NHẬN ĐỊNH VỀ
“QUYẾT
NGHỊ 9 ĐIỂM”
CỦA GHPGVNTN
Thích Siêu Phương
ào
một giai đoạn nào đó trong cơn biến hoại vô thường, các tổ chức Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) trong nước hoặc ngoài nước, có thể
có những dị biệt về quan điểm hành đạo, đường hướng dấn thân, nên không thể
chung thuyền lướt sóng. Nhưng sự nghiệp chung là hoằng dương chánh pháp để
phục vụ nhân loại và dân tộc thì không thể nào khác nhau được. Vì đây là mục
đích đã được nêu một cách rõ ràng trong Chương thứ Hai của Hiến chương
GHPGVNTN.
Nhìn vào thực tế hiện
nay, người ta thấy có sáu giáo hội trong hệ thống Phật giáo Thống Nhất :
GHPGVNTN
quốc nội (1), GHPGVNTN Âu châu (2), GHPGVNTN Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân
Tây Lan (3), GHPGVNTN Hải Ngoại tại Hoa Kỳ (4), GHPGVNTN Hoa Kỳ (5), và
GHPGVNTN Hải ngoại tại Canada (6). Sáu giáo hội này có pháp lý riêng tại mỗi
quốc gia mà tổ chức đó lập nên.
Cũng không
thể không kể đến một tổ chức gọi là Văn Phòng II Viện Hóa Đạo (VPII VHĐ),
theo Thông bạch Hướng dẫn Thi hành Giáo chỉ số 9 thì trực thuộc Viện Hóa Đạo
trong nước. Do trực thuộc Viện Hóa Đạo trong nước, VPII VHĐ
cả về pháp lý lẫn tinh thần là cái bóng của Văn Phòng I (VPI). VPI sống thì
VPII sống, VPI chết thì VPII chết. VPI chưa được CSVN công nhận về pháp lý
sinh hoạt thì VPII, dù nương gá vào pháp lý của GHPGVNTN Hải Ngoại tại Hoa
Kỳ để thở, và dù muốn dù không, vẫn không được công nhận. Trong trường hợp
VPI trong nước bị bức tử bởi bạo quyền, VPII chết theo. Cũng may là nếu xảy
ra trường hợp đau lòng đó, GHPGVNTN vẫn còn lại 5 giáo hội sinh hoạt tại hải
ngoại. Trong tinh thần
“không đặt sự
tồn tại nơi nguyên vị cá biệt”
của Hiến chương, GHPGVNTN không chôn mình vào cái vỏ của tổ chức, không
trói mình vào giới hạn của danh tướng, do đó có thể
“tùy duyên bất biến”
mà tồn tại trong lòng nhân loại và dân tộc, bằng hình thức này hay hình thức
khác. Không thế lực nào có thể hủy diệt được.
Nếu có sự liên kết chặt
chẽ, dù xếp theo hệ thống dọc hay ngang, dù không thể liên đới trách nhiệm
trên mặt pháp lý, năm hay sáu giáo hội là một khối đồng nhất. Nhưng khi có
sự bất đồng về lãnh đạo và đường hướng sinh hoạt, có sự mộng tưởng tập trung
quyền lực vào một thiểu số để ban bố, loại trừ, khai trừ, không công nhận
nhau, khối đồng nhất này sẽ phân thành hai, thậm chí thành sáu tổ chức riêng
biệt. Xét trên tinh thần hòa hợp cố hữu của Tăng-đoàn, đây là điều dở của
lãnh đạo; nhưng xét về xu thế phát triển, có thể là dấu hiệu tốt cho sự khai
mở những hướng đi độc lập và sáng tạo.
Trong viễn kiến đó, sau
cơn khủng hoảng của giáo hội vì
“sự biến” giáo chỉ và thông bạch, nếu mỗi
tổ chức Phật giáo đều tự chăm lo, vun bồi nội lực và tích cực hoằng dương
chánh pháp thì sẽ như nhiều cánh hoa rộ nở trong vườn hoa nhân loại. Rất
tiếc là “cây muốn lặng mà gió chẳng muốn ngừng.”
Tư tưởng tập trung quyền lực và muốn loại trừ kẻ bất đồng quan điểm vẫn còn
nóng sốt trong máu của một số người, để rồi hết thông bạch này đến thông
bạch khác, cứ lặp đi lặp lại cái chuyện không công nhận, không thừa nhận.
Các thông bạch này còn được tung hô bởi ngoại đạo và các tổ chức chính trị
chẳng liên quan gì Phật giáo.
