huyền Trang với tinh thần của một vị ái mộ tôn giáo và văn hóa. Nhân dịp nầy, vị chiêm bái Trung Hoa đã trình bày những nét đặc thù về phong tục, chính trị, xã hội và kể cả những tôn giáo cổ truyền của Trung Hoa cho Giới Nhật Vương nghe.

Chủ nghĩa nhơn trị và pháp trị là đề tài về thuật trị nước mà Giới Nhật Vương đã tham khảo sâu sắc nhất. (Phỏng theo tài liệu A History of Indian Philosophy – 1922).

 

Còn căn cứ vào tài liệu của Tây Vức Ký thì :

-  Giới Nhật Vương lại là một nhân vật uyên bác về cả lãnh vực văn học lẫn nghệ thuật cổ điển nữa. Dưới quyền lãnh đạo quốc giavà lề lối kết tụ nhơn tài, nhiều học giả đương thời đã cộng tác thật đắc lực. Số số các bậc văn tài của hội Tao đàn, có nhà thi hào Bana, tác giả tập Harsa Vương Hành truyện, tức là Harsa-Carita. Nhà vua cũng lại là những thiên hùng ca và những bản hí kịch. (Các đề mục chỉ còn thấy ghi dẫn trong cuốn Đại Đường Tây Du Ký).

 

 

*

*   *

 

 

16.-  Các Giả Thuyết Về Giòng Họ, Thân thế

Của Ngài Huyền Trang Theo Tây Du Ký

 

 

a.-  Thời đại :

 

Tây Du Ký (ngoại truyện) có ghi chép về thân thế giòng họ của ngài Huyền Trang vào thời Đại Đường như sau :

*  Thành Trường An (Lâm An phủ), thuộc địa phận của tỉnh Hiệp Tây. Các triều đại như :  Hàn, Ngụy, Triệu, Yên, Tề, Tấn Sở, ... đều lập kinh đô tại Trường An. Với ý nghĩa danh xưng nầy là mong muốn cho quốc gia luôn luôn được thái bình, thịnh trị.

 

Trong địa lý nhân văn chép :

-  Xứ ấy bao gồm ba châu, đất đai phì nhiêu, thuộc châu thổ sông Hoàng Hà, sử cũ thì cho rằng :

Trên bờ hoa mọc như gấm thêu,

Dưới sông, tám dọp hợp lưu, thuyền bè quanh năm tấp nập.

 

Thị tứ dân cư đông đúc, không nơi nào sánh kịp. Lúc đó, Đường Thái Tông (Thế Dân) trị vì, niên hiệu Trình Nguyên năm thứ mười ba (Ất tỵ). Nước nhà sống trong cảnh thanh bình, an cư lạc nghiệp. Các tiểu quốc hàng năm có đến triều cống.

Nhơn ngày trung nguyên, vua Thái Tông lâm triều, bá quan văn võ chầu chực tấp nập.

 

Thừa tướng Ngụy Trưng tâu :

-  Nay thiên hạ thái bình, tám phương tùng phục. Xin bệ hạ ban chiếu chỉ, mở khoa thi, kén chọn người tài đức ra giúp nước.

 

Đường Thái Tông phán :

-  Ý kiến đó rất xác đáng, hợp với ý trẫm.

 

Nhà vua liền truyền tống bản văn rao khắp 45 tỉnh, 165 châu rõ biết để những kẻ thập niên đăng hỏa lai kinh ứng thí.

 

 

b.-  Dòng dỏi :

 

Khi ấy, tại quận Hải Châu thuộc vùng duyên hải Hoa Bắc, có một Nho sinh họ Trần, tên Quang Thụy, nghe được có tin khoa thi tam giáp, về nhà xin phép với thân mẫu là Trương Thị rằng :

- Nay Thánh Thượng đã tư khắp bốn phương, mở khoa thi tại Trường An, con theo đòi kinh sử, nên muốn vè kinh để ứng thí. Nếu may mắn nhờ ân đức tông đường, được vinh quy, thì cũng đáng rạng danh tổ tiên.

