|
ĐẠT MA HUYỀN
TRANG
Bài Thuyết Pháp Của Tổ Bồ Đề Đạt Ma
Cho Vua Lương Võ Đế
*
* *
Tài liệu : Bài
thuyết pháp nầy được khai quật và ấn
hành trong “Historie des
Croyances Religieuses et des Opinions Philosopiques en Chine” (Depuis l’Origine jusqu’a nos jours – Tác giả P.Lelon Wieger –
1922).
Phần thứ
nhất : Bản chất của tâm,
Phần thứ hai :
Phương
thức,
Phần thứ ba :
Phật
tánh,
Phần thứ
tư : Pháp thân,
Phần thứ
năm : Tĩnh tâm,
Phần thứ sáu :
Thiền
luận,
Phần thứ
bảy : Vô minh,
Phần thứ tám : Giác
ngộ,
Phần thứ chín :
Phật
là gì ?
Chú thích : Bài
nầy chính là phần cơ bản của Đạt Ma
Huyết Mạch Luận, cũng là bài giảng lần
đầu tiên khi ngài đặt chân đến Trung
Hoa. Vì bài giảng tại
triều đình, nên tập trung thành phần trí thức
nhà Lương, do đó ngài đã đặt lại
những quan điểm phá tướng, an tâm, pháp thân và
nguyên lý của thiền luận.
Có
thể xem đoạn nầy là yếu chỉ của
thiền luận.
Lý
luận quá mạnh bạo.
Vì vậy vua Lương, dù là một người
rất mến và tôn sùng đạo, cũng không lãnh
hội nổi những ý chính.
Ngài
đành ra đi, mang tâm trạng của một kẻ cô
đơn lạ lùng. Thay
bằng thuyết pháp, ngài bích quán; phần để chiêm
nghiệm, phần để giải minh cho huyết
mạch luận.
Phần thứ nhất : Bản
Chất Của Tâm
Cả
thế giới được nghỉ trong tâm.
Tất
cả chư Phật, quá khứ và vị lai, đã và
sẽ được tạo thành từ trong tâm. Sự hiểu biết
được truyền từ Tâm sang Tâm, nhờ lời
nói. Vậy thì, tất cả
những kinh sách có ích gì? Tâm
của mỗi người đồng điệu, tương
ứng với thực tại muôn đời, với
thực tại muôn nơi.
Tâm
là Phật. Không có Phật
ở ngoài Tâm. Xem sự Giác
Ngộ và Niết Bàn như là những sự vật
ở ngoài Tâm, đó là điều sai lầm. Không có sự Giác Ngộ nào tâm
linh động. Không có
nơi nào là nơi chốn của những lẻ đến
Niết Bàn.
Ngoài
thực tại của Tâm, thì tất cả chỉ là
huyễn tượng.
Chẳng có nhơn, chẳng có duyên. Chẳng có lý do. Chẳng có kết quả. Chỉ có hành động duy
nhất, đó là: Tư
tưởng của Tâm và sự an nghĩ của Tâm, chính là Niết
Bàn.
Đi
tìm một sự vật ngoài tâm mình, là muốn bắt
lấy sự trống không.
Tâm là Phật. Phật
chính là Tâm. Tưởng
tượng Phật ở ngoài Tâm, hình dung Phật ở
bên ngoài chính là sự mê sảng.
Phần thứ hai : Phương
Thức
Vậy
thì, phải tìm vào trong, chứ không nhìn bân ngoài. Phải tự lắng mình vào
mình và tự nhìn thấy Phật Tánh ở nơi chính mình.
Tất
cả chúng sinh đều là Phật như mình. Vậy thì : Mình chẳng cứu ai cả. Không có vị Phật nào hơn
tôi, vậy tôi không phải van xin, phải nguyện
cầu ai cả. Không có
vị Phật nào hiểu hơn tôi, vậy tôi không
cần bắt buộc phải học hỏi trong những
kinh sách của các vị ấy.