Mới nhất là Thông bạch
số 33/HĐLV/TB/XLTV, từ giáo hội trong nước (mà
thực chất là do tác động từ một thiểu số tại hải ngoại) ký ngày
15.11.2008, vẫn tiếp tục không nhìn nhận các tổ chức giáo hội có pháp lý tại
các châu lục và quốc gia họ sinh hoạt. Giáo hội trong nước suốt trên ba mươi
năm đòi hỏi CSVN
“phục hồi
quyền sinh hoạt pháp lý của GH PGVN
TN”
(trích
nguyên văn Thông bạch số 33) chưa thành công, mà lại vươn tay ra
hải ngoại để phủ nhận pháp lý của bốn tổ chức giáo hội khác !
Thực là điều hoang tưởng, cực kỳ mâu
thuẫn, nghịch lý !
Lý do gì ? – Thông bạch
nói :
“đối với chư
tôn đức và số đoàn viên Gia Đình Phật tử, đã từ bỏ GH PGVN TN, nếu thấy cần
thành lập một tổ chức Phật giáo khác, điều đó không ai cấm cản. Nhưng chúng
tôi phản đối việc sử dụng danh xưng GH PGVN TN khi không tuân thủ nội dung
Hiến Chương GH PGVN TN”
(điểm 9, Thông bạch số 33).
Ai
“từ bỏ GH PGVN TN” và ai “không tuân thủ nội dung Hiến Chương GH
PGVN TN” ?
Để trả lời những câu hỏi này, hãy thử
bàn về Thông bạch số 33, mà tiêu đề được Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế
(PTTPGQT) gọi là “Lập trường 9 điểm” hay “Quyết
Nghị 9 điểm.”
HÌNH THỨC QUYẾT NGHỊ 9 ĐIỂM
Ngày 17.11.2008 vừa qua,
PTTPGQT phổ biến một văn kiện qua Thông cáo báo chí
(Tcbc)
làm tại Paris, với tựa đề
“Lập trường 9 điểm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thống nhất công bố sau phiên họp thường niên của Hội đồng Lưỡng Viện tại
Saigon.” Tưởng là có biến cố trọng đại nào xảy ra cho giáo hội
trong nước khiến phải đưa ra “lập trường”
mới, nhưng không, đọc vào lời giới thiệu của Tcbc này, mới biết là có
một “quyết
nghị” gọi là “Quyết nghị 9 điểm” của phiên họp
thường niên Hội đồng Lưỡng viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
(GHPGVNTN) tại chùa Giác Hoa, Saigon ngày 15.11.2008.
Lại đọc tiếp đến để đi
vào văn kiện chính – như lời giới thiệu của Tcbc nói
“sau đây là
toàn văn bản Quyết Nghị Chín điểm của Hội Đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống nhất” – thì
cũng không thấy văn kiện
“Quyết Nghị 9 điểm” đâu ;
mà chỉ có Thông bạch số
33/HĐLV/TB/XLTV, với tiêu đề
“Thông bạch về phiên họp thường niên của Hội Đồng
Lưỡng Viện GH PGVN TN tại Chùa Giác Hoa, Sài Gòn, ngày 15.11.2008”
qua đó, có nói là đã “thông qua Bản
Quyết Nghị gồm 9 điểm sau đây…” Rồi “thông bạch” này đưa ra 9 điểm của
Quyết Nghị, với ấn ký của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ,
“thay mặt Hội Đồng Lưỡng Viện
GHPGVNTN, Viện trưởng Viện Hóa, kiêm Xử lý Thường Vụ Viện Tăng Thống.”
Xin nhấn mạnh, thông bạch này dùng chữ
“Viện Hóa” chứ không phải “Viện
Hóa Đạo”. Có lẽ do công an bao vây chặt chẽ để chờ giáo hội với
“đông đủ các thành viên Hội đồng Lưỡng Viện” họp xong, liền báo
trước cho giáo hội biết họ sắp tung ra
“chiến dịch nước lũ” nên văn bản từ phút đầu thì đánh máy rõ ràng, nhưng
đến phút chót sắp ký tên thì vội vàng, gấp rút, để rồi thiếu mất chữ “Đạo”.
Nhưng thôi, hãy xem đây là sơ xuất nhỏ về hành chánh, lỗi của thư ký. Đừng
nghĩ đây là điềm báo trước biến cố gì đó hoặc biểu hiện phẩm cách của Viện
Hóa Đạo.
NỘI DUNG QUYẾT NGHỊ 9 ĐIỂM
Bây giờ hãy lược qua về
9 điểm mà Tcbc của ông Võ Văn Ái gọi là “lập trường”, và Viện Hóa Đạo (VHĐ)
gọi là “quyết nghị,” và Hòa thượng Viện trưởng kiêm Xử lý Thường vụ Viện
Tăng Thống (VTT) gọi là “thông bạch.”
-. “Điểm thứ 1 :
“Quyết
tâm nối tiếp sự nghiệp phụng sự chánh pháp và dân tộc, mà Đức cố Đệ Tứ Tăng
Thống GH PGVN TN đã vạch ra, cho dù còn rất nhiều khó khăn phía trước đang
chờ đón, vẫn không nao núng chùn bước.”
