|
VÌ SAO CÓ SỰ KHÁC BIỆT
Có một điều rất đặc
biệt mà có lẽ quý vị đã nhận thấy, là tất cả Phật tử không phân biệt truyền
thống hay tông phái tu tập đều có chung một mẫu số. Đó là điều
tôn trọng và bảo vệ sự sống đồng thời thừa nhận và chấp hành giới luật cấm sát
sinh nhằm bảo vệ sự sống ấy. Còn việc làm thế nào để bảo vệ sự sống ấy
thì có những sự khác biệt.
Điều này thiết
tưởng cũng không có gì khó hiểu. Sự khác biệt này là do tâm chúng sinh
khác biệt, do căn cơ và môi trường sinh sống của chúng sinh khác biệt, lại do
không gian và thời gian khác biệt. Hoàn cảnh sống của Phật tử Tây Tạng
khác với hoàn cảnh sống của Phật tử Việt Nam, lại càng khác hơn với Phật tử
sống ở Hoa Kỳ. Ngay như hoàn cảnh quý Tăng Ni theo truyền thống Bắc Tông ở
miền Nam Việt Nam (ăn chay) cũng khác với một số tăng ni theo truyền thống Bắc
Tông sống tại miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975 (không ăn chay). Nếu
quý vị hiểu được những hoàn cảnh khác biệt như vậy thì sẽ thấy không có vấn đề
gì và dễ dàng cảm thông.
Còn lý do tại sao
trong tất cả kinh điển Nam Tông không có điều luật ăn chay mà lại còn có điều
luật cho phép ăn thịt tam tịnh nhục và các kinh điển Bắc Tông lại có điều luật
không được ăn thịt.
Thưa quý vị, thưa
các bạn,
Đức Phật là một đại
lương y, là y vương, trước khi Ngài diễn nói, Ngài quán sát thính chúng, biết
căn cơ của người nghe pháp để đưa ra những giáo pháp thích hợp nhằm chữa cho họ
hết tâm bệnh. Cho nên, chúng ta cũng hiểu rằng mỗi lời Phật nói đều nhắm vào một
mục đích tương đối nào đó, dành cho một đối tượng thính chúng nào đó và ở một
quốc độ hay thời gian nào đó, để tháo gỡ những vướng mắc cho họ. Nếu chúng
ta hiểu được hoàn cảnh của họ thì mới có thể hiểu được lời tuyên bố của Phật.
Vì Phật muốn độ chúng sinh mà phương tiện nói pháp.
Chúng tôi xin lập
lại: Vì Phật muốn độ chúng sinh mà phương tiện nói pháp. Ngài
tuỳ duyên mà nói. Mà đã nói là tuỳ duyên nói pháp, thì không có một pháp
nhất định nào có thể thuyết, có thể nói là đúng hay không đúng, mà chỉ tuỳ duyên,
tuỳ thời, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ căn cơ của từng đối tượng, mà Phật nói pháp.
Trong kinh Đại Niết Bàn, Ngài cho biết lý do tại sao ngày trước Ngài cho phép
hàng Tỳ Kheo ăn ba thứ tịnh nhục. Ngài nói: “Này
Ca Diếp! Ba thứ tịnh nhục ấy chỉ là theo việc mà tạm chế thôi” Cũng là nhơn nơi
sự mà lần lượt chế..”
Trong thời kỳ ban
đầu của đạo Phật, do nội dung cách mạng và giải phóng triệt để hầu xóa tan biên
giới giai cấp cùng cách phân biệt đối xử rất khắc nghiệt của xã hội Ấn Độ thời
ấy, nên nhiều thế lực đã tìm cách phá hoại uy tín của Đức Phật. Cũng do điều
kiện khách quan còn nhiều khó khăn, chưa thể hoạt động thật mạnh mẽ ở tất cả mọi
phương diện, nên Đức Phật đã phải tùy nghi phương tiện, uyển chuyển cải cách, để
vừa hoằng pháp, vừa phát triển, lại vừa sinh tồn.
Ngày xưa, vì nhu
cầu tu học, nên vấn đề ăn uống cần phải được giản dị, thực phẩm phải được xem
như là dược thực, vì thế tăng đoàn thời Đức Phật phải đi khất thực. Khất thực là
chính sách thực hành giáo pháp. Các thầy Tỳ kheo phải giữ tâm bình đẳng mà đi
khất thực từng nhà, không phân biệt giầu nghèo sang hèn để mọi tầng lớp dân
chúng đều có cơ duyên thực hành hạnh bố thí cầu phước.
