Trang Chính | Từ Đàm Hải Ngoại | Thiền Phái Trúc Lâm | Phật Pháp
Pháp Âm
| |Tin Tức Phật Giáo | Tổng Vụ Cư Sĩ | Tin Tức Sinh Hoạt |  Nối kết | Hình ảnh
Thư tịch H.T. Trí Chơn | Thư tịch H.T. Tín Nghĩa


Tìm hiểu, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

 

 

 

 

Tìm hiểu :

 

GIÁO CHỈ, THÔNG BẠCH, THÔNG TƯ,

TƯỜNG TRÌNH, THÔNG CÁO

của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

 

trong những ngày qua.

 

Tâm Tịnh

 

 

              Nhiều dư luận xôn xao gần đây trong các cộng đồng Phật Giáo khắp năm châu, đặc biệt tại Hoa Kỳ qua Giáo Chỉ của Ðức Tăng Thống, Thông Bạch của Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo, tường Trình của Hòa Thượng Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống, Thông Cáo Báo Chí của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, Thông Tư của Hòa Thượng Thích Hộ Giác, Chủ Tịch Hội Ðồng Ðiều Hành, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ.

 

              Lần đầu tiên trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam, ngay cả Phật Giáo thế giới lại có cuộc thanh trừng nội bộ Tăng Già, thanh lọc hàng ngũ cư sĩ vì quan điểm chính trị. Trong truyền thống Tăng Già nếu có những biện phạm chế tài là chỉ liên quan đến giớí luật và phải qua thủ tục Yết Ma trong những ngày Bố Tát. Ðiều này thì chư vị Hòa Thượng thông thạo hơn ai hết. Tại sao lại có Giáo Chỉ, Thông Bạch như vậy ? Chúng tôi cố tìm hiểu vấn nạn này qua việc nghiên cứu hình thức, nội dung của những tư liệu trên.

 

              1. Trước khi có Giáo Chỉ, Thông Bạch, Tường Trình, Thông Tư . . . ra đời thì đã xuất hiện trên Internet những bài đả kích người này, người nọ cho là thân cọng, làm tay sai cho cọng sản v.v. . . mở đầu cho những gì sắp xảy ra.

 

              2. Khi đọc những tài liệu từ Bản Phúc Trình của Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống, viết tại Huế ngày 8.9.2007, đến Giáo Chỉ số 09 của Ðức Tăng Thống ra ngày 8.9.2007, chiếu biên bản cuộc họp bất thường và thu hẹp của chư vị Giáo Phẩm trong Hội Ðồng Lưỡng Viện GHPGVNTN ngày 22.8.2007 tại chùa Giác Hoa để nghe phúc trình, đánh giá tình hình và lấy quyết định thanh lọc hàng ngũ Giáo Hội nhằm đối phó tình hình khẩn trương trong nuớc, Thông Bạch của Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo ra ngày 25 tháng 9. 2007 dựa vào Bản Phúc Trình của Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, hướng dẫn thi hành Giáo Chỉ số 09 của Ðức Tăng Thống.

 

              Ðọc những tài liệu này vớí ngày tháng ghi trên làm chúng tôi lưu ý :

 

              1/ Bản Phúc Trình của Hòa Thượng viết tại Huế ngày 8.9.2007 thế mà Hội Ðồng Lưỡng Viện họp tại chùa Giác Hoa ngày 22.8.2007 để nghe phúc trình và báo cáo cho đức Tăng Thống. Có lẽ nghe những phúc trình khác chăng, tài liệu không thấy đề cập.

 

              2/ Giáo Chỉ của đức Tăng Thống ra ngày 8.9.2007, đồng ngày vớí bản Phúc Trình của Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh viết tại Huế ngày 8.9.2007, một sự trùng phùng khá đặc biệt.

 

              3/ Tuy bản Tường Trình viết ngày 8.9.2007 và Giáo Chỉ ra cùng ngày nhưng nội dung không mấy khác nhau, vô lẽ hai ngài đồng giao cách cảm ?

 

              4/ Bản Tường Trình của vị Chánh Văn Phòng của Viện Tăng Thống lại không gửi cho đức Tăng Thống mà gửi cho Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo.

 

              5/ Bản Tường Trình mà chỉ dựa vào những lần nói chuyện trên điện thoại rồi đưa đến kết luận để ra chỉ thị cho vị Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo ?

 

              6/ Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo tuân hành đề nghị của vị Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống mà không hỏi ý kiến của đức Tăng Thống ?

 

              7/ Ðức Tăng Thống ra Giáo Chỉ theo chỉ thị của vị Chánh Văn Phòng cho vị Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo ?

 

              8/ Hãy nghe lời lẽ của bản Tuờng Trình : “Anh Trần Quang Thuận chê trách Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ. Bùi Ngọc Đường ngoài những lờì như anh Thuận còn chê bai Giáo Hội. Sau hết Bùi Ngọc Ðường khuyên chúng tôi từ chức Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống để nghỉ ngơi, giống như hệt lời Thượng Tướng Công An Nguyễn Văn Hướng đã khuyên Ðức Tăng Thống thôi việc, nghỉ ngơi”.

 

              Tôi có hỏi anh Trần Quang Thuận về điểm này, anh cho biết : “anh đến thăm Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh hai lần, một lần khi từ Sàigòn ra và lần thứ hai sau khi từ Hànội vào, được Hòa Thượng mời dùng cơm. Anh Thuận cho biết đến thăm Hòa Thượng Viện Trưởng 10 ngày truớc khi về Mỹ, nên khi thăm Hòa Thượng Thiện Hạnh thì chưa thăm Hòa Thượng Viện Trưởng, do đó làm sao có chuyện chê trách. Hơn nữa dùng danh từ chê trách thì không đúng lắm. Ngay bây giờ dù Hòa Thượng Thiện Hạnh có nói vậy chăng nữa, tôi cũng không chê trách Hòa Thượng, huống gì đối với Hòa Thượng Viện Trưởng mà tôi rất tôn kính, đã quen biết từ năm 1951 khi tôi ra Hà Nội ở chùa Quán Sứ. Tôi ghé thăm Hòa Thượng Viện Trưởng sau khi từ Huế vào Saìgòn chuẩn bị trở về Mỹ.

 

              Sau thời gian thăm hỏi, cung cấp tin tức và nhận xét sau thời gian thăm viếng các nơi, thấy Hòa Thượng độ rày trông khoẻ mạnh hơn năm ngoái nên tôi xin chụp hình để về Mỹ cho quí Thầy và Phật tử thấy. Khi trao đổi quan điểm không thấy Hòa Thượng tỏ lộ bực mình thì sao gọi là chê trách”.

 

              Anh Trần Quang Thuận cho biết tiếp: “trên lập trường chính trị, anh và Hòa Thượng Viện Trưởng cũng như các thành viên trong Hội Ðồng Giáo Phẩm, Hội Ðồnhg Ðiều Hành, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ không khác biệt mấy, đôi khi có bất đồng ý kiến chẳng qua về phương thức diễn đạt và trọng tâm. Tôi thì không thích dùng những từ ngữ to lớn không cần thiết, chẳng hạn như khi viết về Ban Chỉ Ðạo Viện Hóa Ðaọ thăm viếng, ủy lạo cho tập thể dân oan, viết “Các cuộc cứu trợ thuần túy từ thiện, xã hội của Giáo Hội . . .” không cần thiết phải để chữ thuần túy làm gì.” Về trọng tâm, anh Thuận nói : đồng ý hoạt động dân chủ rất cần để nói lên sự quan tâm của Giáo Hội, nhưng nó không phải là hoạt động chính của Giáo Hội. Chống độc tài, chuyên chính là chính đáng, nhưng chống không có nghĩa là thù hận. Một ngày nào đó khi Việt Nam không còn dưới chế độ cọng sản, nhưng nếu bị một chính quyền độc tài khác cai trị thì Phật Giáo cũng không thể ủng hộ, Không ủng hộ, nhưng không hận thù. Ðạo Phật không thù hận. Trong ngôn ngữ Phật Giáo không có hận thù dù bị hành hạ, dù bị đối xử bất công. Anh Thuận còn nói thêm : đối với chư Tăng Ni, Phật Tử, anh không phân biệt thuộc phe nhóm nào mà đều xem là người nhà, là bạn đạo.

 

              Không có Phật Giáo Quốc Doanh, không có Phật Giáo Thống Nhất mà chỉ có những hình thái riêng biệt. Nếu bảo đó là không chính chuyên, là quay lưng laị với Giáo Hội thì xin đầu hàng . . .

 

              Sau khi nói chuyện với anh Trần Quang Thuận xong, chúng tôi gọi điện thoại hỏi anh Bùi Ngọc Ðuờng thì anh cho biết: không những không khuyên Hòa Thuợng Thích Thiện Hạnh từ chức Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống mà còn khuyến khích Hòa Thượng ở lại ngôi vị khi Hòa Thượng tỏ vẻ chán ngán . . .

 

              9 / Hòa Thượng Chánh Văn Phòng bây giờ lại xem lời khuyên (anh Bùi Ngọc Ðường nói hoàn toàn không có) của một nguời quen biết lâu năm không khác lời khuyên của Thượng Tướng Công An thì thật không đứng đắn cho lắm.

 

              10 / Cũng trong lời lẽ trên bây giờ Hòa Thượng Chánh Văn Phòng lại sánh mình vơí Ðức Tăng Thống !

 

              Ðáng lý ra vớí tư cách của một Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống khi nghe những lời chê trách Hòa Thượng Viện Truởng (nếu có), nghe lời khuyên từ chức (nếu có) Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh phải nói cho họ biết những sai lầm về lời chê trách, về lời khuyên từ chức, hay ít nhất cũng khuyên họ đừng vì những chính kiến bất đồng mà chia rẽ lẫn nhau, kích bác lẫn nhau, tráí laị ở đây Hòa Thượng Chánh Văn Phòng không nói gì hết (hay có nói mà không báo cáo), mà còn mời họ dùng cơm để rồi sau đó nói lại họ là xây lưng lại với Giáo Hội, cô lập nhị vị Hòa Thượng, bất trung, bất nghĩa. Có phải đó thật là lời nói của vị Chánh Văn Phòng hay ai viết ra rồi nói đó là của ngài ?.

 

              11/ Hãy xem kỹ 5 biện pháp của Hòa Thượng Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống mà lời lẽ không khác mệnh lệnh, gửi cho vị Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo :

 

              1/“Chấn chỉnh các Hội Ðồng Ðiều Hành GHPGVNTN Hải Ngoại tại các châu lục, lập lại kỷ cương sinh hoạt tổ chức Giáo Hội, lấy lại niềm tin cho Tăng Ni, Phật Tử trong và ngoài nuớc đang vọng hướng về Giáo Hội.”

 

              Nếu đem so sánh mệnh lệnh này vớí Giáo Chỉ của đức Tăng Thống ở Ðiều 1, chúng ta sẽ thấy khác nhau một trời một vực. Lời lẽ ở đây giống như mệnh lệnh của vị Thánh Sống hay một đại hoàng đế cai trị bốn phương thiên hạ. Chúng tôi không tin đây là ý kiến và lời lẽ cuả một vị Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống. Hiến Chương GHPGVNTN, Chương IV, Ðiều 10 nóí về Nhiệm Vụ cuả Viện Tăng Thống viết :

 

              a) Chuyên trách về sinh hoạt giới luật cho Tăng Ni bằng cách :

 

              -. Trông coi việc truyền thụ giới luật do Tăng bộ đệ trình.