Điểm này rất thừa và thiếu,
nếu không muốn nói là sai.
Thừa
là vì
“sự nghiệp
phụng sự chánh pháp và dân tộc” là sự nghiệp chung của tăng
sĩ Phật giáo, đã có nêu trong Hiến chương GHPGVNTN, chương thứ Hai, Mục
đích:
“Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống nhất điều hợp các tông phái Phật giáo tại Việt Nam
để phục vụ Nhân loại và Dân tộc bằng cách hoằng dương Chánh Pháp”.
Sự nghiệp này, đối với tăng sĩ và các tổ chức Phật giáo, đặc biệt là
GHPGVNTN trong và ngoài nước, xưa nay không thay đổi, không lẽ giáo hội
trong nước có thay đổi nên nay mới đưa ra
“lập trường”
ngay ở điểm đầu ? Còn như nói rằng
“sự nghiệp”
của Đức Đệ Tứ Tăng Thống khác với sự nghiệp của giáo hội thì sao không nói
rõ ra khác chỗ nào ? Mà nếu khác thì có phù hợp với
“nội dung
Hiến chương GHPGVNTN” hay không, có được thông qua bởi một
đại hội khoáng đại hay bất thường nào không ?
Thiếu là vì, sự nghiệp của
GHPGVNTN không phải chỉ đối với Dân tộc, mà còn đối với Nhân loại
(như trích
dẫn Hiến chương ở trên).
Sai là vì, không phải đến
đời Tăng Thống Đệ Tứ mới
“vạch ra” một sự nghiệp cho giáo hội ;
vả lại, mục đích của giáo hội không
phải là
“phụng sự
chánh pháp” mà chính là phụng sự nhân loại và dân tộc.
“Phục vụ Nhân
loại và Dân tộc bằng cách hoằng dương Chánh Pháp”
khác với “phụng sự chánh pháp.”
Điều này được minh định trong Lời mở
đầu Hiến Chương GHPGVNTN :
“Giáo hội Phật
giáo Việt Nam
Thống nhất không đặt sự tồn tại trên nguyên vị cá biệt, mà đặt sự tồn tại ấy
trong sự tồn tại của nhân loại và dân tộc.”
Có nghĩa rằng, GHPGVNTN có mặt không phải vì
chính nó, cũng không phải vì chánh pháp, mà chính là để
“phụng sự nhân
loại và dân tộc.” Chánh Pháp cần
được thực hành và xiển dương, không cần được phụng sự; chỉ có chúng sinh,
nhân loại và dân tộc cần được phụng sự và cứu độ, bằng phương tiện Chánh
Pháp.
Tóm một câu, điểm 1 này
vay mượn công thức của CSVN đối với lãnh tụ đã qua đời của họ. Khi Đức Tăng
Thống còn sinh tiền, cấp dưới không vâng mệnh, còn lấn áp, qua mặt, hăm dọa
từ chức và thổi phồng nguy cơ tan rã của giáo hội để ép ngài chấp nhận những
yêu sách phi lý của nhóm thiểu số; sau khi ngài mất, tiếp tục bám vào uy đức
của ngài để sống còn.
-. Các điểm 2, 3 và 4
:
(xem
Thông bạch số 33/HĐLV/TB/XLTV) có thể được xem là đối ngoại, liên
quan Dân tộc và Đạo Pháp (ở đây là GHPGVNTN). Trên đại thể,
các điểm này đúng, cần làm, xin tán đồng. Nhưng về chi tiết, riêng ở điểm 3,
dường như giáo hội cố ý đưa ra những yêu sách mà nhà cầm quyền CSVN không
thể đáp ứng vì tự ái hay quyền lợi của họ, hoặc vì không có khả năng giải
quyết. Như vậy, xét về mục đích đấu tranh, giáo hội không thực tâm muốn được
phục hoạt hay phục hồi pháp lý; xét về mặt đường hướng, giáo hội không có
sách lược khả thi nào cả.
-. Điểm 3 :
cũng
cho thấy cái mâu thuẫn lạ kỳ của giáo hội hiện nay (2008) trong công cuộc
đấu tranh phục hoạt. Từ 1992, ngay khi cung tiếp ấn tín của Hội đồng Lưỡng
viện, HT Thích Huyền Quang đã tuyên bố khởi động cuộc đấu tranh đòi phục
hoạt GHPGVNTN. Phục hoạt ở đây là phục hoạt quyền sinh hoạt độc lập, dân lập
và truyền thống
(không thuộc vào hệ thống Mặt trận của Nhà nước)
và hợp pháp
(không bị Nhà nước ngăn cấm, cản trở và quấy
nhiễu các sinh hoạt của giáo hội). Nhưng ý nghĩa phục hoạt nơi
điểm 3 của Quyết Nghị 9 điểm dường như đã khác :
“Kêu
gọi nhà cầm quyền Hà nội hãy nhanh chóng phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý
của GH PGVN TN theo lập trường 4 điểm mà Viện Hóa Đạo đã đề xuất.”