Pháp khất thực cũng
vừa có mục đích phá trừ ngã chấp, vừa tự độ vừa độ tha, lợi mình lợi người lại
khỏi mất thời gian mua và nấu nướng thực phẩm. Khi ăn thì phải trộn các món ăn
với nhau để không còn phân biệt món này với món khác, món ngon món dở và không
phân biệt mùi vị, mục đích để không còn luyến ái mùi vị thơm ngon, mà chỉ cần ăn
để nuôi sống xác thân mà tu hành giải thoát.
Trong hoàn cảnh xứ
Ấn Độ hai ngàn năm trăm năm trước đây, dân chúng thì nghèo mà tăng đoàn của Phật
thì lại đông, mỗi khi đi khất thực có đến cả ngàn tỳ kheo, làm sao mà có thể có
đủ thực phẩm chay. Lại nữa, đã gọi là trải ruộng phước cho mọi người gieo trồng,
làm sao có thể từ chối vật thực cúng dường, tạo sân hận cho người có lòng cúng
dường. Cho nên sự việc tăng đoàn thọ nhận vật thực cúng dường, dù cho có lẫn
thịt cá, hoàn toàn là tình cờ, chư Tăng không hề quan tâm đến món ăn, chỉ cốt có
thực phẩm để nuôi dưỡng cơ thể có đủ sức tu hành hoàn thành đạo quả.
Cũng do hoàn cảnh
khó khăn, Phật không đòi hỏi mọi người một cách khắt khe, nhưng nhờ Giới Không
Sát Sanh do Ngài ban hành sẽ thấm nhuần từ từ khiến cho mọi Phật tử sẽ ngừng tay
giết hại súc sinh, thay thế thực phẩm bằng các thực vật rau đậu, chừng đó họ sẽ
cúng dường rau đậu trái cây.
Hơn hai ngàn năm đã
trôi qua, ngày nay, đời sống toàn thế giới đã tương đối sung túc hơn. Các vùng
sa mạc nay cũng có thể trồng được hoa mầu. Lương thực không còn thiếu thốn như
xưa. Dù nghèo, mọi người muốn cúng dường chư Tăng đều có thể thực hiện được vì
thực phẩm rau đậu đâu đâu cũng có, vừa tinh khiết lại nhiều chất bổ dưỡng.
Nên nhớ là chư Tăng
hoan hỷ nhận lãnh bất cứ gì người Phật tử tại gia vui lòng cúng dường.
Việc ăn thịt trong ba trường hợp mà Đức Phật cho phép không còn đúng cho ngày
nay, đó chỉ là pháp phương tiện mà Đức Phật uyển chuyển ban hành trong thời kỳ
khó khăn nói trên. Chúng sinh có bệnh, Phật cho thuốc cũng phải tùy bệnh,
tùy hoàn cảnh, thời đại, cơ duyên, có lúc thuốc phải nhẹ nhàng để thấm từ từ, có
lúc bệnh nhân đủ sức chịu đựng thì Phật cho uống liều mạnh để khỏi bệnh luôn.
Hay nói một cách khác, tất cả lời Phật đều là pháp phương tiện giáo hóa chúng
sinh, pháp đó hợp với lý chân thật của vạn sự vạn vật, nhưng do hoàn cảnh không
gian và thời gian sai khác, nên pháp đó có thể phù hợp hay áp dụng được ở một
quãng thời gian hay không gian nào đó cho một số chủng loại chúng sinh nào đó,
nhưng cũng có thể không phù hợp hay không áp dụng được cho một thời kỳ nào khác
hay nơi chốn nào khác cho chủng loại chúng sinh khác. Đó gọi là “tuỳ
duyên”. Nhưng “tuỳ duyên” mà bất biến. Bất biến là
phải thực hiện cho được hạnh từ bi và bình đẳng đối với tất cả các loài chúng
sinh.
Người ngày xưa khác
với người ngày nay. Hoàn cảnh ngày xưa khác với hoàn cảnh ngày nay.
Người và phong thổ xứ Ấn Độ khác với người và phong thổ xứ Trung Hoa và lại càng
khác hơn với người và phong thổ xứ Hoa Kỳ, xứ Tây Tạng… Cho nên không có gì là
khó hiểu khi thấy Phật Giáo truyền sang phương Bắc chủ trương ăn chay, truyền
sang Tây Tạng có nơi ăn chay có nơi không ăn chay, tuy rằng ba bộ kinh liễu
nghĩa Bắc Tông: Kinh Lăng Già, Kinh Lăng Nghiêm và Kinh Đại Bát Niết Bàn đức
Phật đều dạy các đệ tử không được ăn thịt.