 

              -. Cấp phát giới điệp cho cả hai Tông phái

 

              -. Lập Tăng tịch

 

              -. Trông coi luật “Y luật xử trí” do Tăng Bộ đệ trình

 

              b) Trình Ðức Tăng Thống phê chuẩn và ban hành Hiến Chuơng GHPGVNTN

 

              c) Phê chuẩn và ban hành những qui chế liên hệ Tăng, Ni Việt Nam

 

              d) Trình Ðức Tăng Thống tấn phong Viện Hóa Ðạo

 

              e) Là Hội Ðồng Cố Vấn về đạo pháp cho Viện Hóa Ðạo.

 

              Không biết Hòa Thượng Chánh Văn Phòng dưạ vào điều khoản nào trong Hiến Chương mà đưa ra đề nghị có vẻ lệnh lạc như trên ? Hòa Thượng Chánh Văn Phòng bây giờ có quyền hạn hơn cả Ðức Tăng Thống ? và Hòa Thượng Chánh Văn Phòng bây giờ ra lệnh trái với Giáo Chỉ của Ðức Tăng Thống ?

 

              Giáo Hội PGVNTN đâu phải là Tòa Thánh Vatican mà có quyền chấn chỉnh các Hội Ðồng Ðiều Hành GHPGVNTN Hải Ngoại ? Không biết Hòa Thượng ra lệnh như thế này có đại ngôn không ?

 

              Khẩu khí của Hòa Thượng bấy lâu đâu có phải như vậy ! Thế mà Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo lại dựa vào đó để ra Thông Bạch !

 

              Truớc ngày Ðại Hội của Giáo Hội PGVNTNHN tại Hoa Kỳ đuợc khai mạc tại San Jose vào những ngày 25, 26, 27 tháng 9 năm 1992, Hòa Thượng Thích Huyền Quang viết Thư Chúc Mừng đề ngày 20-8-1992 với lời lẽ sau : “ . . .Tăng Ni Phật Tử tại quê nhà đã luôn luôn theo dõi từng buớc đi, từng việc làm, từng nhịp thở của qúi vị trong quá trình vận động thống nhất Phật Giáo tại Hoa Kỳ và Hải Ngoại nên đã hết sức vui mừng khi đuợc biết Ðại Hội Thống Nhất sắp được long trọng khai diễn .

 

              Trong đoạn kết Hòa Thượng viết : “. . Thay mặt Hội Ðồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, tôi xin cầu nguyện hồng ân Tam Bảo, Lịch Ðại Tổ Sư, Chư Anh Linh Thánh Tử Ðạo từ bi gia hộ cho Ðại Hội đuợc thành công như uớc nguyện . . .” Thật là những lời lẽ từ ái, thâm tình khó quên và qua những lời lẽ này cho thấy Giáo Hội PGVNTNHN tại Hoa Kỳ là thành quả của mọi nỗ lực của Tăng Ni Phật Tử Việt Nam tại Hoa Kỳ chứ không phải là một tổ chức do Giáo Hội Mẹ tạo ra, để rồi khi không ưa, lúc nóng giận nhất thời vì lời đồn đãi mà nỡ lòng trừ bỏ như lời của vị Chánh Văn Phòng.

 

              Ðề nghị thứ hai hay lệnh thứ hai : “Những thành viên trung kiên vớí Giáo Hội lâu nay, hãy bảo vệ các vị vơí bất cứ giá nào trước những mưu mô, xuyên tạc hạ uy tín mà Cọng sản Việt Nam đang cài người vào nội bộ chúng ta để quấy phá. Tạo điều kiện tốt để các vị tiếp tục phục vụ Giáo Hội và Dân Tộc”.

 

              1/.Giờ đây thì ý đồ của người chủ mưu hơi hé lộ ra. Muốn lưu nhiệm thì nhờ Giáo Hội bên Việt Nam lưu nhiệm như truớc đây đã từng làm, cần gì phải bày những trò kỳ lạ làm thương tổn thanh danh Giáo Hội ?

 

              Hòa Thượng vô lẽ khuyên Hòa Thượng Chánh Văn Phòng (nếu có) là không trung kiến ? Sao Hòa Thượng Chánh Văn Phòng không yêu câù điều tra thực hư sự việc ? Sao Hòa Thượng Chánh Văn Phòng không nghi đây là âm mưu đen tối ? Sao Hòa Thượng Chánh Văn Phòng không có phản ứng gì với người chê trách Hòa Thượng Viện Trưởng mà mời dùng cơm ? Sao Hòa Thượng Chánh Văn Phòng tiếp chuyện vui vẻ với người khuyên Hòa Thượng từ chức không khác gì Thượng tướng Công An ? Vô lẽ chỉ có vẻ muốn thỏa hợp (nếu có) là không trung kiên ? là “bất trung, bất nghĩa” ?

 

              Vô lẽ một Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống có thể thốt ra lời nói này vớí những người từng phục vụ Giáo Hội lâu hơn Hòa Thượng ? Dù là con cháu của mình cũng không thể vì mấy cú điện thoại (nếu có) mà nặng lời nguyền rủa, mà lên án, khai trừ ?

 

              Xin đọc Hiến Chương, Chương II, nóí về Mục Ðich của Giáo Hội, ở Ðiều 4 : ”Giáo Hội PGVNTN điều hơp hai tông phái Phật Giáo để phục vụ nhân loại và dân tộc bằng cách hoằng dương Chánh Pháp.”

 

              Ngay với các giáo phái, hệ phái tại Việt Nam, Giáo Hội cũng chỉ điều hợp chứ không ra lệnh huống gì với các Giáo Hội năm châu mà Giáo Hội Mẹ chỉ có liên hệ tinh thần chứ không có ràng buộc pháp lý. Không biết Hòa Thượng Chánh Văn Phòng có am tường hoạt động hoằng pháp của các Giáo Hội Âu Châu, Úc Châu, Canada như thế nào để xem họ có đi đúng đường hay sai đường mà gọi là bất trung, bất nghĩa để khai trừ, thanh lọc ? Vô lẽ bắt họ suốt ngày tuyên truyền chống cọng sản mớí là trung kiên ? Vô lẽ đây là lời chỉ giáo cuả vị Chánh Văn Phòng của Viện Tăng Thống mà nhiệm vụ chính là chuyên trách về sinh hoạt giới luật cho Tăng Ni ? Hòa Thượng Chánh Văn Phòng có bao giờ đề nghị biện pháp chế tài vớí Tăng Ni phá trai phạm giới ? Hay những điều đó không quan trọng đối vớí Phật Giáo, chống cọng mới là chủ trương, đường lối chính ? Hòa Thượng biến Giáo Hội thành một đảng phái chính trị khi nào ? Và với quyền hạn nào cho phép Hòa Thượng làm như vậy ?

 

              Ðề nghị thứ ba hay mệnh lệnh thứ ba của Hòa Thượng Chánh Văn Phòng cho Hòa Thượng Viện Trưởng : “Những cá nhân, hoặc nhân danh tập thể, không còn giữ đuợc lòng trung kiên vớí Giáo Hội, thì tạo điều kiện để các vị được rút lui, không nên cầm giữ làm gì, ít cũng đuợc, ít mà lòng trung thành, chí kiên hậu còn hơn nhiều mà bất trung, bất nghĩa. Thập niên 90 chỉ có hai vị Hòa Thượng đơn độc. Ai bảo là nhiều ? Một thập niên sau, chung quanh hai vị Hòa Thượng có thêm Hội Ðồng Lưỡng Viện, có thêm 22 Ban Ðaị Diện các quận, huyện, tỉnh, thành. Ai bảo là ít ?”

 

              Thật là khẩu khí của một Thái Thượng Hoàng, không từ chùa Báo Quốc, Huế ban xuống mà từ điện Versailles, Pháp Quốc ban ra, xem những cá nhân, tập thể Giáo Hội trên năm châu, bốn biển chỉ là con cháu lúc nhúc của mình, muốn làm gì thì làm ; cảm thấy an ủi khi có hai vị Hòa Thượng tuy không nhiều nhưng không đơn độc, để rồi mười năm sau, cảm thấy tự mãn có thêm hai Hội Ðồng, 22 Ban Ðại Diên, đâu phải ít, mà không biết thần dân năm châu bốn biển, đông đông, nhiều nhiều hơn nữa ngày đêm theo dõi phập phồng lo âu ?

 

              Dở tài liệu cũ chúng ta thấy, khi hay tin chư vị lãnh đạo, hàng Tăng Ni, Phật Tử tại quê nhà gặp nguy khốn, truớc khi GHPGVNTNHN tại Hoa Kỳ ra đời, chư Tăng Ni Phật Tử tại Hoa Kỳ đã đứng ra thành lập Ủy Ban Hải Ngoại Bảo Vệ Phật Giáo và Nhân Quyền tại Việt Nam ngày 12 tháng 7, 1992.

              Hai vị Hòa Thượng vào thập niên 90 thật sự không cô đơn như Thông Bạch đã cố tình phủ nhận.

              Chư Tăng Ni Phật Tử tại Hoa Kỳ luôn luôn quan tâm đến hai ngài, đến tình hình Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

 

              Ðề nghị thứ tư hay mệnh lệnh thứ 4 của vị Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống cho Hòa Thượng Viện Truởng : “Ðối vớí các vị Hòa Thượng có tuổi cao, sức yếu, có ý định nghỉ ngơi, tịnh duỡng, thì xin cung thỉnh chư vị lưu lại cùng Giáo Hội, trong lúc Giáo Hội đang lâm nguy bởi nội ma, ngoại chướng.”

 

              Ðề nghị thứ năm và hay mệnh lệnh thứ năm : “Ở trường hợp bất khả kháng, không thể hội họp, không đựợc đi lại, gặp nhau, bàn bạc, thảo luận như Hiến Chương qui định, thì phải tính tớí dùng Giáo Chỉ, Quyết Ðịnh, Thông Tư . . . để điều hành Phật sự lúc nguy biến.”

 

              Hai mệnh lệnh này làm rõ hơn dụng ý của nguời sắp xếp trận đồ và cho phép những người thừa hành vi phạm Hiến Chương, Qui Chế, Nội Qui : Hãy lưu nhiệm họ, hãy thanh trừng kẻ kia, hãy điều hành Phật sự nếu cần bằng Giáo Chỉ, Quyết Ðịnh, Thông Tư, Thông Cáo. Hiến Chương là ta, sau ta là hai nghìn năm lịch sử truyền thừa !

 

              1/ Một vị Chánh Văn Phòng bây giờ không cần ý kiến của Ðức Tăng Thống mà dám đưa ra mệnh lệnh điều hành Phật sự bằng Giáo Chỉ, làm như Giáo Chỉ là của Chánh Văn Phòng ban ra mà Ðức Tăng Thống chỉ cần ký tên !

 

              2/ Vị Chánh Văn Phòng bây giờ đứng trên tất cả Hiến Chương, Qui Chế, Nội Qui mà không cần ban hành lệnh khẩn trương (State of Emergency).