Thử bàn xem. Trước nhất,
“kêu gọi nhà
cầm quyền Hà nội”
có vẻ như là tiếng kêu của người nước ngoài, không phải từ trong nước và
không phải người Việt Nam.
Dù trong lòng muốn phủ nhận chế độ cầm quyền ấy, nhưng trên mặt hành chánh,
giáo hội không thể gọi Nhà nước mà mình đang yêu cầu những nguyện vọng của
mình bằng
“nhà cầm
quyền Hà nội” !
Nếu không công nhận họ là chính phủ
hợp pháp của quốc gia mà giáo hội đang sinh hoạt thì họ không có thẩm quyền
cứu xét gì những yêu cầu của mình cả. Thứ nữa, một mặt kêu gọi chính quyền
“nhanh
chóng phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của GH PGVN TN” nhưng
mặt khác, lại đưa ra lập trường 4 điểm rất hạn cuộc, tiểu tiết, mà nếu phải
giải quyết ổn thỏa 4 điểm này thì rất tốn thời gian, có thể 10 năm, hoặc sẽ
không bao giờ giải quyết được. Như vậy có nghĩa là giáo hội dùng 4 điều kiện
bất khả thi để ép Nhà nước bó tay, chứ không có thiện chí đối thoại để giải
quyết pháp nạn của giáo hội. Muốn “nhanh chóng” nhưng đưa ra điều
kiện dài lâu ; muốn phục hoạt nhưng
thực sự là không muốn. Ở điểm này, không lẽ lời luận bàn của một số chư tôn
đức và cư sĩ lại đúng : nếu Nhà nước
cho giáo hội phục hoạt sớm quá, giáo hội chưa chuẩn bị được nhân sự thích
hợp để gánh vác từ hạ tầng đến trung ương ;
vả lại, phục hoạt rồi thì ông Võ Văn
Ái sẽ thất nghiệp, có lý do gì để ăn lương đấu tranh nữa !
Trong khi đó, đường
hướng đấu tranh của cố Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thì bao trùm cả
đất nước, với cả chiều dài lịch sử của dân tộc :
"Pháp
lý của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là chánh pháp của 2000 năm
lịch sử đạo lý và văn hiến trên đường mở nước, giữ nước và cứu nước ;
cơ sở của GHPGVNTN là nông thôn,
thành thị, núi rừng và hải đảo dưới hào quang của trí tuệ và từ bi ;
địa vị của GHPGVNTN là 80% dân chúng,
già trẻ lớn bé..." Với
tinh thần bao dung, cái nhìn quảng viễn như vậy, giáo hội nằm trong lòng dân
tộc và đất nước, đâu cần phải đòi từng cái nhà, hay đòi trả mạng hoặc làm
sáng tỏ sự hy sinh của bao vị thánh tử đạo đã nằm xuống
(chứ không riêng gì cố Ht. Thích Thiện Minh).
Điều mà giáo hội yêu cầu là quyền sinh hoạt tự do như trước năm 1975. Đã có
dấu hiệu tốt cho sự phục hoạt của giáo hội là vào ngày 02.4.2003, khi cố Đại
lão Hòa thượng Thích Huyền Quang tiếp kiến Thủ tướng Phan Văn Khải tại dinh
Thủ tướng tại Hà nội. Trong dịp này, phía chính quyền lên tiếng
“sám hối”
và yêu cầu Hòa thượng từ bi bỏ qua; phía Hòa thượng cũng ngỏ lời
“hỷ xả.”
Đối thoại trong khoan dung, cảm thông vẫn là điều kiện tiên quyết cho mọi
chính sách ngoại giao, giữa cá nhân với cá nhân, tổ chức với tổ chức, quốc
gia với quốc gia. Đáng tiếc là liền sau đó, những người không muốn phục hoạt
giáo hội theo đường hướng của Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang đã cố
tình cắt đứt tiến trình tốt đẹp hãn hữu này.
Trở lại điểm 3 của Quyết
Nghị. Điểm 3 đưa ra lập trường 4 điểm làm khó đối tượng mà giáo hội
“kêu
gọi”, trong đó, điều thứ 3 lại nêu một yêu cầu rất mâu thuẫn
và “thiếu
chuyên nghiệp” hành chánh :
“Đưa GH
PGVN mà đảng Cộng sản và nhà nước CHXHCNVN đã thiết lập năm 1981, ra khỏi
MTTQVN, một cơ quan ngoại vi của đảng Cộng sản.”