 

Bà Trương Thị :

-  Con cũng đã trải qua mười năm đèn sách, chuyện lại kinh ứng thí là một cơ hội tốt. Tuy nhiên, từ Hải Châu lên Trường An, đường sá xa xuôi, nên thận trọng, dè dặt. Nếu được phước nhà, mà đỗ đạt, thì về ngay cho mẹ hay.

 

Trần Quang Thụy vội vả lên đường, cho kịp dự thi.

Trong ba kỳ thi hạch, Trần Quang Thụy đều được thông suốt.

 

 

c.-  Gieo cầu :

 

Khi trên đường về, Quang Thụy đi ngang qua cửa ngõ Thừa tướng Ân Khải Sơn, thì bị trái cầu rơi ngay trên mão (gieo cầu kén chồng). Nguyên Ân Thừa tướng có một người con gái tên là Ôn Kiều, hiệu là Mãn Đường Kiều, dung nnhan tuyệt hảo. Nàng Ôn Kiều biết chàng Tân trạng tài ba và hiền hậu. Thừa tướng cho mời Quang Thụy vào tư dinh, gã tiểu thư cho tân trạng. Vợ chồng làm lễ xong, thì nhà vua xuống chiếu chỉ cho mời vào triều.

 

Vua Đường Thái Tông phán hỏi các quan ngự sử của triều đình :

-  Trần Quang Thụy đỗ tân khoa, vậy phải bổ nhậm chức vị gì cho xứng đáng tài năng ?

 

Thừa tướng Ngụy Trưng tâu :

-  Tại Giang Châu đang khuyết một vị Tri Châu. Cúi mong Bệ hạ bổ nhiệm chức vị ấy cho tân trạng.

 

 

d.-  Nhậm Chức :

 

Sau khi đại đang khoa (thi đỗ) và tiểu đang khoa (có vợ) Quang Thụy về nhà thăm và tin cho mẹ hay. Trương Thị lấy làm vừa lòng lắm.

Kế đến, ông ta lên đường trấn nhậm, mang thân mẫu và vợ cùng theo. Nhưng lúc ấy, bà Trương Thị tại bệnh, Quang Thụy phải ở nhà cung phụng thân mẫu một thời gian ngắn. Một sáng nọ, có người chài lưới mang cá vào bán. Thụy gọi vào mua để nấu cháo cho mẹ ăn.

 

Bỗng thấy con cá nháy mắt, ông thầm nghĩ :

-  Theo truyền thuyết, con cá, con rắn mà nháy mắt, không phải là vật tầm thường.

 

Ông liền hỏi người đánh cá :

-  Ông bắt vật nầy tại đâu ?

 

Ngư ông trả lời :

-  Tại Hồng Giang, cách đây mười lăm dặm.

 

Mua xong, Trần Quang Thụy liền phóng sanh, rồi vào tâu với mẹ hay. Trương Thị khen :

-  Phóng sanh là tạo phước đức cho mình. Mẹ rất vui mừng về việc làm của con.

 

Trong những ngày ở nhà để phụng dưỡng lão mẫu, nhưng bà vẫn không khỏi bệnh, cho nên Quang Thụy thưa với mẹ rằng :

-  Việc quốc gia rất cần kíp, con định sáng ngày mai lên đường trấn nhậm ở Giang Châu.

 

Trương Thị đáp :

-  Trong mình mẹ, bệnh thì vẫn chưa thuyên giảm, đành phải lưu lại ít ngày. Hai vợ chồng con cứ lên đường đi trước, để phó nhậm cho đúng kỳ. Sang mùa thu, khí trời thuận hòa, con trở lại đưa mẹ về Giang Châu. Trần Quang Thụy vâng lời, chuẩn bị lên đường.

 

 

e.-  Trần Quang Thụy bị hại :

 

Trên một hành trình lâu dài, chẳng bao lâu, hai vợ chồng cùng chú tiểu đồng theo hầu đã đến bờ sông Giang.

Khi ấy, có chiếc đò xuối, có hai tên Lưu Hồng và Lý Bưu đưa rước.