Một
vị Phật không bị kềm hãm bởi một
luật pháp nào cả.
Một vị Phật không thể nào sa ngã. Vậy tôi không phải sợ
phạm tội.
Không
có thiện, không có ác, mà chỉ có động tác của
tâm. Mà Tâm là Phật. Vì thế, Tự Tánh không thể
nào lầm lẫn được.
Có
ích gì sự cúng kính, sự hoằng pháp, nhiệt thành,
giữ giới, bố thí, cầu kinh, và tất cả
những thứ khác. Chỉ
cần một điều duy nhất: Nhìn thấy Phật ở nơi
mình. Sự nhìn thấy
ấy sẽ đưa đến Giải Thoát....và là Niết Bàn.
Phần thứ ba : Phật
Tánh
Không
có bất cứ một cuốn kinh nào, hay bất cứ
sự tu khổ hạnh nào có thể đưa ta ra
khỏi luân hồi. Sự
học kinh và tu khổ hạnh hoàn toàn vô ích, phù phiếm.
Không
có quyển sách nào đáng cho ta mở ra để
đọc.
Trong
sự an tĩnh, vô vi hoàn toàn, hãy kiến tánh ở nơi
mình, chính mình. Đó mới
đúng là Phật. Chỉ
học để nhìn thấy Phật Tánh mà thôi, đó là
điều duy nhất đáng học. Tất cả những hình
tượng khác đều là sương mờ và ảo
ảnh. Hãy nhìn Phật
nơi mình, đó mới là sự nhìn thấy chơn
thật, duy nhất mà thôi.
Phật Tánh đều ở nơi mỗi
người và đều giống nhau trong tất cả
mọi người. Khi nào
đã quên hết tất cả mọi sự, để
chỉ giữ lại thực tại duy nhất ấy,
thì đó mới là thoát khỏi bánh xe luân hồi và
đưa đến Niết Bàn.
Tất cả nhửng kẻ thuyết lý đều
là trợ thủ của Maya, và đưa con người
đến chỗ huyễn tưởng. Tất cả những hệ
thống triết học đều hoàn toàn sai lầm và
lường gạt. Khi nói
đến sự tẩy uế, đến những
thiện nghiệp, chuyên tâm và tiến bộ. Đó là phỉnh lừa thiên
hạ.
Mỗi người là
mỗi vị Phật của chính mình và tất cả, ta
đều phải làm cho tới cùng, là nhận
rằng: Mỗi người
đều tiềm tàng thực tại và chơn lý duy nhất
ấy.
Không
có tội lỗi, hay đúng hơn, chỉ có một tội duy nhất, đó là : Tội Vô
Minh, tội không nhận thấy ra được
Phật Tánh ở nơi chính mình.
Tội
lỗi nầy rất nặng, vì nó giữ ta trong cõi vô
thường. Thân xác là phù
du. Cuộc đời trôi
nhanh, trong thời gian ngắn ngủi nầy, ta phải
tự giải thoát, bằng cách:
Tự khám phá lại hình bóng mình.
Trong
giấc mộng, ta có thể thấy được
thực chất của mình.
Trong giấc mộng, chính Pháp Thân tự hé mở
trong bản thể. Đó là
thực tế.
Phần thứ tư : Pháp
Thân
Pháp
Thân nầy đã có vĩnh cữu.
Trải
qua những luân hồi, thăng trầm của những
kiếp, pháp thân vẫn không sinh, không diệt, không thêm,
không bớt, không nhơ nhớp, không bị tẩy
sạch, không yêu, không ghét, không đến, không đi, không
đàn ông, không đàn bà, không già, không trẻ, không tu, không
tục, không ừ, không không...
Pháp
thân không một, mà cũng không nhiều, không thánh mà
cũng không phàm.
Pháp
thân đi vào tất cả và không có gì ngăn cản,
trở ngại. Pháp thân thung
dung trong những kiếp liên tiếp, trong giòng sanh tử. Tất cả chúng sinh, tất
cả vận mạng của chúng sinh đều quy
về Pháp Thân. Chính pháp thân
nầy mà ta phải lại nơi chính mình. Ta phải di động và hành
động trong ánh sáng của tâm.