Thứ nhất, từ khi GHPGVN do Nhà nước chỉ đạo thành lập năm 1981 đến
nay, GHTN không hề công nhận giáo hội ấy, và trong một số trường hợp, phát
ngôn nhân và nhiều thành viên của GHTN đã dùng ngôn từ khinh miệt để gọi
giáo hội Nhà nước là
“giáo hội
quốc doanh”, cá nhân những thành viên giáo hội ấy là
“tay sai”,
“giáo gian”, “tôi đòi,” v.v…;
vậy GHTN
lấy danh nghĩa gì để can thiệp vào chuyện của giáo hội Nhà nước ?
Thứ
nhất, nếu GHPGVN và GHPGVNTN là một thì mình với họ giống
nhau, đều nằm trong sự chỉ đạo của Nhà nước, thì phải vận động đưa cả hai ra
khỏi Mặt trận chứ sao chỉ yêu cầu giùm cho GHPGVN.
Thứ hai,
nếu GHPGVN thuộc Nhà nước, còn GHPGVNTN thì độc lập, không liên hệ, vậy thì
mình có quyền hạn nào để yêu cầu đưa giáo hội ấy ra khỏi Mặt trận ?
Họ là đương sự, mình là ngoại nhân,
họ không yêu cầu thì thôi, sao mình lại yêu cầu.
Thứ ba,
nếu nói rằng : GHPGVNTN có trách nhiệm can thiệp cho quyền sinh hoạt độc lập
của GHPGVN, có nghĩa là đã công nhận tính cách pháp lý của họ, trong khi
chính giáo hội Thống nhất thì đang còn đấu tranh để được
“phục hồi pháp lý sinh hoạt”
trong nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Bây giờ hãy bàn về 5
điểm sau của Quyết Nghị. 5 điểm này được xem là
“đối nội.”
-. Điểm thứ 5 :
“Kiện
toàn nhân sự HDLV, củng cố và tiếp tục thành lập Ban Đại diện GH PGVN TN các
Miền, các tỉnh thành và đặc biệt là kiện toàn đoàn thể Gia Đình Phật tử Việt
Nam.”
Kiện toàn xong rồi giải
tán, giải tán xong rồi lại kiện toàn. Giáo hội chỉ lo việc kiện toàn không
thôi cũng mất hết thời gian, có sức đâu mà đấu tranh trực diện với chính
quyền. Một cơ thể bệnh hoạn mới vừa phục sức một phần vào năm 2003 thì đã
liên tiếp chịu thêm bệnh ở nội tạng thì làm sao đứng vững. Đã vậy, chữa bệnh
mà không chữa trong gốc, cứ quýnh quáng ban hành giáo chỉ với thông bạch để
“thanh trừng
nội bộ” theo lời gièm pha của ác nhân và ngoại đạo thì trước sau
gì cũng dẫn đến chỗ hết thuốc chữa.
-. Điểm thứ 6 :
“Tùy hoàn cảnh địa phương, tổ chức các khóa tu học,
các khóa hội thảo Phật Pháp, Tu bát quan trai, hành thiền… tạo điều kiện cho
Phật tử tại gia học Phật.”
Không lẽ đây là những
điều mới lạ cần thực hành ? Xưa nay
giáo hội không làm những chuyện này sao? Bây giờ ra lệnh tổ chức tu học như
vậy không biết có mâu thuẫn gì với những tuyên bố trước đây của ông Võ Văn
Ái, phát ngôn nhân Viện Hóa Đạo là
“Luận
điểm tuyên truyền của họ là
:
‘Nên
làm văn hóa thuần túy, nên lo giáo dục thuần túy, nên tu học thuần túy’. Đây
là thứ lý luận đuổi chim để thủ tiêu tranh đấu”
(trích Tcbc của PTTPGQT ngày 26.9.2007).
Phải chăng đến giờ phút này, sau 33 năm đấu tranh, giáo hội mới bắt đầu kêu
gọi tổ chức tu học ? Giáo hội đã thay
đổi lập trường, đường hướng rồi chăng ? Trước
đây, người khác tổ chức tu học, làm văn hóa giáo dục thì giáo
hội phản đối, cho là
“thuần túy”, không nên làm; còn giáo
hội bây giờ thì sao ? Không lẽ chỉ có giáo hội làm thì mới đúng chánh pháp,
còn ai khác mà làm thì chỉ là
“thứ
lý luận đuổi chim để thủ tiêu tranh đấu” ?
-. Điểm thứ 7 :
“Hơn bao giờ hết, hàng xuất gia cũng như tại gia nỗ
lực hành trì Giới- Định-Tuệ để tích tập phước đức tự thân trang nghiêm Giáo
hội, nêu cao đời sống phạm hạnh, thiểu dục, tri túc và thận ngôn… nhằm ngự
chế tình trạng đạo đức suy thoái như hiện nay, trong đời sống xã hội.”
