|
(Ghi chú : Tuy nhan đề là Kỷ Yếu
Kỷ Niệm . . . Tuy thế, ở đây chúng tôi chỉ ghi lại những gì cần phổ biến là những bài
viết của chư Tôn đức và hàng Trí thức Cư sĩ Phật tử mà thôi, những mục không quan trọng
như hình ảnh hay những bài thơ, danh sách quý ân nhân và Phật tử khắp đó đây trên thế
giới đã trực tiếp gởi tịnh tài về ủng hộ xây cất, danh sách chư Tôn thiền đức tham dự
Đại lễ Khánh thành cũng như Đại hội có ở trong tập Kỷ Yếu này, chúng tôi không để vào
đây. Quý vị nào cần tập Kỷ Yếu nầy, xin hoan hỷ có thư về Từ Đàm Hải Ngoại, chúng tôi
sẽ gởi tặng thì đầy đủ chi tiết hơn. Ngoài ra, bài trong nầy là thứ tự vị nào gởi
trước chúng tôi cho sắp trang trước, ngoại trừ mấy bài diễn văn, quyết nghị và thư của
Giáo hội gởi về quê nhà. )
Kính đa tạ,
Chủ trương,
Tỳ kheo Thích Tín Nghĩa
***********
LỜI MỞ ĐẦU
“Bồ đề diệu hoa biến trang nghiêm,
Tùy sở trú xứ thường an lạc.”
Trước khi đức Phật nhập niết
bàn, Ngài trao lại nhiệm vụ cao cả là “giảng giáo” cho hàng đệ tử nối tiếp,
đặc biệt là lớp Thích tử ; Ngài phú chúc : “Tác như lai sứ, hành Như lai sự”
nghĩa là : “Thay ta làm việc Phật, vì các người là sứ mạng của Như lai.”
Sứ mạng Đại Phật tuyên dương cao
cả, và sự nghiệp hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp ấy hàng đệ tử chơn
chánh của Ngài lúc nào cũng canh cánh bên lòng. Vấn để xiển dương Chánh pháp,
tiếp dẫn hậu lai, phò trì mạt vận là bổn phận của để tử Phật, bổn phận của người
có tâm nguyện xuất gia để làm việc đạo, để đền trả bốn ơn nặng, đem thân mạng vào
đời để cứu đời, làm an bá tánh . . .
Với tâm nguyện ấy, từ khi bước
chân vào cửa thiền, có phước báo gần gũi và hầu hạ bổn sư là Đại lão Hòa thượng
thương Tâm hạ Hương hiệu Mật Hiển, tọa chủ Tổ đình Trúc Lâm tại Cố đô Huế trên
hai mươi năm.
Thế rồi Phật pháp, Giáo hội và
Dân tộc cũng nỗi trôi theo vận nước ; sau tháng Tư đen 1975, cũng như bao nhiêu
người con dân Việt bỏ xứ ra đi, chúng tôi cũng từ giả Sư phụ, giả từ tất cả, để
lại sau lưng không biết bao nhiêu là ân tình cao đẹp, vô giá từ khi biết làm người
để mang thân lưu đày xa xứ ; rồi cũng được định cư tại Hoa kỳ ngày 19 tháng 09 năm
1979. Từ đó đến nay, lúc nào cũng cố gắng giữ tâm nguyện như lúc mới bắt đầu làm vị
tu sĩ. Tham gia và tham dự tất cả những gì mà chư Tôn đức Tăng già và Phật tử Hải
ngoại đã hết lòng chung lo một cách tích cực và phù hợp với Phật pháp, với ý nguyện
của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đang mong muốn mà nhất là di huấn của cố
Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Chánh thư ký Xử lý viện Tăng thống.
Với những động lực thúc đẩy quý
giá trên đây, dù gặp chướng ngại, dù hoàn cảnh khó khăn cũng cố gắng hết sức mình ;
bên cạnh đó nhờ sự hộ niệm của chư Tôn thiền đức trong Giáo hội, của hàng Phật tử gần
xa, nên đã tạo dựng được một cảnh già lam tương đối đúng tiêu chuẩn và phong cách của
Đạo lẫn Đời. Ngày 10 tháng 10 năm 1998 (nhằm ngày 20 tháng tám năm Mậu dần) Từ Đàm Hải
Ngoại đã được Khánh thành trọng thể ; đồng thời, nhận lãnh trọng trách tổ chức Đại hội
Thường niên của Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa kỳ, văn phòng
II viện Hóa Đạo năm thứ II, nhiệm kỳ 2.
Tập Kỷ Yếu nầy ghi lại một vài nét
những ngày sinh hoạt của Tổ Đình Từ Đàm Hải Ngoại và Đại hội. Tất cả những bài vở
là của chư Tôn đức và hàng Trí thức Cư sĩ đã trực tiếp tham dự đóng góp. Thay mặt
tứ chúng và Tổ đình Từ đàm Hải ngoại, chúng tôi xin chân thành tri ân và đón nhận
tất cả những ân tình của chư Tôn đức và hàng Phật tử bốn phương đã nồng nhiệt hỗ
trợ vật chất lẫn tinh thần dưới nhiều hình thức trong việc xây dựng ngôi Từ Đàm mà
đặc biệt là những ngày Khánh thành và Đại hội.
Nguyện cầu Tam bảo gia hộ quý ngài và
quý vị mãi mãi an lạc trong nhiệm vụ làm đẹp đời dựng đạo.
Phật lịch 2543, Dallas, ngày đức Phật Giáng Thế - 1999,
Chủ trương,
Khai sáng Từ Đàm Hải Ngoại,
Tỳ kheo THÍCH TÍN NGHĨA
|