Pháp
Thân bao trùm tất cả chúng sinh như sông Hằng
giữ trong nước vô số nguyên tử của
đất màu. Ta không thể
diễn tả pháp thân được và cũng không
thể giải thích pháp thân bằng những lời nói.
Mọi
người hãy tự chiêm ngưỡng, lãnh hội pháp
thân cho chính mình. Ngoài những
tên khác, ta còn gọi pháp thân là thánh thể. Lãnh hội được pháp
thân là sự giải thoát giác ngộ và sẽ đưa ta
ra khỏi sự xao động của thế lực mà Đức Thích Ca Mâu Ni gọi là
cuồng loại vĩ đại, chính sự giác ngộ
đưa về an nghĩ trong hư không. Người ta phải khám phá
Phật Tánh ở mức độ mà ta không còn
được lời nói và tư tưởng.
Pháp
thân vô minh, bất biến và không thể nào hủy
diệt được.
Chẳng có Phật nào khác, ngoài pháp thân, vì
rằng: Phật Thân ở
nơi tất cả chư Phật. Pháp Thân cũng ở trong tất
cả mọi người.
Phần thứ năm : Tĩnh
Tâm
Cũng
vì những lẻ ấy, nhắc lại rằng: Chẳng cần kinh kệ,
chẳng cần phải tìm cái gì ở ngoài mình, bởi vì
mình coi tất cả đều có ở nơi mình.
Tất
cả những sự vật bên ngoài chỉ là hư
ảo, giả tạm.
Chẳng có gì thật ngoài ra Pháp Thân. Vô ích nguyện cầu những
gì mà chính mình. Chỉ nên làm
sao cho sự yên lặng, sự Tĩnh Tâm mà thôi. Chính những cái ấy giúp ta
thấy pháp thân nơi mình, tức là Phật.
Tất
cả những biểu tượng giả tưởng,
tất cả những biểu tượng vật
chất, đều là sự sai lầm. Và cũng chính sự sai lầm
ấy, sẽ giữ ta lại, hoặc đưa ta vào
vòng luân hồi, tái sinh. Ta
không nên sùng bái những hình tượng thoát thai từ
nơi mình, bởi vì, những hình tượng ấy
thuộc về pháp thân.
Ta
chỉ nên sùng bái những ý tưởng, thoát ra từ
Phật Tánh. Vậy thì,
tất cả những giả tưởng về thần
thánh, linh thiêng đều đem bỏ đi, vì đó chính
là những ảo tưởng, phù phiếm.
Ta
không nên thờ phượng những vật giả
tướng ấy. Cũng
đừng nên sợ hãi những vật ấy. Đồng thời, ta cũng
nên ném bỏ tất cả những ảo ảnh về
chư Phật. Tất
cả những ảo ảnh đều là ảo
tưởng phù phiếm.
Phần thứ sáu : Thiền Luận
Không
có gì hơn những ý tưởng vô hình của tâm, thoát ra
từ Phật Tánh. Chỉ có một điều ta
thấy thật sự là:
Pháp Thân ở nơi ta.
Phật
là một tiếng Ấn Độ, chứ không phải
tên một người, và có ý nghĩa là Giác
Ngộ hay Linh Giác mà mọi
người có thể đạt đến
được.
Sự
giác ngộ nầy chính là Thiền, mà chúng ta hứng
vọng. Những kẻ
đối nghịch với chúng ta không thể hiểu
được giá trị mà ta đem vào danh từ Thiền.
Thiền
không có nghĩa là tham thiền, suy tưởng gì
cả. Đối với ta,
chỉ đạt đến thiền là: Khi ta thấy được
Phật Tánh, mà không Kiến Tánh, thì chỉ là một
kẻ phàm tục, tầm thường.