Lạ chưa,
không lẽ trước đây hàng xuất gia và tại gia của giáo hội đều làm ngược lại,
bây giờ, “hơn bao
giờ hết” mới thức tỉnh và kêu gọi hành trì Giới-Định-Tuệ…?
Và tại sao trong sự nỗ lực tu tập và
tích tập phước đức lại có vấn đề
“thận ngôn”
(cẩn
thận lời nói) ở đây ?
Phải
chăng trong quá khứ đã lầm lỡ để cho phát ngôn nhân VHĐ phát
ngôn bừa bãi, hỗn láo với tăng ni, xúc phạm phật-tử, bây giờ mới kêu gọi giữ
gìn lời ăn tiếng nói ? Bây
giờ nhìn ra vấn đề thì đã quá muộn màng, nhưng dù sao vẫn
tốt. Quan trọng là phải cân nhắc từng
lời của các giáo chỉ, thông bạch, sao cho lời nói từ hai cơ quan lãnh đạo
tối cao của giáo hội một khi buông ra thì phải đem lại niềm hoan hỷ, an lạc
và hòa hợp đoàn kết cho cả người xuất gia lẫn tại gia. Chứ kêu gọi
“thận
ngôn” mà ngay trong chính thông bạch 33 đang bàn tới lại phóng
ngôn nói lời chia rẽ, chửi bới, trách cứ, kết tội kẻ khác… thì kêu gọi như
thế chỉ là kêu gọi suông, không thực lòng.
Đây, hãy đọc tiếp điểm 8
và 9 trong văn bản hành chánh của Viện Hóa Đạo, do PTTPGQT phổ biến, đã được
“thận ngôn”
kỹ lưỡng.
-. Điểm thứ 8 :
“Đề cao cảnh
giác trước những mưu toan xảo trá, luận điệu xuyên tạc, vu khống, lường gạt
của các thế lực vô minh, của nội ma ngoại chướng đang nỗ lực đánh phá GH
PGVN
TN.”
Khoan nói
“những mưu toan xảo trá”
phát xuất từ đâu, chỉ xét cái ngôn phong của lãnh đạo giáo hội như thế thì
thử hỏi có thuyết phục được ông Võ Văn Ái thận
ngôn không, nói gì kêu gọi những
người khác! Còn
“luận điệu
xuyên tạc, vu khống, lường gạt”
thì rõ ràng là lời
tự trách dành cho những phát ngôn nhân của Viện Hóa Đạo tại hải ngoại
(như Thích
Chánh Lạc, Thích Giác Đẳng, Thích Viên Lý, Thích Thiện Tâm, Giác Đức, Võ Văn
Ái) và trong nước
(như Thích Không Tánh, Thích Như Tấn, Thích
Chơn Tâm). Cứ đọc hết những văn bản
(bằng email, Tcbc, bài viết trên diễn đàn),
nghe hết những audio hội thảo và họp báo do VPII VHĐ tổ chức thì sẽ thấy rõ
tính cách
“xuyên tạc, vu khống, lường gạt”
xuất phát từ đâu.
Chưa có
ai, chưa có tổ chức nào ở hải ngoại xuyên tạc, vu khống, lường gạt giáo hội
hay thành viên VPI và VPII VHĐ.
Nếu có, xin đưa dẫn chứng, đừng có hàm hồ, chụp mũ vu vơ. Chỉ có VPII VHĐ
xuyên tạc, vu khống, lường gạt tăng ni và phật-tử trong và ngoài nước qua
nhiều vấn nạn đã được nêu, cụ thể là qua 33 câu hỏi chất vấn ông Võ Văn Ái
(và VPII VHĐ) trong bài viết của Thích Viên Giáo. Giáo hội có đủ can
đảm trả lời các điều sai lầm trầm trọng mà nhiều người đã nêu lên không, hay
chỉ biết chụp mũ họ là cộng sản, hoặc thỏa hiệp cộng sản để tránh né trả lời
? “Nội ma ngoại chướng” ở
đâu ? – Ngay trong VPI và VPII chứ có xa xôi gì !
-. Điểm thứ 9 :
“Sau
hết, đối với chư tôn đức và số đoàn viên Gia Đình Phật tử, đã từ bỏ GH PGVN
TN, nếu thấy cần thành lập một tổ chức Phật giáo khác, điều đó không ai cấm
cản. Nhưng chúng tôi phản đối việc sử dụng danh xưng GH
PGVN TN khi không tuân thủ nội dung Hiến Chương GH PGVN TN.”
Điểm này có hai điều cần
nói, một là “từ bỏ GH
PGVN
TN,” hai là
“không tuân thủ nội dung Hiến Chương GH PGVN TN.”
-. Từ bỏ GHPGVNTN :
Thế nào là từ bỏ ?