 

             3/ Mệnh lệnh này không biết tại sao Hòa Thượng Viện Trưởng cúi đầu tuân thủ ?

 

              Từ ngày thành lập Giáo Hội PGVNTNHN tại Hoa Kỳ, thành phần nhân sự được lưu nhiệm nhiều lần qua Giáo Chỉ. Các thành viên của Giáo Hội Hoa Kỳ khâm tuân Giáo Chỉ không phải vì Giáo Chỉ có quyền Lập Pháp đối vớí Giáo Hội Hoa Kỳ, nhưng vì kính nể chư tôn Hòa Thượng tại quê nhà mà tuân theo. Kỳ Ðại Hội năm 2004 vừa qua, Ðaị Hội định bầu lại các Hội Ðồng, một nhóm nguời đã chuẩn bị bằng cách vội vàng lập ra mấy chục “HỘI PHẬT HỌC” (chỉ có tên mà không có Hội Viên, không trụ sở, không sinh hoạt) để khi bỏ phiếu được đa số, may sao Giáo Chỉ đến kịp thời, các Hội Ðồng không thay đổi. Kỳ này Hòa Thượng Thích Hộ Giác tuyên bố không muốn tiếp tục làm Chủ Tịch Hội Ðồng Ðiều Hành. Nên nghĩ, sẽ gặp khó khăn, vì nghe đâu trong kỳ Ðaị Hội Thường Niên, một số vấn đề quan trọng sẽ đưa ra thảo luận, chuẩn bị cho Ðại Hội Khoáng Ðaị năm tớí (2008), trong đó những nhân vật chủ chốt có thể bị thay thế, hay không nắm giữ những vị thế then chốt vì nhiều lý do. Thế là một thế trận được bày ra :

 

              a/ Trước hết là trò vu khống, mạ lỵ được tung ra trên Internet :

 

              b/ Tiếp theo là Giáo Chỉ và Bản Tường Thuật cùng viết ra một lúc (8.9.2007), và Bản Tường Thuật của vị Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống lại đưa ra mệnh lệnh khác hẳn Giáo Chỉ. của Ðức Tăng Thống.

 

              c/ Kế tiếp là Thông Bạch hướng dẫn thi hành Giáo Chỉ số 09 của Ðức Tăng Thống theo 12 Ðiều (sẽ bàn sau) ra ngày 25 tháng 9, 2007 khác hẳn nội dung Giáo Chỉ.

 

              d/Thông Cáo Báo Chí làm tại Paris ngày 26.9.2007 (sẽ đi vào chi tiết sau) lời lẽ nặng hơn các văn kiện khác.

 

             Tất cả những hoạt động này có tính khẩn thiết làm như để bảo vệ sinh mạng của chư vị Hoà Thượng, tôn túc, cứu nguy Giáo Hội, mà theo Thông Cáo Báo Chí “Ðây là kết thúc sáng suốt chấm dứt tình trạng gây rối nội bộ Phật Giáo nhằm tiếp tay với nhà cầm quyền Cộng sản trong âm mưu tiêu diệt GHPGVNTN. Một tình trạng kéo dài gây hoang mang dư luận quần chúng Phật tử từ trong và ngoài nước suốt nhiều năm qua.”

 

              Nghe những lời trên ai mà không động lòng ? Ai mà không ghét những phần tử phá rối, làm tay sai cho cọng sản ? Vũ khí truyền thông đã được sử dụng đúng lúc, đúng cường độ để dành thắng lợi còn tội vọng ngôn, ác khẩu thì đời sau mới có !

 

              Những hoạt động này phải được hoàn tất trước Ðaị Hội Bất Thuờng của Giáo Hội PGVNTNHN tại Hoa Kỳ dự trù được tổ chức vào các ngày 5,6,7 tháng 10 năm 2007, theo Thông Báo do Hòa Thượng Thích Hộ Giác ký ngày 4 tháng 7, 2007. Thư Mời của Trưởng Ban Tổ Chức, Thích Tín Nghĩa với lời lẽ sau : “Chiếu Quyết Nghị Ðaị Hội Thường Niên kỳ 2, nhiệm kỳ IV, năm nay 2007, Giáo Hội tổ chức Ðaị Hội Thường Niên tại chùa Pháp Luân, Houston, Texas . . . Xin trân trọng kính mời chư tôn đức và quí đaọ hữu về tham dự Ðaị Hội trong tinh thần phụng sự và trách nhiệm đối với Giáo Hội. Ðặc biệt năm nay nghị trình của Ðại Hội tập chú vào hiện tình GHPGVNTN tại quê nhà và trù hoạch Đại Hội Khoáng Ðại năm 2008 . . .”

 

             Nguy quá. Ðại Hội Thường Niên năm nay lại bàn thảo những vấn đề quan trọng như vậy mà lại bàn thảo trong tinh thần phụng sự và trách nhiệm đối với Giáo Hội. Số phận của một số người sẽ như thế nào ? Không thể để cho Ðại Hội Thường Niên này có thể xảy ra. Phải gấp rút bày trận đồ và trận chiến ; Ðây mới là nguyên nhân chính cho những biến cố đang và sắp diễn ra cho Giáo Hội PGVNTN mà không biết chư vị tôn túc ở quê nhà có biết rõ ?

 

              Mọi người được thư mời chuẩn bị lên đường tham dự Ðaị Hội thì nhận được :

 

              1/ Thông Bạch Khẩn của Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo do Hòa Thượng Thích Hộ Giác ký, đề ngày 15 tháng 9, 2007 cho biết tình trạng Giáo Hội PGVNTN đang bị nguy khốn vì Giáo Hội thể hiện đức từ bi của đạo Phật, góp phần cứu trợ vật chất cho tâp thể Dân Oan đi khiếu kiện bị thiếu thốn lương thực. Các cuộc cứu trợ thuần túy từ thiện xã hội của Giáo Hội đã được thực hiện công khai ngày 13.7 và 17.7.2007 tại Sàigòn và ngày 23.8.2007 tại Hà Nội . . .

 

              2/Thông Tư Khẩn đề ngày 27 tháng 9, 2007 của Hòa Thượng Thích Hộ Giác ký đình hoãn Ðaị Hội Thường Niên vì tình trạng khẩn trương của Phật Giáo (Ðáng lẽ vì tình trạng khẩn trương cần phải họp gấp, ở đây laị đình hoãn !).

 

              3/Thông Tư về Ðại Hội Bất Thường đề ngày 9 tháng 10, 2007 do Hòa Thượng Thích Hộ Giác ký mời họp Ðại Hội Bất Thường ngày 10 tháng 11, 2007 vì “Ðứng trước nguy cơ Giáo Hội bị hủy diệt . . .” danh sách của phái đoàn tham dự phải gửi cho Ban Tổ Chức trễ nhất là ngày 24 tháng 10 năm 2007.

 

              Dựa và những dự kiện trên, bắt buộc chúng ta có một số nhận định :

 

              1/ Nếu thực sự “có tình trạng gây rối nội bộ nhằm tiếp tay vớí nhà cầm quyền cọng sản trong âm mưu tiêu diệt GHPGVNTN. Một tình trạng keó dài gây hoang mang dư luận quần chúng Phật tử trong và ngoài nước suốt nhiều năm qua” như được viết trong Thông Cáo Báo Chí làm taị Paris, tại sao mấy lâu nay trong các phiên họp của Giáo Hội không thấy nêu ra, không đưa bằng chứng, không có biện pháp chế tài theo đúng Qui Chế của Giáo Hội?

 

             2/ Tại sao tất cả mọi chuyên này lại xảy ra vừa vặn truớc ngày Ðaị Hội Thường Niên ?

 

              3/ Nếu vì tình trạng nguy khốn cấp bách tại sao đình hoãn Ðại Hội Thường Niên ?

 

              4/ Thông Tư về Ðaị Hội Bất Thường ký ngày 9 tháng 10, 2007 (?), nhưng những đơn vị cơ sở xa chỉ nhận được vào ngày 17, 18 tháng 10, 2007. Thế mà theo văn thư phải gửi danh sách phái đoàn trễ nhất là ngày 24 tháng 10, nghĩa là 5 hoặc 6 ngày sau khi nhận được thư mời. Làm sao họ có đủ thì giờ để chọn người tham dự. Phải chăng đây là ý định của Hòa Thượng Thích Hộ Giác chỉ muốn cho những người anh em đã được rỉ tai truớc đến tham dự ? Một vở kịch năm 2004 với các Hội Phật Học sắp được tái diễn.? Chỉ có kỳ này Hòa Thượng sẽ được toại nguyện (Xem thư của Hòa Thượng Thích Thắng Hoan, Chánh Thư Ký của Hội Ðồng Giáo Phẩm và thư của Hòa Thượng Thích Tín Nghĩa, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Cư Sĩ).

 

              Sau đây chúng ta sẽ chiêm nghiệm Giáo Chỉ cuả Ðức Tăng Thống để xem có phải thực sự là Giáo Chỉ của ngài hay không.

 

             1/ Giáo Chỉ làm tại Nguyên Thiều, Bình Ðịnh ngày 8 tháng 9, 2007 dựa vào Biên Bản cuộc họp bất thường ngày 22.8.2007 tại chùa Giác Hoa, Sàigòn để nghe phúc trình, đánh giá tình hình và lấy quyết định thanh lọc hàng ngũ. Bản Phúc Trình của Hòa Thượng Thiện Hạnh, Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống viết tại Huế ngày 8.9.2007. Dựa vào Bản Phúc Trình để đánh giá và lấy quyết định thanh lọc hàng ngũ trong buổi họp tại chùa Giác Hoa ngày 22. 8. 2007 (hay có thể dựa vào bản phúc trình nào khác ?). Bản Phúc Trình của Hòa Thượng Chánh Văn Phòng viết tại Huế và Bản Giáo Chỉ của Ðức Tăng Thống viết cùng ngày 8.9.2007. Thật là bí ẩn.

 

              2/ Khuôn dấu đóng trong Giáo Chỉ của Ðức Tăng Thống không phải là khuôn dắu của Viện Tăng Thống mà chỉ là khuôn dấu cá nhân của Hòa Thượng Huyền Quang. Tại sao vậy ? Phải chăng khuôn dấu của Viện Tăng Thống đã bị cọng sản tịch thu hay chìa khóa tủ giữ khuôn dấu bị thất lạc ?

 

              3/ Nhận định thứ hai trong Giáo Chỉ viết : “Nhận đinh rằng ý chí hòa bình và tinh thần hòa hợp là chủ trương và đường lối của Giáo Hội dưới sự lãnh đạo của tam vị Tăng Thống tiền nhiệm qua các thời đại ly loạn. chinh chiến phát xuất từ tranh chấp ý thức hệ quốc tế vơí sự tiếp tay của một bộ phận thừa sai bản địa, tàn phá quê huơng và gây chết chóc, khổ ách cho mọi tầng lớp nhân dân.”