Đạo
lý ta khó hiểu đối với mọi người,
bởi vì: Những tiếng
không đủ khả năng để diễn tả
được kết quả của nó, chỉ có kẻ
nào đạt đến được, thì mới
hiểu nổi mà thôi.
Ta
có thể nói với những môn đồ của ta
như thế nầy : “Các người phải
đạt đến Phật Tánh nơi các người,
tức là Pháp Thân, là Thánh Thể ở nơi chính các
người.”
Làm
thế nào để có thể diễn tả
được bằng lời nói của pháp thân giản
dị và trong sạch, không pha trộn, không hợp thành?
Không
thể nào diễn tả được...và bởi vì,
không thể nói ra được; cho nên, tất cả
những kinh luận đều là vô ích. Đó chỉ là những câu
chuyện phù phiếm đi quanh vấn đề. Kiến tánh là một hành
động giản dị và bởi vì sự kiến tánh
không gồm những thành phần một. Sự kiến tánh cũng giống
như một món đồ ăn, cũng giản dị
và lập tức như thế, người ta không bao
giờ thuyết lý viễn vông chung quanh sự nuốt
đồ ăn ấy. Ta
biết nuốt hay không biết nuốt đồ ăn
mà thôi.
Kẻ
nào tưởng tượng một thực tại nào khác
ngoài Phật Tánh bên trong và tìm cách xác định thực
tại ấy, kẻ ấy sai vào lỗi lầm.
Tất
cả những ý tưởng ngoài ra ý tưởng về
Phật Tánh nội tại, tất cả những ý
tưởng ấy chỉ là một bóng ma phù phiếm.
Chính
con tim đã sinh ra những bóng ma, những sai lầm và
đã giữ người trong bánh xe luân hồi.
Con
người sẽ được giải thoát, khi nào, họ
đã phủ nhận tất cả những bóng ma và
những sai lầm ấy, khi họ chỉ gắn
liền với Phật Tánh ở nơi họ.
Giây
phút giác ngộ nầy, giây phút giải thoát nầy,
mỗi người hãy tự đi đến với
chính mình. Giáo lý chỉ có
thể giúp đỡ khi ngưởi ta chuẩn
bị. Giáo lý không thể
tạo ra sự giác ngộ.
Mộng không thể học được. Chết không thể học
được. Lãnh hội
được Phật Tánh nơi chính mình, lại cũng
không thể học được. Pháp Thân rất giản dị. Ta không thể tạo ra
được, ta chỉ lãnh hội được.
Đối với kẻ
nào lãnh hội được pháp thân, thì không cần
đến thiên đàng hay cũng không còn sợ vào
địa ngục; không còn có mình, không còn có kẻ khác,
không còn gì cả ở bên ngoài.
Vậy
thì, việc lãnh hội Pháp Thân là một việc
của Đức Tin tuyệt
đối. Không còn bị pha
lẫn bóng tối của ngờ vực.
Khi
người ta mộng, người ta không bao giờ nghi
ngờ, bởi vì:
Người ta thấy Thật Tánh của mình. Trong khi thức, ta cũng
phải tin tưởng vững chắc như
vậy. Mặc dù bị ràng
buộc những ảo tưởng của giác quan, và
kẻ đó, là những kẻ đã bị sai lầm
của trí tưởng tượng.
Phần thứ bảy : Vô Minh
Đối
với kẻ nào đã khám phá lại bóng hình mình và không còn
bị trói buộc bởi bất cứ một hệ
lụy nào, thì bất cứ một hành động nào
của thể xác vật chất, cũng không thể làm
cho ô uế pháp thân.
Đối
với loại người nầy, không có bất cứ
sự khổ đau hay khoái lạc nào mà có thể ảnh
hưởng đến pháp thân.
Một
kẻ phàm tục có gia đình và làm nghề đồ
tể cũng có thể là một vị Phật. Kẻ nào lãnh hội
được Phật Tánh thì không còn tạo nghiệp
nữa, dù làm bất cứ một hành động nào,
bởi vì kẻ ấy đã được giác ngộ.