Quang Thụy mướn đò dọc Hồng Giang. Khi Lưu Hồng thấy Ân Tiểu Thư nhan sắc khuynh thành, nên nảy ra thâm ý, tìm cách cưỡng đoạt. Lưu Hồng liền bàn tính với Lý Bưu, chèo đến nơi thanh vắng, lúc hoàng hôn xuống thì neo thuyền đậu lại. Nửa đêm, Lưu Hồng giết chết tiểu đồng, rồi đập chết Quang Thụy, quăng thây xuống sông. Ân Ôn Kiều khóc lóc rất thảm thiết, toan nhảy xuống sông, chết theo chồng.

 

Lưu Hồng ngăn lại :

-  Nàng phải chấp nhận lấy ta, bằng không sẽ chặt làm hai lúc.

 

Ôn Kiều nghĩ rằng :  Mình đang mang thai, nếu chết đi, lấy nối dõi tông đường cho họTrần ;  nên đành miễn cưỡng ưng thuận, chờ ngày sinh đẻ.

 

 

g.-  Báo ân, Báo oán :

 

Lúc Lưu Hồng lấy áo mão của Trần Quang Thụy, lấy chiếu bổ nhậm, giả danh đưa Ôn Kiều đi, đến làm Tri Châu ở Giang Châu.

 

Giai thoại chép rằng :

-  “Xác Trần Quang Thụy và Tiểu Đồng trôi theo dòng sông. Ngay trong ngày đó, quỷ Dạ Xoa nhơn đi tuần tiểu trên sông, đến vùng sông Hồng Giang gặp được hai xác nầy, liền trở về đền báo cho Long Vương biết.”.

 

Vua Long Vương cho mang xác ấy lại và bảo rằng :

-  Người nầy, chính là kẻ ta đã mang ơn (Long Vương chính là con cá chép đã bị ngư phủ bắt, được Qaung Thụy mua về và được phóng sanh).

 

Thói đời, mang ơn thì phải trả ơn. Tức thì, vua Long Vương sai quỷ Dạ Xoa đến Hồng Châu, gặp Thành hoàng, thổ địa phải lấy hồn vị trạng nguyên ấy.

Hồn Quang Thụy được mang về, trình bày âm mưu của bọn Lưu Hồng giết mình để đoạt vợ cho vua Long Vương nghe.

Để đền ơn, vua Long Vương liền cạy miệng tử thi lấy hạt châu định nhãn bỏ vào. Công dụng của hạt châu nầy làm cho tử thi tươi mãi, không rã, chờ mãn hạn, cho sống lại để báo cứu.

 

Long Vương bảo :

-  Hồn của ông sẽ ở lại đền, để nhận chức việc.

 

 

h.- Huyền Trang ra đời :

 

Lưu Hồng đưa Ôn Tiểu Thư mượn danh đi nhậm chức ở Giang Châu. Nhờ tài giảo hoạt nên đã không bị trở ngại trong bước đầu.

Mấy tháng trôi qua, một hôm Lưu Hồng có công sự phải đi xa. Ôn tiểu thư ở nhà, lòng nhớ chồng cũ khôn nguôi, phần thì thương mẹ chồng đang bệnh nặng không ai săn sóc, thuốc thang. Nàng đang mang thai, sắp đến ngày sanh nở. Bỗng nhiên, mặt mày sa sầm, nàng liền té ngã bất tỉnh nhơn sự. Trong khi mơ màng, bỗng có tiếng nói :

-  Mãn Đường Kiều ơi !  Ta là sao Nam Cực, vâng lệnh đức Quán Thế Âm Bồ Tát, đem cho nàng nghiệp lớn cho đạo cho đời. Nếu tên Lưu Hồng về tới, chắc nó sẽ giết đứa bé. Vậy nàng phải hết sức bảo hộ. Còn chồng nàng là Trần Quang Thụy, đã gặp Long Vương cứu lấy phần hồn. Vì vậy, sau nầy, vợ chồng, cha con sẽ được đoàn tụ.