 

             Tinh thần hòa hợp có được tiếp tục khi một số thành viên của Giáo Hội bị thanh trừng, thanh lọc vì những báo cáo (nếu có) chưa đuợc điều tra, kiểm chứng ? Hành xử như vậy có đi đúng tinh thần của Giáo Hội ? Chúng ta lắng nghe lời dạy của Hòa Thượng Ðệ Tam Tăng Thống : “ Trong lịch sử truyền bá Phật Giáo Việt Nam cũng như thế giới, có lúc rất bi thảm đầy tủi nhục, nhưng có lúc vẻ vang cũng đáng tự hào. Lúc bi thảm là lúc bản thể của Tăng Ni bị lu mờ, nội bộ cuả Tăng Ni bị phân hóa, thành phần của Tăng Ni có nhiều điểm dị đồng, giới hạnh suy kém và hiểu biết đạo lý một cách cục bộ phiến diện. Trái lại lúc vẻ vang là lúc nội bộ chúng ta hòa hiệp, biết gạt bỏ những quyền lợi riêng tư, những ngã chấp tầm thường để tiến xa trên con đường tịnh hạnh, lấy giác ngộ giải thoát làm cứu cánh, lấy bản nguyện độ sanh làm sự nghiệp.”

 

              Giáo Hội quan niệm Chiến Tranh Ðông Dương II sau Hiệp Ðịnh Genève 1954 là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai phe Dân Chủ Tây Phương do Mỹ lãnh đạo và phe Cọng Sản do Soviet lãnh đạo, mà Việt Nam là địa bàn tranh chấp. Quá trình của phe Dân Chủ Tây Phương là thực dân thuộc địa nên Phật Giáo không mấy nồng nhiệt, còn phe Cọng Sản Nga Tàu với quá trình đàn áp tôn giáo, xem tôn giáo là thuốc phiên, nên Phật Giáo cũng không mấy nồng nhiệt. Do đó khi nóí đến cuộc chiến ý thức hệ tại Việt Nam, Phật Giáo nói chung cả hai bên chứ không phải “với sự tiếp tay của một bộ phận thừa sai bản địa” mà đáng lý phải nói vớí sự tiếp tay của hai bộ phần thừa sai, hay tốt hơn không nên đề cập vì nó không lợi gì cho sự hàn gắn vết thương chiến tranh, hận thù chiến tranh hiện tại . Trong Thông Cáo ra ngày 9-4-1975 Giáo Hội kêu gọi “đừng biến chúng ta thành tù nhân của chủ nghiã”, đề nghị 3 điểm cụ thể, trong đó : Yêu cầu hai phe lâm chiến đừng tàn sát nhân dân vô tội vì theo bên này hay theo bên kia. Yêu cầu hai phe lâm chiến hạn chế tối đa vũ lực để cứu mạng người trong giai đoạn chuyển tiếp. Ðức Tăng Thống biết rõ điều này, lời nhận định trên có phải Đức Tăng Thống viết ?

 

              Ðức Tăng Thống là vị học rộng, nhiều kinh nghiệm lãnh đạo Giáo Hội, Ngài thừa biết các vị tổ sư qua nhiều giai đoạn lịch sử, đã khéo léo sử dụng phương tiện thiện xảo, hoằng truyền Chánh Pháp, vì vậy Phật Giáo đã trải qua những thời đại huy hoàng thời A Dục, thời Lương Võ Ðế, thời Lý Trần, những thời đại quân chủ trong tiến trình lich sử văn hóa, xã hội. Do đó ngài không thể viết : “Nhận định rằng sự phát triển bền vững của nhân loại ngày nay là cuộc phát triển tổng hợp và đồng bộ trên các lãnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, giáo dục, môi sinh ; đạo Phật chỉ có thể phục vụ hữu hiệu con người trong một xã hội tự do, tôn trọng nhân quyền và dân chủ. . . .”

 

              Ðạo Phật quan niệm mọi sự vật trên đời đều luôn luôn chuyển biến, thì làm gì có việc phát triển bền vững. ? Những phát triển ngày nay trên các lãnh vưc kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, giáo dục, môi sinh đâu có đồng bộ và đạo Phật phục vụ con người khá hữu hiệu ở quá khứ trong nhiều thể chế thì làm sao có thể viết đạo Phật chỉ có thể phục vụ hữu hiệu con người trong một xã hội tự do, tôn trọng nhân quyền và dân chủ ? Phải chăng người viết vì hoạt động tuyên truyền cho dân chủ nhiều năm nên đã ảnh huởng đến cách diễn đạt ?

 

              Góp phần cứu trợ vật chất cho tập thể Dân Oan đi khiếu nại là việc đáng làm mặc dầu khá mạo hiểm, vì làm thế nào có thể kiểm soát tập thể Dân Oan để cứu trợ một cách đồng đều. Làm thế nào để có thể thiết lập hồ sơ chứng minh tất cả số tiền quyên góp đều đem phân phát cho Dân Oan ?

 

              Nếu không thể chứng minh đàng hoàng, nếu phân phối không công bằng, uy tín của Giáo Hội có bị sứt mẻ hay không ? Nếu vậy tại sao Hòa Thượng Viện Trưởng và Hội Ðồng Viện lại chọn việc này để làm, việc mà trong nhận định gọi là thuần túy từ thiện xã hội ? Có phải thuần túy từ thiện xã hội hay có liên hệ chính trị ?. Mà có liên hệ chính trị thì cũng chẳng sao, tại sao phải nói thuần túy từ thiện xã hội ? Nói như vậy có hại uy tín cho Giáo Hội không ?

 

              Trong Nhận Ðịnh 6 ở đoạn cuối viết : “ . . .Chiến dịch đàn áp, vu cáo và khủng bố tinh thần hiện nay đối vớí GHPGVNTN báo hiệu một cuộc bắt bớ, đàn áp nước lũ có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bó buộc Giáo Hội phải có biện pháp tư vệ cùng tiên liệu đối phó với tình hình.” Biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó vơí tình hình là thanh lọc hàng ngũ không cần điều tra, không có toà án, không có luật sư biện hộ, không có bị can hiện diện ? Biện pháp tự vệ là giải tán Giáo Hội Phật Giáo khắp năm châu mà mình không có quyền pháp lý ? Biện pháp thanh lọc hàng ngũ, giải tán Giáo Hội, một việc trọng đại như vậy mà chỉ dựạ vào hiện tuợng báo hiệu ?

 

              GIÁO CHỈ số 9, theo Thông Bạch của Hòa Thượng Viện Trưởng và Thông Cáo Báo Chí của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, do Ðức Ðệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8 tháng 9, 2007 từ Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Ðịnh, thay thế và hủy bỏ Quyết Ðinh số 27- VPLV/VHÐ do Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo ban hành ngày 10.12.1992. Giáo Chỉ số 9 và Quyết Ðịnh số 27 khác nhau ở những điểm chính sau :

 

              Quyết Ðịnh 27 :

 

              1/ Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo nhờ Giáo Hội PGVNTNHN taị Hoa Kỳ làm đaị diện

              2/ Chủ Tịch, Tổng Thư Ký của Giáo Hội Hoa Kỳ do Giáo Hội Hoa Kỳ tuyển thỉnh và là Chủ Tịch, Tổng Thư Ký cuả Văn Phòng II VHÐ

             3/ Phó Chủ Tịch VPII/VHÐ là Chủ Tịch Giáo Hội ở Âu Châu, Úc Châu & Tân Tây Lan, Canada do các Giáo Hội liên hệ tuyển thỉnh

 

              Giáo Chỉ số 9 :

 

              1/ Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo đứng riêng biệt

              2/ Chủ Tịch, Tổng Thư Ký, Thủ Quĩ, Tổng Uỷ Viên do Viện Truởng Viện Hóa Ðạo thỉnh tuyển, nhiệm kỳ vô thời hạn

              3/ Văn Phòng II Viện Hoá Ðạo trực thuộc sự chỉ đạo và điều hành của Viện Truởng Viện Hoá Ðạo trong nuớc .

 

             GIÁO CHỈ số 9 ngày 8 tháng 9 năm 2007 sau những lời Nhận Ðịnh đi đến QUYẾT ÐỊNH gồm có 8 Ðiều. Ðiều thứ nhất gồm 3 Mục nhỏ nói về mục tiêu :

 

              Ðiều 1 : Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo được thiết lập tại Hải Ngoại nhằm ba mục tiêu :

 

             1.1. Phát huy Phật Giáo Việt Nam trên thế giới để đóng góp phần mình cho nền hòa bình nhân loại, liên hữu với các tổ chức Phật Giáo năm châu củng cố cơ sở Phật Giáo quốc tế, liên hữu huynh đệ và thông cảm với các tôn giáo bạn, các tổ chức hòa bình, nhân đạo, văn hóa, xã hội trên thế giới.

              1.2 .Liên hệ giúp đỡ và điều hướng các cơ sở Giáo Hội, các tổ chức Phật Giáo Việt Nam và các tổ chức, đoàn thể người Việt tại các châu lục trong công tác Phật sự, hoằng dương chánh pháp và văn hóa.

              1.3. Mở rộng và thúc đẩy tích cực công tác vận động quốc tế nhằm hậu thuẩn công cuộc phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý và thể hiện những nguỡng vọng thâm sâu của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong thời kỳ pháp nạn tại Việt Nam, tranh thủ quốc tế hậu thuản và tham gia các công tác từ thiện xã hội, văn hóa, giáo dục của Giáo Hội khi buớc sang thời kỳ hậu pháp nạn.

 

              Mục tiêu 1.1 và 1.3 không khác mục tiêu của các Giáo Hội PHật Giaó VNTNHN tại Hoa Kỳ hay tại các châu lục khác. Mục tiêu 1.2 cho thấy hai tổ chức riêng biệt nhau. Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo theo Giáo Chỉ số 9 đuợc lập ra để liên hệ, để giúp đỡ, để điều hướng các cơ sở Giáo Hội, các tổ chức Phật Giáo.

 

              Những cơ cấu tổ chức Phật Giáo: Giáo Hội PGVNTNHN tại Hoa Kỳ, tại Âu Châu, tại Úc Châu & Tân Tây Lan, tại Nhật Bản, tại Canada là những thực thể riêng biệt, những pháp nhân riêng biệt. Giáo Hội PGVNTN tại Việt Nam muốn Giáo Hội PGVNTNHN tại Hoa Kỳ làm Ðaị Diện hay đặt Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo tại GHPGVNTNHN tại Hoa Kỳ, không khác gì khi Hoa Kỳ không có tòa Ðaị Sứ tại Việt Nam có thể nhờ tòa Ðại Sứ Thuỵ Sĩ hay tòa Ðaị Sứ nào khác tại Việt Nam đaị diện cho Hoa Kỳ.

 

              Hai bên vẫn có hai thực thể riêng biệt. Chúng ta thử đọc Quyết Ðịnh số 27-VPLV/VHÐ do Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo ban hành ngày 10-12-1992 sau khi Giáo Hội PGVNTNHN tại Hoa Kỳ được Ðại Hội thành lập và được Giáo Hội tại Việt Nam ủy thác trách nhiệm Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo, ở Ðiều 3 viết : “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ có điạ vị như một Giáo Hội cấp Quốc Gia, nhưng có tư cách Ðaị Diện toàn quyền Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Quốc Nội trong thời gian không hạn định.”

 

              Ðiều 5 của Quyết Ðịnh năm 1992 viết : “ Văn Phòng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ cấp Liên Bang đuợc coi như Văn Phòng II Viện Hóa đạo GHPGVNTN quốc nội.”