1) về Sự
: tuyên bố bằng lời
nói, chữ viết và hành động cụ thể, có thể xác minh qua văn kiện, cho thấy
thành viên này không còn đứng trong tổ chức giáo hội.
2) về Lý :
tuy không có văn kiện rõ ràng cho
thấy thành viên này từ bỏ giáo hội, nhưng đường hướng sinh hoạt của cá nhân
thành viên này hoặc tổ chức mà thành viên này tham gia, hoàn toàn trái ngược
với tôn chỉ và mục đích của giáo hội.
Xét cả về Sự lẫn Lý ở
trên, xin hỏi đã có bất cứ thành viên nào trong giáo hội, cả trong nước lẫn
hải ngoại, được xem là
“từ bỏ GH
PGVN
TN”
hay không ? Nếu có, xin
dẫn chứng, đừng nói vu vơ, hàm hồ.
-. Không tuân thủ nội dung Hiến
Chương GH PGVN TN : Nội dung của Hiến Chương
GHPGVNTN mà Quyết Nghị 9 điểm này muốn nói là gì ?
Là
“tinh thần”
của Hiến Chương hay toàn bộ văn
bản 11 Chương, 40 điều của Hiến Chương tu chính trong Đại hội GHPGVNTN kỳ 5,
ngày 12.12.1973, hay là nội dung của một hiến chương nào đó mà tăng ni
phật-tử hải ngoại chưa hề biết ? Nếu
đúng là Hiến Chương GHPGVNTN tu chính năm 1973 thì ngoại trừ Chương thứ I
nói về
“Danh hiệu,
huy hiệu, giáo kỳ”, Chương thứ IV nói chi tiết về
“Hệ thống tổ
chức” với nhiệm vụ và quyền hạn của thành viên lưỡng viện,
Chương thứ VI về “Tự
viện\,,” Chương thứ
VII về “Tăng
sĩ”, Chương thứ VIII về
“Tín đồ”,
Chương thứ X nói về
“Tài sản”, và Chương thứ XI về
“Phương thức
áp dụng” Hiến Chương và dự án tu chính, các chương còn lại đều ít nhiều nói
lên nội dung cốt lõi của Hiến Chương liên quan đến hiện tình khủng hoảng của
giáo hội.
Xin điểm qua để biết
ai là người
“không tuân thủ nội dung Hiến Chương
GH PGVN TN.”
NỘI DUNG HIẾN CHƯƠNG GHPGVNTN
Quan trọng nhất là
Lời Mở Đầu, được xem
là như là tuyên ngôn, nói lên lập trường và mục tiêu nhất quán của GHPGVNTN,
cô đọng trong hai đoạn văn cốt tủy như sau :
-. Lập trường :
“Công
bố lý-tưởng hòa-bình của giáo-lý Ðức Phật, các tông phái Phật-giáo Bắc Tông
và Nam Tông tại Việt-Nam, thực-hiện nguyện-vọng thống-nhất thực sự đã
hoài-bão từ lâu để phục-vụ nhân-loại và dân-tộc: đó là lập-trường thuần nhất
của Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất.”
-. Thể cách hình thành và tồn
tại : “Giáo-Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất không đặt sự tồn tại của mình nơi nguyên vị cá biệt, mà đặt sự
tồn tại ấy trong sự tồn tại của nhân loại và dân tộc.”
Công bố lý tưởng hòa bình, thống nhất các tông
phái Phật giáo, để phục vụ nhân loại và dân tộc.
Lập trường rõ ràng như thế, xin hỏi thành viên nào trong GHPGVNTN trong và
ngoài nước đã
“không
tuân thủ” ? Bốn giáo hội
gồm 104 thành viên ký tên trong Tuyên Bố Chung ngày 09.9.2008 có công bố
điều gì mang tính cách chiến tranh, hiếu chiến, chia rẽ, phá hòa hợp tăng,
chống lại nhân loại và dân tộc hay không? Nếu có, xin dẫn chứng, đừng vu
khống, hàm hồ. Ngược lại, các văn kiện có tính cách hiếu chiến, nhiều hận
thù, ra lệnh giải tán, loại trừ, không thừa nhận, không công nhận, kết án
không bằng chứng chư tăng ni
(là phản bội, ly khai, tiếm danh), vu
khống các tổ chức Phật giáo
(là đầu hàng, thỏa hiệp CS) v.v… thì
có thể nhìn thấy rành rành trong các giáo chỉ, thông bạch xuất phát từ VPI
hoặc VPII VHĐ. Vậy
ai là người “không tuân thủ nội dung
Hiến Chương” ?
Không đặt sự tồn tại của mình nơi nguyên vị cá
biệt, mà đặt sự tồn tại ấy trong sự tồn tại của nhân loại và dân tộc.
Tinh
thần vô tướng, vô ngã, của Phật giáo được đặt vào tuyên ngôn bất hủ này.