 

Khi Ôn tiểu thư tỉnh dậy, thì nàng sinh được một trai. Lòng nàng lo sợ, không biết lo liệu làm thế nào cho đứa con được an toàn.

Lưu Hồng về đến nhà, thấy đứa bé đòi đem giết đi.

 

Ôn Kiều vội vả đáp :

-  Thôi được, ta sẽ ném đứa bé xuống sông.

 

Tối hôm ấy, khi Lưu Hồng vừa ra khỏi nhà, Ôn tiểu thư liền cắt ngón tay lấy máu, viết một lá thư, ghi rõ tên cha, tên mẹ đứa bé. Kể mọi ngọn ngành, rồi cắt đứt nửa ngón chân út của đứa bé để làm dấu. Bà đem bỏ đứa con vào chiếc bè nhỏ, thả trôi sông. Nàng khóc than thảm thiết rồi từ biệt con.

 

 

i.-  Ngài Huyền Trang tu học :

 

Chiếc bè theo dòng nước trôi mãi. Chẳng bao lâu chiếc bè trôi dạt vào cửa chùa Kim Sơn. Vị Trú trì chùa nầy là ngài Pháp Minh Hòa thượng, vốn bậc chơn tu. Ngài đang tọa thiền, bỗng nghe tiếng đứa bé khóc, liền tiền đến cổng chùa, kế bờ sông, rồi vớt đứa bé lên.

Ngài nhận thấy phong thư kể rõ sự tình, liền ẵm vào chùa. Hòa thượng lấy tên con sông là Giang Lưu để đạt tên cho đúa bé (Ý nói trôi theo giòng sông). Hòa thượng nhờ một thí chủ nuôi nấng đứa bé. (Tức ngài Huyền Trang sau nầy).

 

Lúc lên 18 tuổi, Hòa thượng thí phát, quy y cho mình, tính tình khiêm tốn, đièm đạm. Huyền Trang miệt mài theo kinh sách, không bao giờ lơi niệm tu hành, cũng như nghiên cứu.

Ngài nổi tiếng là nhà tu uyên bác, luôn luôn khảo cứu, tìm đén uyên nguyên. Ngài lại tìm học chữ Sanskrit, với mơ ước sau nầy sẽ tìm học cho được chính bản kinh từ Ấn Độ.

 

Trong cuốn Histire de la Philosophy Chinoise, nhà sử học Margouiliès có chép :

-  “Ngài Huyền Trang nổi tiếng là một bậc tinh thông Phật học, nhất là Nhon minh học. Ngài kế thừa Vô Trước và Thế Thân trên lãnh vực Duy thức học và môn Tâm lý học Phật giáo.”.

 

 

 

*

*   *

 

 

 

17.-  Phân Tích Về Tây Du Ký

 

 

 

So Sánh Tây Du Ký và Tây Vức Ký :

 

Cuộc hành hương thỉnh kinh, học hỏi và chiêm bái của ngài Huyền Trang rất được lịch sử ghi chép, vừa chính sử và vừa huyền thoại. Chính sử dành cho giới trí thức. Huyền thoại dành cho giới bình dân.

 

Tuy vậy, cả hai cùng một ý nghĩa :  Nói lên sự kiện cương quyết, chịu đựng và niềm tin vô bờ bến của Ngài. Chúng ta có thể tìm thấy một vài điểm khác nhau :

 

 

a.-  Về lý do thỉnh kinh :

 

Trong Tây Vức Ký lý do chính của cuộc thỉnh kinh là tìm về nguyên bản kinh, ngõ hầu tránh các lối suy diễn khác nhau, để bổ khuyết cho nhau về những sự thiếu sót.

 

Trong Tây Du Ký, thì đức Phật nói cho các đệ tử rằng :

-  Ta muốn cho Kinh về Đông Độ (tức Trung Hoa), vì dân chúng ở đây ngu dại, không hiểu giá trị đích thực của Phật Giáo, chẳng biết kinh Du Già chan1h tông. Cần một người tài phép giỏi qua Đông Độ khuyến dạy chúng sanh. Công đức ấy cao như non.