 

              Ðiều 6 của Quyết Ðịnh năm 1992 viết : “Mọi Phật sự quan trọng của Giáo Hội đều đuợc thống nhất ý chí cuả hai Hội Ðồng Giáo Hội Quốc Nội (Hội Ðồng Viện Tăng Thống và Hội Ðồng Viện Hoá Ðạo) và 4 Hội Ðồng Giáo Hội Haỉ Ngoại (Hội Ðồng Ðaị Diện, Hội Ðồng Giám Luật, Hội Ðồng Giám Sát, Hội Ðồng Ðiều Hành) truớc khi thi hành.”

              Không lý do gì Giáo Chỉ số 9 ban hành ngày 8 tháng 9, 2007 lại ra Quyết Ðịnh không những nhằm định hướng các cơ sở Giáo Hội, các tổ chức Phật Giáo Việt Nam mà còn các tổ chức, đoàn thể người Việt tại các châu lục. Có bao giờ Viện Tăng Thống lại ra lệnh xen vào nội bộ cuả các tổ chức khác, ngay cả trong nuớc Viện Tăng Thống hay Viện Hoá Ðạo cũng không xen vào nội bộ cuả các giáo phái, hệ phái trong tổ chức PGVNTN. Vậy đây là ý kiến cuả ai ?

 

              Dựa vào Quyết Ðịnh số 6 năm 1992 “mọi Phật sự quan trọng của Giáo Hội phải được thống nhất ý chí giữa các Hội Ðồng trong nước và hải ngoại truớc khi thi hành, thì bây giờ laị đơn phuơng quyết định mà lại quyết định giải tán ngay cả Giáo Hội mà quốc nội nhờ đại diện tại Hải ngoại theo như Thông Bạch Hướng Dẫn của Hòa Thượng Viện Trưởng (sẽ tìm hiểu sau) ?

 

             Ðiều 3 của Quyết Ðịnh năm 2007 nói : “Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo trực thuộc sự chỉ đạo và điều hành cuả Viện Truởng Viện Hóa Ðạo trong nuớc. Thành viên Văn Phòng II Viện Hoá Ðạo do Viện Truởng Viện Hóa Ðạo thỉnh tuyển và chỉ định, tùy theo nhu cầu, hoàn cảnh, các thành viên có thể đuợc bổ sung, hoán chuyển hay thay đổi”.

 

              Ðây rõ ràng là một thay đổi lớn: Từ việc “Văn Phòng Giáo Hội PGVNTNHN tại Hoa Kỳ cấp Liên Bang được coi như Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo quốc nội” (Ðiều 5 cuả Quyết Ðịnh 1992) có nghĩa là nhờ Văn Phòng Giáo Hội Hoa Kỳ làm đại diện, bây giờ Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo trực thuộc sự chỉ đạo và điều hành cuả Viện Truởng Viện Hóa Ðạo trong nuớc. Không những thế nhân viên đều hành của Giaó Hội Hoa Kỳ bây giờ là nhân viên của Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo không do Ðại Hội Hoa Kỳ tuyển thỉnh mà do Viện Truởng Viện Hóa Ðạo thỉnh tuyển hay chỉ định không khác gì nhân viên cuả một hãng Việt Nam tại Hoa Kỳ do Việt Nam tuyển chọn, trả lương và làm theo sự chỉ thị hay đều hành cuả Việt Nam.

 

              Tại sao có sự thay đổi này ?

 

              Tại sao bây giờ lại muốn tách riêng ?

 

              Có lẽ tại vì một số thành viên của Hội Ðồng Ðiều Hành của GHPGVNTNHN tại Hoa Kỳ e ngại trong Ðại Hội Khoàng Ðại năm 2008 sắp tới, họ có thể không giữ những vai trò quan trọng, những điạ vị then chốt trong Hội Ðồng và do đó không nằm trong Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo. Bằng cách thành viên Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo do Viện Truởng Viện Hóa Ðạo thỉnh tuyển, vị thế họ trong Văn Phòng II không thay đổi dù họ không đuợc tuyển thỉnh giữ vị thế then chốt trong Hội Ðồng Ðiều Hành của Giáo Hội Hoa Kỳ. Nhiệm kỳ của họ trong Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo theo Giáo Chỉ số 9 là vô thời hạn, nên ai có thay đổi, họ không bị đổi thay. Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo bây giờ tách rời khỏi các tổ chức Giaó Hội PGVNTNHN nên vị thế họ không bị thay đổ hằng 4 năm. .

 

              Nhưng tại sao Ðức Tăng Thống lại làm theo sự tính toán của họ, nếu có ? Tại vì họ thường trình với Ðức Tăng Thống một số thành viên cuả Giáo Hội Hoa Kỳ, Âu, Úc Châu, Canada “rời bỏ con đường cao rộng của Chánh Pháp, đem thân phục vụ thế quyền biến tuớng Bát Chánh Ðạo và làm nghiêng ngửa Giáo Hội.” Ðức Tăng Thống tuổi gìà sức yếu, ít có dịp tiếp xúc với thế giới bên ngoài mà lại thường nghe những lời tương tợ, nói hoài nói mãi rồi cũng tin, nhưng không hoàn toàn tin, nên lời Nhận Ðịnh có thể chấp nhận, nhưng phần Quyết Ðịnh tuơng đối nhẹ nhàng, không có biện pháp thanh trừng mà chỉ tách rời Văn Phòng II ra khỏi Giáo Hội Hải Ngoại vì ngại sang năm có thể thành phần “rời bỏ con đuờng cao rộng” lên nắm Giáo Hội thì không biết tình trạng sẽ xảy ra như thế nào. Tốt hơn nên đề phòng.

 

              Có thề Ðức Tăng Thống cũng không tin những lời dèm pha không chính thức, nhưng không muốn mất lòng nên ngài chỉ làm một nửa phần yêu cầu và chỉ dung khuôn dấu cá nhân đóng vào Giáo Chỉ 10 chứ không phải khuôn dấu Viện Tăng Thống, ý muốn nóí Giáo Chỉ không phải là văn kiện chính thức của ngôi Tăng Thống (?).

 

              Tại sao Giáo Hội thay vì có đông người để thực hiện những mục tiêu nêu ra lạị không muốn mà chỉ trông cậy vào 14 vị để lo toan công việc khắp năm châu, bốn biển ?.

 

              Tại vì ít “mà lòng trung thành, chí kiên hậu còn hơn nhiều mà bất trung bất nghiã”, theo như lờì chỉ giáo cuả Hoà Thuợng Chánh Văn Phòng cho Hoà Thuợng Viện Truởng. Hơn nữa 14 người đâu phải ít, thập niên 90 chỉ có hai vị Hoà Thuợng đơn độc thì sao ? Còn chuyên chu toàn trách nhiệm hay không thời gian sẽ trả lời.

 

              Ðiều 3 cuả Quyết Ðịnh viết : “Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo trực thuộc sự chỉ đạo và điều hành của Viện Truởng Viện Hoá Ðạo trong nuớc. Thành viên Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo do Viện Truởng Viện Hóa Ðạo thỉnh tuyển và chỉ định; tùy theo nhu cầu, hoàn cảnh, các thành viên có thể đuợc bổ sung, hoán chuyển hay thay đổi.”

 

              Như vậy Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo chỉ chịu trách nhiệm với vị Viện Trưởng Viện Hóa Đạo chứ không có trách nhiệm gì với các Giáo Hội Hải Ngoại. Họ sẽ không còn bị phê bình kiểm thảo của các Giáo Hội Hải Ngoại. Họ có quyền hành nhưng không có trách nhiệm vơí các Giáo Hội Hải Ngoại. Một giải pháp rất gọn ghẻ khỏi phải nhức đầu bị phê bình, kiểm thảo

 

              Ðiều 5 của Quyết Ðịnh 2007 viết : “Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo và các thành viên được thỉnh cử hoạt động vô thời hạn.”

              Dù có làm sai chuyên gì, với Ðiều 5, nhiệm kỳ của họ vẫn vô thời hạn !

 

              Nhưng như vậy tại sao ở Ðiều 3 laị nói Viện Truởng Viện Hóa Ðạo tùy theo như cầu, hoàn cảnh, các thành viên có thể được bổ sung, hoán chuyển hay thay đổi ?

              Lẽ dĩ nhiên đây không phải là ý kiến của đức Tăng Thống vì ngay thành viên của Viện Hóa Ðaọ hay Viện Tăng Thống cũng có giới hạn, định kỳ . Vậy ai là tác giả ?

 

              Ðiều 6 viết : Thành phần Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo được thỉnh cử như sau :

              Chủ Tịch : Hoà Thuợng Thích Hộ Giác

              Thư Ký : . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

              Tổng Ủy Viên : . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

 

             Ở Ðiều 3 Thông Bạch nói thành viên do Viện Trưởng Viện Hoá Ðạo thỉnh tuyển và chỉ định, tại sao ở Ðiều 6 của Giáo Chỉ, Ðức Tăng Thống đã thỉnh cử thành phần nhân sự của Văn Phòng II rồi ? tại sao lại có sự kiện này, nhầm lẫn chăng, không ai nghĩ vậy ?

 

              Phải chăng Ðức Tăng Thống đã được Hòa Thượng Viện Trưởng thông báo trước khi soạn Giáo Chỉ ? Hay làm như thế này đỡ mất thì giờ vì tình hình Giáo Hội quá nguy kịch nếu để chậm có thể nguy hại cho Giáo Hội? Hay như vậy chắc chắn hơn vì Hòa Thượng Viện Trưởng không thể thay đổi Giáo Chỉ ? Hay . . . ?

 

              Ðiều 7 của Quyết Ðịnh 2007 viết : “Quyết Ðịnh này thay thế và hủy bỏ Quyết Ðịnh số 27-VPLV/VHÐ do Quyền Viện Truởng Viện Hoá Ðạo ban hành ngày 10-12-1992”. Ðức Tăng Thống là vị điều hành Giáo Hội nhiều năm, hiểu rõ nguyên tắc, không bao giờ đơn phương làm những việc ngược lại Quyết Ðịnh năm 1992, rồi nói huỷ bỏ hay thay thế là được. Vậy ai là tác giả.?

 

              Ðiều 8 của Quyết Ðịnh viết : “Quí Vị Viện Trưởng, Phó Viện Trưởng, Tổng Thư Ký, Tổng Vụ Trưởng, Vụ Trưởng các Tổng Vụ thuộc Viện Hóa Ðạo và các Hội Ðồng Ðiều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại các châu lục hải ngoại chiếu nhiệm vụ thi hành Giáo Chỉ này.”

              Tại sao các Hội Ðồng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại các châu lục hải ngoại lại phải chiếu nhiệm vụ thi hành khi họ và Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo giờ đây riêng rẽ, là hai thực thể riêng biệt ? Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo không có trách nhiệm gì đối vớí, họ không có quyền gì với Văn Phòng II tại sao bảo họ phải thi hành Giáo Chỉ này ? Ai là tác giả ?