Nghiệp
chỉ theo đuổi những kẻ nào chưa giác
ngộ, vì kẻ ấy đang còn ở trong vòng ngu
tối, u minh. Chính sự ngu
muội nầy, đã tạo ra dòng đầu thai luân
hồi ở địa ngục, làm thú và làm người.
Tất
cả nợ tinh thần chấm dứt, vừa khi
sự giác ngộ phá vở màng vô minh. Bậc giác ngộ không làm nên
tội lỗi nữa và cũng không phạm tội
nữa. Tâm của kẻ
ấy đã được ấn dấu, như hai
mươi bảy vị tổ sư trước ta Đã
Nói.
Phần thứ tám: Giác
Ngộ
Ta
phải giảm bớt dần những ấn
tượng, làm nhẹ bớt đi những tham
vọng, tập trung và an trí:
Đó là sự chuẩn bị.
Những
kinh kệ, những sự tu khổ hạnh, những công
trình nghiên cứu học hành, chẳng có lợi ích gì
cả. Còn việc Kiến
Tánh, ta không
thể nào học được.
Tại sao có người đã chuẩn bị
đàng hoàng, và có thành tâm đứng đắn, thế mà
vẫn không đạt đến được? Bởi vì: Nghiệp của họ chống
đối lại.
Sự
hôn mê mù quáng, sự sai lầm, sự chai cứng, sự
bất lực của họ là những hình phạt,
về những tội lỗi của họ trong quá
khứ. Họ chưa
trả hết nợ. Họ
chưa đủ trong sạch, để đến giác
ngộ. Và, trường
hợp nầy có thể xảy ra, đối với
bậc tu hành. Trong khi đó,
ngay cả đến những kẻ phàm tục có gia
đình, lại có thể đạt đến sự giác
ngộ. Đây là nợ tinh
thần và nổ lực cá nhân, chứ không phải do
địa vị xã hội.
Phần thứ chín : Phật Là Gì ?
Ta
đến Trung Hoa nầy để truyền bá Tâm
Ấn, đạo lý mới lạ ở đây mà chưa
ai biết được.
Phật ở trong tâm mỗi người. Giữ giới luật, tu
khổ hạnh, cầu kinh, học vấn nghĩa lý,
tất cả những thứ nầy chẳng dùng được
việc gì cả. Mục
đích duy nhất mà mỗi người cần phải
đạt đến là : Sự Giác Ngộ.
Khi
nào đã đến sự giác ngộ, là một vị
Phật. Một vị
Phật với tất cả chư Phật, dù cho kẻ
ấy không đọc được một chữ nào
hết.
Là Phật, nghĩa là: Thấy được Phật
Tánh nơi chính mình, nơi tâm mình, nơi tâm của tâm mình,
bản thể vô hình và không thể rờ mó
được, mong manh như hư không. Tâm ấy mọi người
đều mang trong mình.
Tâm
ơi ! Hởi tâm ! Mi lớn đến nổi bao
trùm cả thế giới. Mi
nhỏ đến nổi mũi kim không thể xuyên qua
được. Hởi tâm
của ta! Mi là Phật. Mi chính là mi, ta phải qua Trung Hoa
để giảng truyền đạo lý.
Chú thích : Bài thuyết pháp của Bồ
Đề Đạt Ma bao gồm những vấn
đề cơ bản về Phật Tánh, Pháp Thân, và Giác
Ngộ.
Tuy
vậy, lập luận và lời lẻ phát minh của
Bồ Đề Đạt Ma quá mãnh liệt, quá hùng
dũng, và quá cách mạng.
Lương
Võ Đế không chấp nhận, không quán triệt,
cũng không lãnh hội được chiều sâu
huyền diệu, uyên náo ấy trong tư tưởng
của tổ Đạt Ma.
Vì vậy, Bồ Đề Đạt Ma nhất
quyết lên đường, bỏ ra đi vào đất
Ngụy; cuối cùng Bích quán chín năm
|