 

Một đằng là do ý thức của vi Cao Tăng, một đằng khác là nỗi ưu tư chung vì đạo pháp phù trầm.

Xét cho cùng, ý niệm cao nhất cũng không ngoài Chấn Hưng Phật Giáo.

 

 

b.-  Nhận vật về Huyền Trang :

 

*.-  Trong Tây Vức Ký :  Ngài Huyền Trang trước theo Nho học, sau nhờ ảnh hưởng của người anh (Tăng sĩ) và thuận duyên học Phật thời Hậu Tùy, nên xuất gia.

 

*.-  Trong Tây Du Ký :  Cha Ngài lúc đi trấn nhậm, thì bị tên lái đò ám hại. Mẽ Ngài, vì hy sinh cho con, chờ sinh nở nên nhận lấy kẻ thù làm chồng. Tên chồng nầy muốn giết Huyền Trang, nên mẹ ngài thả Ngài xuống sông, may được trôi dạt vào chùa Kim Sơn.

 

 

c.-  Về cuộc hành trình :

 

*.-  Trong Tây Vức Ký :  Cuộc hành trình trên Mười lăm năm, băng qua nhiều quốc gia, Ngài độc hành gặp phải trăm đắng ngàn cay, gian tân khổ khuất. Nhiều lúc Ngài phải ngủ trong rừng rậm, đói khát trăm bề, bệnh hoạn liên miên tưởng chừng như mtấ mạng. Rồi cuối cùng, Ngài cũng được đến xứ Phất. Tài liệu là cả một kho tàng lịch sử, địa lý, nhân văn, phong tục, xã hội thật độc đáo ;  giúp cho khoa sử học ngày nay và cuộc bành trướng ngày xưa.

 

*.-  Trong Tây Du Ký :  Cuộc du hành của Bốn thầy trò :  Đường Tam Tạng (tức Huyền Trang), Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng ngang qua nước Bửu Tượng, nước Ô Kê, nước Tỳ Khưu, nước Diệt Pháp và quận Phong Tiên, châu Ngọc Hoa. Hành trình dài Mười tám ngàn dặm, suốt Mười bốn năm lặn suối, trèo đèo, gặp yêu, gặp nạn.

 

Ra đi ngày Rằm tháng chín, niên hiệu Đường Trinh Quán thứ mười ba. Trở về năm Trinh Quán thứ hai mươi bảy.

 

 

d.-  Phiên dịch :

 

*.-  Theo Tây Vức Ký  (và các sử liệu khác) :  Khi trở về, ngài Huyền Trang còn phải bỏ công ra dịch thuật niều bộ kinh rất giá trị, nhất là Duy thức luận của các ngài Long Thọ, Mã Minh, Vô Trước và Thế Thân. Do đó, Ngài đã trở thành vị kế thừa của những vị đã khai sáng Duy thức tông ở Ấn Độ ;  và ảnh hưởng vô cùng lớn lao đối với tông phái nầy ở Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và khắp vùng Đông Nam Á (theo 2500 years of Buddhism).

 

*.-  Theo Tây Du Ký :  Khi ngài Huyền Trang từ Ấn Độ về, vua Đường Thái Tông và triều thần ra đón tiếp cực kỳ trang nghiêm. Ngài thuật lại quá trình qua Tây Trúc, vô vàn chướng ngại và luôn luôn được Bồ tát Quán Thế Âm hộ trì. Và, thỉnh 5,048 cuốn, thuộc Ba mươi lăm bộ chánh kinh.

Tuy nhiên, khi vua mời Ngài thuyết pháp, vừa mới đăng đàn thì ngài Huyền Trang viên tịch.

 

 

 

 

*

*   *

 


TỔ ĐÌNH TỪ ĐÀM HẢI NGOẠI
615 N. Gilbert Rd., Irving, Texas 75061-6240, Tel.: (972) 986-1019, Fax: (972) 790-5855  *USA*

Email:
tudamhaingoai@yahoo.com  -  Website:  www.todinhtudamhaingoai.net