 

              Bản sao kính gửi Thủ Tướng Chính Phủ CHXHCHVN, Ðại diện các ngoại giao đoàn, các quốc gia, Văn Phòng Viện Hóa Ðạo, các Ban Ðại Diện và Giáo Hội các cấp trong và ngoài nuớc, Phòng Thông Tin Phật Giaó Quốc Tế . . . mà không thấy gửi cho Văn Phòng II Viện Hoá Ðạo ? Có thể vì ai lại tự làm lại tự gửi cho chính mình ? Giáo Hội bị cô lập, bị đàn áp nên sau thập niên 90 đến nay chỉ thỉnh mời được một số thành viên trong hai Hội Ðồng, chỉ có 22 Ban Ðại Diện, nhưng không vì thế mà không tỏ cho chính quyền trong nước, các nguyên thủ quốc gia, các cơ quan quốc tế biết để họ thấy rằng Giáo Hội PGVNTN có vô số cơ sở ở năm châu lục địa, không biết rồi đây sở thuế của các quốc gia có để mắt đến tài sản của những cơ sở “ngoại quốc” này và nhân sự của Giáo Hội Hải Ngoại là người do Viện Truởng Viện Hoá Ðạo thỉnh tuyển và chỉ định có bị xem là nhân viên của một tổ chức nước ngoài đang hoạt động trong nước họ ? Những hoang tưởng này ai chịu trách nhiệm ?

 

              Tiếp theo chúng ta tìm hiểu THÔNG BẠCH hướng dẫn thi hành Giáo Chỉ số 09 của Ðức Tăng Thống do Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo làm tại Thanh Minh Thiền Viện, Sài Gòn ngày 25 tháng 9 năm 2007.

 

              Ban Chỉ Ðạo Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN ra thông bạch hướng dẫn thi hành Giáo Chỉ số 9 của Đức Tăng Thống. Thông Bạch làm tại Thanh Minh Thiền Viện, Saìgòn ngày 25 tháng 9 năm 2007. Thông Bạch được Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế đưa ra ngày 26 tháng 9 năm 2007, mà Sàigòn và Paris cách nhau khá xa. Như vậy cho thấy Bản Thông Bạch và Thông Cáo Báo Chí ra rất nhanh chóng . Truớc khi Thông Bạch hướng dẫn thi hành Giáo Chỉ được Thông Cáo Baó Chí tung ra ngày 26 tháng 9, 2007 thì tại Hoa Kỳ Hòa Thượng Thích Hộ Giác không đợi Thông Bạch Hướng Dẫn đã ra Thông Bạch Khẩn của Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo cho biết lý do tại sao Giáo Chỉ đuợc ban hành thành lập Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo vớí những lời lẽ không khác mấy Giáo Chỉ của Ðức Tăng Thống, không khác mấy Thông Bạch của Hòa Thượng Viện Trưởng,.

 

              Giáo Chỉ, Thông Bạch Hướng dẫn, Thông Bạch Khẩn tuy ba mà một, tuy một mà tất cả : “Nhật tức nhật thiết, nhật thiết tức nhật”, tác giả đang thi thố trình độ thâm nhập đạo lý Hoa Nghiêm. THÔNG BẠCH mở đầu với 3 Nhận Ðịnh :

 

              -. Nhận định rằng vì nhiều lý do nội tại hay khách quan, vô tình hay cố ý, một số chư tăng, Phật tử rời bỏ con đuờng cao rộng của Chánh Pháp, đem thân phục vụ thế quyền làm biến tuớng Bát Chánh Ðạo và làm nghiêng ngửa Giáo Hội ;

 

              .- (. . .) Nhận định rằng chiến dịch đàn áp, vu cáo và khủng bố tinh thần hiện nay đối với GHPGVNTN báo hiệu một cuộc bắt bớ, đàn áp nuớc lũ có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, bó buộc Giáo Hội phải có biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó vớí tình hình ;

              -. Nhận định rằng đồng thời với cuộc đàn áp trong nước nhằm tiêu diệt GHPGVNTN, một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật Giáo hải ngoại tiếp tay, gây phân hóa, tạo ly gián, biến tuớng chủ trương sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo Hội trên địa bàn quốc tế ;

 

              Ở Nhận Ðịnh một, không biết Viện Hóa Ðạo có thì giờ, có quan tâm điều tra nghiên cứu xem thực hư thế nào, bao nhiêu phần trăm theo GHPGVNTN, bao nhiêu phần trăm đem thân phục vụ thế quyền, vì lý do gì ? Tại sao họ tệ như vậy. Trước đây họ ủng hộ Giáo Hội như nước lở nguồn, tại sao giờ đây laị quay lưng vơí Giáo Hội ? Cọng Sản tài vậy sao ? Vì danh, vì lợi bao nhiêu phần trăm ? Vì an phận thủ thường bao nhiêu phần trăm và còn vì gì gì nưã ? hay chỉ dựa vào những lần trao đổi trên điện thoại, vào bản Phúc Trình của Hòa Thượng Thiện Hạnh. Chỉ dựa vào vài nhận xét không kiểm chứng để đi đến nhận định trên và hành động thanh trừng ? Nếu không đều tra, kiểm chứng mà kết tội có oan cho họ không và có gây hố sâu ngăn cách bất lợi cho Phật Giaó, cho dân tộc nói chung không ? Xây dựng hàng ranh, phân chia giai cấp, phân chia mức độ hành đạo, phân chia phương thức hoằng đạo để rồi miệt thị lẫn nhau có phải là đường lối hoằng truyền Chánh Pháp ? Hố sâu Việt Nam Quốc Tự, Ấn Quang giờ đây chưa lấp thì bây giờ lại đào hố sâu khác để gây tai họa cho Phật Giáo. Hình ảnh hài hòa, độ lượng của Phật Giáo ở đâu ? Dầu sao đi nữa nếu nói oan cho họ có tội cho họ không, và họ biết kêu oan vớí ai bây giờ, vô lẽ cầm cờ 5 màu đến Viện Hóa Ðạo (ở Thanh Minh Thiền Viện ?) biểu tình kêu oan ?

 

              Ở Nhận Ðịnh hai, nếu chiến dịch đàn áp, vu cáo . . . chỉ báo hiệu cho cuộc bắt bớ . . . thôi, mà Viện Hóa Ðạo đã hoản hốt lên, để rối thanh trừng nội bộ không cần điều tra, họ mới chỉ hù dọa thôi cũng đã làm cho Viện Hóa Ðạo trừng trị kẻ đồng đạo, nhận chìm kẻ đồng thuyền, có lẽ họ sẽ đẩy mạnh chiến dịch đàn áp, vu cáo thêm để Phật Giaó thanh trừng nhau, tiêu diệt lẫn nhau mà họ không phí tiền, không phí sức ngoài lời hù doạ !

 

              Ở Nhận Ðịnh thứ ba, “Ðồng thời vớí cuộc đàn áp trong nước nhằm tiêu diệt GHPGVNTN, một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật Giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hoá, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đường hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải Ngoại âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo Hội trên địa bàn quốc tế.” Tại Hoa Kỳ chúng tôi thường theo dõi sinh hoạt của Giáo Hội PGVNTNHN tại Hoa Kỳ, chúng tôi không thấy, không nghe ai nói đến người nào gây phân hóa, tạo ly gián. Nếu có thì đã có những thảo luận, những chế tài đuợc đưa ra theo Qui Chế. Ở đây chúng tôi không nghe thấy gì cả ngoài chuyện thưa kiện một số thầy về tội sách nhiễu tình dục, vu khống, mạ lỵ, chiếm chùa, tranh đua chức vị, một số thư từ gửi Giáo Hội nhờ giải quyết một số vấn đề nhưng không đuợc thơ phúc đáp chứ đừng nói giải quyết, một số thư rơi, thư rớt, một số câu chuyện không kiểm chứng đăng trong cuốn Giặc Thầy Chùa mà nghe đâu tác giả đã bị ra toà, bị phạt và đã kháng cáo.

 

              Vậy thì ai báo cáo những dự kiện này cho Viện Hóa Ðạo mà không báo cáo cho Hội Ðồng Ðiều Hành của Giáo Hội Hoa Kỳ ? Viện Hóa Ðạo có văn thư hỏi Giáo Hội Hoa Kỳ về vấn đề này ? Hội Ðồng Ðiều Hành Giáo Hội Hoa Kỳ không hay biết sự việc thế mà Viện Hóa Ðạo lại kết luận theo lời vu cáo của ai để rồi buộc tội và đưa ra Nhận Ðịnh như trên ?

 

              Bản Thông Bạch viết tiếp : “Trên đây là thực tế hiểm nghèo mà Giáo Hội đang phải đương đầu suốt ba năm qua trước chủ trương mớí của nhà cầm quyền cọng sản nhằm thanh toán GHPGVNTN theo ba phương án : một là chấp nhận danh xưng GHPGVNTN nhưng loại bỏ cá nhân đức đệ tứ Tăng Thống và Viện Truởng Viện Hóa Ðạo để thành phần mới chịu qui phục thế quyền phục vụ chính trị; hai là GHPGVNTN thay đổi danh xưng khác và ba là sáp nhập thực thể GHPGVNTN vào một hình thái thống nhất Phật Giáo mới do đảng Cọng Sản và nhà cầm quyền chủ trương. Phương án thứ ba tái hồi âm mưu thành lập một Tổng Hội Phật Giáo làm công cụ chính trị theo mô hình năm 1981, cốt đáp ứng tình hình mớí do sức ép quốc tế yêu sách nhà cầm quyền Việt Nam tuân thủ các điều kiện hội nhập cộng đồng thế giới”.

 

              Những “hiểm nghèo” nói trên có phải là “thực tế” ? Hiểm nghèo đó là gì ? là đàn áp, vu cáo không cho cứu giúp Dân Oan, một hành động thuần túy từ thiện xã hội ? là một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật Giáo hải ngoại tiếp tay gây ly gián, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo Hội trên địa bàn quốc tế? là chiến dịch đàn áp, vu cáo . . . báo hiệu một cuộc bắt bớ, đàn áp nuớc lũ . . .?

 

              Những dự kiện này là thực tế ?

 

              Chúng tôi hỏi thăm một số quí vị Tăng Ni Phật Tử trong Hội Ðồng Giáo Phẩm và Hội Ðồng Ðiều Hành có biết gì về ba phương án nêu trên ? Ba Phương Án ấy được chính quyền cọng sản cử ai đại diện và đề nghị với ai ? lúc nào ? thì ở đây không có vị nào được rõ. Chúng tôi chưa có dịp tiếp xúc vớí Hòa Thượng Thích Hộ Giác, Thượng Tọa Thích Viên Lý, Pháp sư Giác Ðức hay ông Võ Văn Ái.

 

              Tuy nhiên nếu quí vị này biết, chắc phải đưa ra thảo luận trong các phiên họp của Hội Ðồng Ðiều Hành. Ở đây theo chúng tôi được biết không hề có đề cập chứ đừng nói thảo luận về vấn đề này.

              Hay đây là điều tối mật chỉ vài người biết mà thôi ? Hoặc đây chỉ là báo hiệu của ba phương án ?