Sau nữa kinh Phạm
Võng của Phật Giáo Bắc Tông nói về Bồ Tát giới: gồm 10 giới trọng và 48 giới
khinh, trong đó giới khinh thứ 3 cấm ăn thịt. Bởi thế người nào thọ giới Bồ Tát
phải trường trai. Tuy nhiên, do căn cơ của Phật tử tại gia sống tại hải
ngoại, (chúng tôi xin lập lại là Phật tử tại gia sinh sống tại hải ngoại)
nên vào năm 1989, Hoà Thượng Thích Đức Niệm soạn dịch quyển Tại Gia Bồ Tát Giới,
thu lại còn 6 giới trọng và 28 giới khinh, trong đó không bắt buộc Phật tử tại
gia thọ Bồ Tát Giới phải trường trai nữa mà chỉ cần giữ ít nhất 6 ngày chay
trong một tháng (giới khinh thứ 7). [Tại Gia Bồ Tát Giới, Phật Học Viện Quốc Tế
Xuất Bản 1999]
Có lẽ cũng do hoàn
cảnh ngày nay khác ngày xưa và “giáo pháp muốn tiếp tục được hữu hiệu trong việc
độ đời, phải có tính cách khế lý và khế cơ”, nên Hoà Thượng Nhất Hạnh đã soạn
thảo lại giới luật Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni. Bộ luật mới này được gọi là “Giới
Bản Khất Sĩ Tân Tu” (The Revised Pratimoksha) và đã được ban hành vào đầu
năm 2003, trong đó cũng có những giới điều mới phù hợp với thời đại ngày nay và
đặc biệt có giới không được ăn mặn (giới thứ 55).
Chúng tôi muốn nêu
lên hai sự việc này nhằm cho thấy là quý thầy đã uyển chuyển áp dụng lời Phật
dạy, áp dụng nguyên tắc khế lý và khế cơ, nguyên tắc tứ tất đàn trong giáo lý
nhà Phật. Còn việc quý thầy (Hoà Thượng Thích Đức Niệm, Hoà Thượng Thích
Nhất Hạnh v.v…) soạn lại giới luật có đúng với luật Phật không thì chúng tôi
không dám có ý kiến vì đó là việc làm của chư Tăng.
Tưởng cũng nên nhớ
vào thời đức Phật, Đề Bà Đạt Đa đã thỉnh cầu Đức Phật ban hành thêm năm điều
trong giới luật của hàng xuất gia, trong đó có giới Tỳ Kheo phải ăn chay suốt
đời. Với lòng từ bi và đức khoan dung, và cũng có thể đức Phật sáng suốt
nhận thấy thời điểm chưa thuận tiện, nên ngài tuyên bố rằng các đệ tử của ngài
được tự do hành động về năm điều này, muốn áp dụng hay không cũng được.
Cũng ngày nay tại
quốc gia Tây Tạng với nhiều đặc thù, trong giới Bồ Tát của Tây Tạng gồm 18 giới
trọng và 64 giới khinh, không có giới nào cấm ăn thịt cả.
Kính thưa quý vị,
Hơn 60 phút vừa
qua, chúng tôi đã cố gắng trình bày nhiều khía cạnh khác nhau về vấn đề ăn
chay, ăn mặn, vì biết rằng mỗi người đều có ý kiến riêng, không ai giống ai,
mỗi người đều có căn cơ riêng và phước duyên khác nhau; không ai có thể áp đặt ý
kiến của mình cho người khác. Thật ra, những vấn đề khác biệt mà chúng tôi
vừa trình bày, không nên còn là vấn đề tranh luận nữa, nếu tất cả chúng ta
cùng tôn trọng sự khác biệt của nhau, khác biệt do hoàn cảnh, do môi trường sinh
sống, do môi trường tiếp cận kinh sách khác nhau, do nhân duyên, nhân quả mỗi
người khác nhau và đặc biệt do sự lựa chọn lối sống cá nhân.
Có một điều chắc
chắn quý vị và chúng tôi đều đồng ý rằng đạo Phật không phải là một tôn giáo có
đức tin mù quáng. Đức Phật đã dạy chúng ta rằng đừng nên tin tưởng một điều gì
vì văn phong, vì tập quán lưu truyền, vì là bút tích của thánh nhơn, của thầy
dạy mà chỉ tin vào kinh nghiệm học hỏi và thực hành nơi chính mình và nhận là
đúng, có lợi cho mình và có lợi cho chúng sinh thì áp dụng. Tất cả tùy thuộc nơi
trí tuệ và tấm lòng từ bi của mỗi chúng ta. Chúng ta có quyền tự do lựa chọn,
lựa chọn ăn chay hay ăn thịt cho ngon miệng hay không ngon miệng không phải là
vấn đề quan trọng mà là chọn một lối sống có ý nghĩa cho mình mới là điều quan
trọng.
Xin trân trọng cảm
ơn quý vị đã lắng nghe và tiếp theo đây chúng tôi bước sang phần thứ ba của buổi
thuyết trình ngày hôm nay.
*
*
*
Please press HOME
to go back to the main web page
HOME
|