              Thông Bạch viết tiếp “Do vậy, mà nhân danh Hội Ðồng Lưỡng Viện và Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN tôi đã hồi đáp câu hỏi làm sao thống nhất Phật Giáo Việt Nam của Ðại sứ Na Uy Kjell Storlokken đặt ra khi Ðaị sứ đến Thanh Minh Thiền Viện thăm tôi hôm 2.7.2007, qua bốn điều kiện cơ bản và bất khả phân :

 

              “Thứ nhất, CHXHCNVN phải phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

              “Thứ hai, hoàn trả Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tất cả các cơ sở chùa viện, văn hóa, giáo dục, từ thiện mà Nhà Nuớc chiếm dụng sau năm 1975. Buớc đầu hoàn trả ngay cho Giáo Hội hai cơ sở chính yếu là Việt Nam Quốc Tự và Trung Tâm Văn Hóa Quảng Ðức để Giáo Hội có cơ ngơi đặ trụ sở cho Viện Tăng Thống và Viện Hóa Ðạo.

              “Thứ ba, đưa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam do Ðảng và Nhà Nuớc thiết lập năm 1981 ra khỏi Mặt Trận Tổ Quốc ; và “Thứ tư làm sáng tỏ cái chết của cố Hoà Thượng Thích Thiện Minh năm 1978.”

 

              Ông Ðại sứ nêu câu hỏi để tò mò tìm hiểu hay thay mặt nhà cầm quyền cọng sản để thăm dò ? Ở đây chúng tôi không dám lạm bàn về những điều kiện đưa ra mà gọi là điều kiện cơ bản và bất khả phân. Tuy nhiên điều này chứng tỏ Hòa Thượng Viện Trưởng rất kiên cuờng, ngay thẳng hơn cả Tổng Thống Hoa Kỳ, hơn Ðại Diện Liên Hiệp Quốc, hơn Ðại Diện Uỷ Ban Nguyên Tử Liên Hiệp Quốc khi muốn điều đình vớí Bắc Hàn, vớí Miến Ðiện, vớí Ba Tư mà không đặt điều kiện tiên quyết.

 

              Thông Bạch viết tiếp : “Hiển nhiên khi bốn điều kiện nói trên đuợc thực hiện thì chư tôn đức Tăng Ni và Phật Tử toàn quốc mới có thể ngồi lại vớí nhau mà không bị chính trị chi phối, để chấn chỉnh Phật sự và thống nhất Phật Giáo Việt Nam sau 60 năm chinh chiến làm cho đất nước và Giáo Hội phân hóa và ly tan.”

 

              Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo có vẻ lạc quan và dung dị khi viết đoạn văn trên. Ðiều này cũng rất tốt, nên lạc quan hơn là bi quan, nên dung dị hơn phiền toái. Tuy nhiên thực tế không biết có như vậy không. Chính trị luôn luôn hiện hữu và sống trong trần thế không làm sao tránh đuợc, do đó dầu bốn điều kiện (có phải cơ bản không và có phải bất khả phân không ?) có được thoả mãn mà không bị chính trị chi phối ? Rồi lúc đó có ngồi laị vơí nhau không ? Ngồi sao được khi bị buộc tội là phản thầy, phản bạn ? Là giáo gian, là vì danh, vì lợi biến tướng bát chánh đạo. Là không chính chuyên, bất trung bất nghĩa ? Trên 40 năm trời rồi mà Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang có thể ngồi lại vớí nhau một cách hài hoà chưa, mặc dầu lúc đó chưa có vụ thanh trừng, thanh lọc ? Vấn đề không giản dị và lạc quan như vậy. Giáo Hội cần phải làm gì để có thể thống nhất ? Không lẻ cứ mãi thanh lọc hết đợt này đến đợt khác. Hết Tăng Ni, đến Gia Đình Phật Tử, hết các Giáo Hội đến nhóm này nhóm khác, rồi đến ai nữa ? Thanh lọc riết rồi chỉ còn lại mình ta ? Như vậy thì làm sao mà kêu gọi đa nguyên đa đảng, kêu gọi đoàn kết , thiệt hết sức là mâu thuẩn.

 

              Thông Bạch viết tiếp Tuy nhiên Giáo Hội gặp trở ngại vì nhà cầm quyền cọng sản xen vào nội bộ Phật Giáo, sử dụng một số chư tăng và Phật tử nhẹ dạ, mất lập trường để gây rối và phân hóa nội bộ Giáo Hội. Thực tế này dựa vào Bản Tường Trình và 5 biện pháp cuả Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống (như đã đề cập trên), nên Ban Chỉ Ðạo Viện Hóa Ðạo đưa ra 12 điều sau :

 

              1. “Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo đại diện duy nhất của Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN tại hải ngoại trong nhiệm vụ liên hệ, xây dựng và chỉ đạo các Giáo Hội hải ngoại tại các châu lục”

 

              Chúng ta hãy so sánh Ðiều 1 trên của Thông Bạch Hướng Dẫn với điều 1.2 trong Giáo Chỉ :

 

              “Liên hệ, giúp đỡ và điều hướng các cơ sở Giáo Hội, các tổ chức Phật Giáo Việt Nam và các tổ chức, đoàn thể người Việt tại các châu trong công tác Phật sự, hoằng dương Chánh Pháp và văn hóa.’’ Rõ ràng nội dung biến tướng. Từ liên hệ, giúp đỡ và điều hướng trở thành liên hệ, xây dựng và chỉ đạo.

              Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo giờ đây được giao phó thêm trọng trách : xây dựng và chỉ đạo các Giáo Hội hải ngoại. Thành viên của Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo do Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo thỉnh tuyển và chỉ định, nhiệm kỳ vô thờì hạn. Như vậy những Giáo Hội nào do chư Tăng Ni Phật Tử hải ngoại địa phương đứng ra thành lập và bầu Ban Chấp Hành hay Hội Ðồng Ðiều Hành đều không thuộc hệ thống Viện Hóa Ðạo, không thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Những Giáo Hội do Văn Phòng II Viện Hoá Ðạo đứng ra thành lập và lãnh đạo mớí thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Theo Thông Bạch Hướng Dẫn này Giáo Hội PGVNTNHN sẽ có ít đơn vị cơ sở hơn, nhưng không sao, quí hồ tinh bất quí hồ đa. Cái gì ta nắm được dù ít cũng tốt hơn là nhiều mà không nắm đuợc. Cái ngã và ngã sở của ta nhờ vậy mà an toàn hơn , được kiện toàn vững chắc hơn.

 

              2. “Do đa số thành viên Văn Phòng II VHÐ cư ngụ tại Hoa Kỳ, trụ sở Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo đặt tại Hoa Kỳ”. Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo thỉnh tuyển đa số thành viên Văn Phòng II VHÐ cư ngụ tại Hoa Kỳ, nên trụ sở phải đặt tại Hoa Kỳ. Qua Ðiều 2 này, vị thế của Hoa Kỳ không thể di dịch.

              3. Giải tán các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ và GHPGVNTNHN tại các châu được hình thành theo Quyết Ðịnh số 27- VPLV/VHÐ do quyền Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo ban hành ngày 10- 12- 1992. Quyết Ðịnh này đã hủy bỏ và thay thế bằng Giáo Chỉ số 09/VTT/GC/TT của Ðức Ðệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007. Hòa Thượng Thích Huyền Quang, quyền Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo kiêm xử lý Hội Ðồng Lưỡng Viện GHPGVNTN đã ra Quyết Ðịnh số 27/VPLV/VHÐ, đề ngày 10-12-1992, công nhận Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại Hoa Kỳ như là Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo, có tư cách pháp nhân và pháp lý tầm vóc quốc gia, đại diện toàn quyền Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất quốc nội trong thời gian vô hạn định (Trích Phật Giáo Việt Nam Biến Cố & Tư Liệu 1975- 1995 tr. 49). Từ việc công nhận một Giáo Hội hải ngoại làm Văn Phòng II, đại diện toàn quyền vô thời hạn (từ hai pháp nhân, hai thực thể), trở thành sở hữu của mình vô thời hạn (một hình thức chiếm đoạt), rồi giải tán nó đi, chấm dứt nó đi (thành có hạn kỳ) mà không cần ý kiến của chủ nhân đích thực (Giáo Hội hải ngoại, một pháp nhân theo luật pháp Hoa Kỳ). Không những chỉ giải tán Giáo Hội PGVNTN tại Hoa Kỳ mà khắp các châu lục, có nơi đã thành lập trước khi có Quyết Ðịnh 10-12-1992 ! Chúng tôi không tin vào con mắt của mình khi đọc Ðiều 3 ở trên ! Ai có sáng kiến lạ kỳ này ? Trong Giáo Chỉ không thấy có điều khoản nào ra lệnh giải tán Giáo Hội Hải Ngoại, tại sao Thông Bạch Hướng Dẫn lại ra lệnh giải tán ?

 

              4. Chủ Tịch và các thành viên Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo cấp tốc triệu tập đại hội trong thời gian sớm nhất để thành lập Hội Ðồng Giáo Phẩm và Hội Ðồng Ðiều Hành GHPGVNTN-HN tại Hoa Kỳ theo tinh thần Giáo Chỉ số 09/VTT/GC/TT của Ðức Ðệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007 và theo nội dung Thông Bạch hướng dẫn thi hành Giáo Chỉ số 09 cuả Ðức Tăng Thống mang số 09/VHÐ/TB/VT do Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo ký ngày 25.9.2007. Giáo Hội PGVNTN đang đi vào một thời kỳ mớí, viết những trang sử mớí, đang cố xây dựng Giáo Hội bằng một thiểu số, không dựa vào đạo lý Lục Hòa, nguyên tắc tương thuận, tương kính, đang cố phân hóa những cộng đồng Phật Giáo sẵn có, đang muốn biến mình, thay vì thống nhất trở thành độc nhất, đang trung kiên với dân chủ (?), chính chuyên vớí đa nguyên đa đảng (?) thành khẩn với trào lưu tiến bộ, phát triển tổng hợp và đồng bộ (?) laị trở thành chuyên chính, độc quyền, độc đảng. Trong Giáo Chỉ không thấy có điều khoản nào nói về vấn đề trên, tại sao Thông Bạch Hướng Dẫn lại ra lệnh như vậy ?

 

              5. Chủ Tịch và các thành viên Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo kết hợp vơí các Tổng Uỷ Viên đặc trách liên lạc Úc Châu & Tân Tây Lan, Châu Âu và Canada triệu tập đại hội trong thời gian sớm nhất để thành lập Hội Ðồng Giáo Phẩm và Hội Ðồng Ðiều Hành GHPGVNTN-HN tại Úc Châu & Tân Tây Lan, Châu Âu và Canada theo tinh thần Giáo Chỉ số 09/VTT/GC/TT của Ðức Ðệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007 và theo nội dung Thông Bạch huớng dẫn thi hành Giáo Chỉ số 09 của Ðức Tăng Thống mang số 09/VHÐ/TB/VT do Viện Truởng Viện Hóa Ðạo ký ngày 25.9.2007.

 

              Không biết tác giả đánh giá khả năng cuả các thành viên Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo, các Tổng Uỷ Viên đặc trách liên lạc các châu như thế nào mà viết ra Ðiều 5 ở trên. Tăng Ni Phật Tử ở Hoa Kỳ và các châu không thể một sớm một chiều taọ dựng ra những tổ chức hiện đang hoạt động ở nuớc ngoài. Ngay trong quôc nội vớí uy tín và khả năng của chư tôn đức mà trong thập niên qua chỉ có thể thành lập đuợc 22 Ban Ðại Diện, trừ phi tổ chức đuợc xây dựng trên giấy tờ, một đệ tử cuả một vị đaị sư là chủ tịch của một hội đoàn, như vậy trong thời gian gấp rút có thể xây dựng Giáo Hội vơí hàng trăm phái đoàn tham dự. Giáo Hội PGVNTN lúc bâý giờ cũng chỉ là một hội đoàn trong vô số hội đoàn. Gia Ðình Phật Tử sẽ gặp nhiều trở ngại trong việc giáo dục thanh thiếu niên như hiện nay tại Việt Nam, làm mồi ngon cho những cám dỗ bên ngoài, cho những tổ chức thanh thiếu niên khác. Nhưng chắc Giáo Hội cũng không quan tâm, thà ít mà chính chuyên, quí hồ tinh bất quí hồ đa ! Không thấy điều khoản nào trong Giáo Chỉ nói đến vấn đề trên, tại sao Thông Bạch Huớng Dãn lại ra lệnh như vậy ?

 

              6. Sau khi thành lập GHPGVNTN - HN tại các châu lục qui định tại điều 4 và 5, thành phần nhân sự các Hội đồng Giáo Phẩm và Hội Ðồng Ðiều Hành phải đuợc trình lên Viện Hóa Ðạo để duyệt xét và chuẩn nhận trước khi có hiệu lực hoạt động. Chúng tôi hy vọng Giáo Hội quốc nội có đủ nhân sự, cơ cấu, định chế, phương tiện cần thiết chứ không phải chỉ dựa vào vài lần nói chuyện trên điện thoại, vài tin đồn không kiểm chứng để hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ chuẩn nhận này. Chúng tôi hy vọng quyền hạn đi đôi vớí trách nhiệm. Chúng tôi hy vọng nếu ai có ý kiến về việc chuẩn nhận không bị buộc tội là bất kính, bất tuân, là phản đạo, là xoay lưng lại với Giáo Hội, chống lại Giáo Hội. Không thấy điều khoản nào trong Giáo Chỉ đề cập đến vấn đề trên, tại sao Thông Bạch Hướng Dẫn ra lệnh như vậy?

 

             7. Chủ Tịch Văn Phòng II VHÐ đồng thời là Chủ Tịch Hội Ðồng Ðiều Hành GHPGVNTNHN tại Hoa Kỳ. Bằng nguyên tắc này tiết kiệm được công phu vận động lưu nhiệm, giúp Giáo Hội Hải Ngoại khỏi phải phiền phức tuyển thỉnh vị lãnh đạo. Bằng nguyên tắc này hạt giống dân chủ sẽ được nuôi dưỡng cho đến lúc trưởng thành. Không thấy điều khoản nào trong Giáo Chỉ nói đến vấn đề này, tại sao Thông Bạch Hướng Dẫn lại ra lệnh như vậy ?

 

              8. Tổng Ủy Viên đặc trách liên lạc Úc Châu & Tân Tây Lan, Châu Âu và Canada thuộc Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo đồng thời là Chủ Tịch Hội Ðồng Ðiều Hành GHPGVNTN-HN tại Úc Châu & Tân Tây Lan, Châu Âu và Canada. Bằng phương thức này ai kiểm soát được nhân sự Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo là kiểm soát toàn thế giới Phật Giáo Việt Nam, thật gọn ghẽ. Quí vị đại lão Hòa Thượng nếu ở Úc Châu & Tân Tây Lan và Canada phải chuẩn bị nhường chỗ cho những Ðaị Ðức hay Thượng Tọa đại diện Tòa Thánh Viện Hóa Ðạo. Phật Giáo Việt Nam đang bước vào thiên niên kỷ thứ 21, rất tân kỳ và tiến bộ! Không thấy điều khoản nào trong Giáo Chỉ đề cập đến vấn đề này, tại sao Thông Bạch Hướng Dẫn lại ra lệnh như vậy ?

 

              9. Chủ Tịch Hội Ðồng Ðiều Hành các GHPGVNTN-HN có nhiệm vụ thỉnh cử, bổ sung hay hoán chuyển nhân sự cho đầy đủ theo quy định của Hiến Chương Giáo Hội và trình về Viện Hóa Ðạo duyệt xét và chuẩn nhận. Nếu Pháp nạn còn kéo dài, thì cứ 2 năm một lần cần xem xét lại toàn bộ nhân sự để bổ sung, hoán chuyển hoặc thay đổi theo đúng điều 3 Giáo Chỉ qui định. Chủ Tịch Hội Ðồng Ðiều Hành do Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo thỉnh tuyển, nhiệm kỳ vô thời hạn bây giờ đuợc ban quyền hành rất lớn, quyền tuyển thỉnh nhân sự cho Hội Ðồng Ðiều Hành, quyền sa thải, thanh lọc ít nhất 2 năm một lần các thành viên trong Hội Ðồng. Vị Chủ Tịch này nhiệm kỳ vô thời hạn thành không bận tâm sợ cái ghế chủ tịch của mình bị lung lay mặc dầu không biết có bị cọng sản làm áp lực, mua chuộc để có thể quay lưng chống Giáo Hội. Thật là một cơ chế tân kỳ mà tác giả khi nghĩ ra điều này không phải bị ảnh hưởng của tiên duợc ! Ðiều 3 của Giáo Chỉ viết : “Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo trực thuộc sự chỉ đạo và điều hành của Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo trong nước. Thành viên Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo do Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo thỉnh tuyển và chỉ định, tùy theo nhu cầu, hoàn cảnh, các thành viên có thể được bổ sung, hoán chuyển hay thay đổi.” Nguyên văn cuả Ðiều 3 Giáo Chỉ là như vậy, đâu có giống Ðiều 9 của Thông Bạch. Tại sao Thông Bạch laị viết như vậy ?

 

              10. Chủ Tịch và các thành viên được thỉnh cử vào Hội Ðồng Giáo Phẩm hay Hội Ðồng Ðiều Hành các GHPGVNTN-HN không được tham gia hay giữ chức vụ gì trong các tổ chức, hội đoàn, đảng phái ngoài Phật Giáo. Ðiều này rất kẹt cho vài nhân vật hiện đang hoạt động tích cực cho phong trào vận động dân chủ, nhân quyền, không những hoạt động mà còn lãnh đạo các tổ chức mặc dầu tổ chức chỉ có chủ tịch và vài người bộ hạ, mặc dầu tổ chức nhận đuợc yểm trợ tài chánh phải làm công tác phát triển dân chủ. Nhưng rồi vơí óc sáng tạo, điều này, cũng như những chuyện khác trên thế gian đều có biệt lệ, chẳng hạn như điều này không áp dụng cho đương sự, vì đương sự làm nhiều chức chủ tịch trước khi điều này ra đời, vì những tổ chức này giờ đây thêm chữ Phật Giáo là giải quyết thông suốt vấn đề. Không có điều khoản nào trong Giáo Chỉ đề cập đến vấn đề này, tại sao Thông Bạch Huớng Dẫn thêm vào ?

 

              11. Giáo Chỉ số 09/VTT/GC/TT của Ðức Ðệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007 để đối phó tình hình khẩn cấp Giáo Hội bị đàn áp khốc liệt, có hiệu lực cho đến khi hết pháp nạn. Hòa Thượng Viện Trưởng bây giờ đang làm nhiệm vụ của một cơ chế tối cao qui định giá trị của Giáo Chỉ. Thông Bạch Hướng Dẫn trở thành Sắc Lệnh, Sắc Luật !

 

              12. Thông Bạch Hướng Dẫn thi hành Giáo Chỉ số 098/VTT/GC/TT của Ðức Ðệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang có hiệu lực kể từ ngày Viện TrƯởng Viện Hóa Ðạo ấn ký và cho phổ biến thông qua cơ quan thông tin và phát ngôn của Viện Hóa Ðạo là Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế có trụ sở đặt tại Paris, Pháp Quốc.

              Trong hoàn cảnh Giáo Hội lâm tình thế bức bách, nguy nan, mong chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng Toạ, Ðaị Ðức, Tăng Ni và quí Phật Tử hải ngoại hãy gạt bỏ mọi ý kiến dị biệt, riêng tư, cùng chung lòng với Giáo Hội đem hết thân tâm và trí tuệ phụng sự Ðạo Pháp và Dân Tộc cho đến ngày thành công, như ý. Vì hoàn cảnh đặc biệt Hòa Thượng Viện Trưởng kêu gọi Tăng Ni Phật Tử bỏ mọi ý kiến dị biệt, ngoại trừ Hòa Thượng. Vì hoàn cảnh đặc biệt Hòa Thượng lãnh trọng trách làm nhiệm vụ Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp. Vì hoàn cảnh đặc biệt Hòa Thượng Viện Trưởng làm quan tòa phán quyết không cần tòa án, không cần luật sư, không cần bị cáo. Hòa Thượng Viện Trưởng đang lập những Toà Án Dị Giáo ở thế kỷ 21, có lẽ nên gọi là Tòa Án Dị Kiến mới sát nghĩa. Tất cả cho Ðạo Pháp và Dân Tộc ?

 

              Thanh Minh Thiền Viện

 

              Sàigòn, ngày 25 tháng 9 năm 2007

 

              Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN

 

                                       (ấn ký)

 

                            Sa Môn Thích Quảng Ðộ

 

              Tại sao trong Giáo Chỉ không đề cập đến những vấn đề ở Ðiều 3,4,5,6,7,8,9,10 mà Thông Bạch Hướng Dẫn lại đưa ra, như vậy đâu phải hướng dẫn thi hành Giáo Chỉ mà là ban hành Giáo Chỉ mới ?

             Không phải như vậy vì thực sự Thông Bạch Hướng Dẫn không những dựa vào Giáo Chỉ mà còn dựa vào 5 biện pháp chấn chỉnh Giáo Hội của Hòa Thượng Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống gửi cho Hòa Thượng Viện Trưởng (Xem 5 đề nghị của Hòa Thượng Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống ở trên).

 

              Như vậy đề nghị của vị Chánh Văn Phòng trở thành Giáo Chỉ ?

 

              Chúng tôi không dám cả quyết. Có lẽ tác giả của Thông Bạch Hướng Dẫn muốn gạt một số phần tử ra ngoài Giáo Hội mà họ cho là gây rối, hay đặt vấn đề, hay phê bình điều này điều nọ, hoặc họ ngại bị ra rìa trong kỳ Ðại Hội Khoáng Ðại năm 2008, nên phải thanh trừng, mà Giáo Chỉ ngoài phần Nhận Ðịnh, phần Quyết Ðịnh chưa giải quyết vấn đề. Phải sắp xếp thế nào để có những biện pháp cứng rắn hơn. Ai có thể đưa ra biện pháp? Nhân tuyển tốt nhất là một vị trong Viện Tăng Thống.

 

              Viện Tăng Thống ra lệnh dù với hình thức nào, Viện Hóa Ðạo thi hành thì yên ổn hơn. Có lẽ vì vậy mà có bản Tường Thuật với 5 đề nghị ? Lẽ dĩ nhiên đề nghị này không thể trình lên Ðức