Theo đó, giáo hội tuy có hình thức là một tổ chức hành chánh, nhưng đồng
thời cũng là vô tướng, vì tướng của nó nằm trong lòng nhân loại và dân tộc.
Khi nào nhân loại và dân tộc còn, nó còn. Không đáp ứng được nguyện vọng của
nhân loại và dân tộc thì dù cái danh cái tướng có còn, cũng xem như đã mất.
Tinh thần vô tướng, vô ngã này còn mở đường cho sự phát huy vô hạn của giáo
hội thông qua bất cứ hình thái tổ chức Phật giáo nào khác. Ngay cả khi tổ
chức GHPGVNTN không còn tồn tại vì nội ma hay ngoại chướng, tinh thần của nó
vẫn bất diệt. Còn sắc tướng thì còn sinh diệt, vô danh vô tướng thì lấy gì
mà diệt ? Cốt tủy của tuyên ngôn này
không biết VPI và VPII VHĐ có nắm được không ?
Hay là đã cố ý quên, để rồi tự cho
rằng giáo hội này là của tôi, của nhóm tôi, tôi lãnh đạo thì tôi là ông chủ
của giáo hội này, ông chủ nói thì tất cả đầy tớ phải nghe, không được cãi ?
Kế tiếp là
Chương thứ II, Mục đích,
Ðiều thứ
4
:
“Giáo
Hội Phật Giáo Việt nam Thống Nhất điều hợp các tông phái Phật Giáo tại Việt
Nam
để phục vụ Nhân Loại và Dân Tộc bằng cách Hoằng Dương Chánh Pháp.”
Với mục đích hoằng dương Chánh Pháp để phục vụ Nhân loại và Dân tộc
này, đã có thành viên nào thuộc bốn giáo hội hải ngoại
“không tuân thủ” hay không ? Suốt 33 năm qua, chư tôn đức Tăng Ni
thuộc giáo hội hoặc ngoài giáo hội, đem chuông đi đánh xứ người, thành lập
đạo tràng, kiến tạo tu viện, tự viện, tịnh xá, niệm phật đường, tổ chức các
khóa tu học để hướng dẫn đồ chúng, có khi nào tỏ ra bất hòa, chống báng lẫn
nhau ? có khi nào lơ là sự nghiệp
“hoằng dương
Chánh Pháp” để phục vụ nhân loại và dân tộc hay không ?
Ngược
lại,
lãnh đạo giáo hội không những đã không
“điều hợp” được các tổ chức và
tông phái Phật giáo trong và ngoài nước, mà còn ban hành những giáo chỉ,
thông bạch gây chia rẽ, xáo trộn, hoang mang trong cộng đồng Phật giáo, làm
trò cười cho hàng thức giả, và nối giáo cho ngoại đạo ác đảng công kích, phỉ
báng Tăng-đoàn
Chương thứ III, Thành phần, Điều thứ 5 :
“Thành
phần của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất gồm Tăng sĩ và Cư sĩ thuộc Bắc
tông và Nam
tông chấp nhận bản Hiến Chương này.”
Chư tôn đức Tăng Ni và cư sĩ thành viên của các giáo hội tại hải ngoại có
khi nào tuyên bố
“không chấp nhận” bản Hiến Chương của GHPGVNTN hay không ?
Vị nào đã nói hoặc có hành vi
“không tuân
thủ” hoặc “không chấp nhận” xin nêu đích danh và dẫn chứng cụ
thể, đừng nói chung chung, vơ đũa cả nắm. Đây là nói những vị chính thức
tham gia sinh hoạt giáo hội, còn những vị tuy không tham gia, nhưng vẫn có
thể được xem là “thành phần” của giáo hội nếu họ
“chấp nhận bản
Hiến Chương này.” Điều này thể hiện tầm rộng mở và lòng khiêm
cung cầu thỉnh hiền tài của giáo hội đối với tất cả những tăng ni và phật-tử
thuộc các tổ chức khác. Ngược lại, nhân danh lãnh đạo giáo hội, đã có người
tự cho mình thẩm quyền tuyệt đối để trắng trợn
“không tuân thủ Hiến Chương,” ban
hành những văn kiện vi hiến, phá nát sự hòa hợp Tăng-đoàn.
Chương thứ IX, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Hải ngoại, Điều 36
: “Các Tăng sĩ và Tín đồ Phật giáo Việt Nam tại mỗi quốc gia
hải ngoại kết hợp thành Bộ, Chi Bộ Phật giáo Việt Nam Thống Nhất điều hành
bởi một Ban Đại Diện trực thuộc Viện Hóa Đạo.”
Điều 36 này đã được thay thế bằng Quyết Định số 27/VPLV/VHĐ ban hành bởi Đại
lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, ngày 10.12.1992, lúc ngài còn là Viện
trưởng VHĐ kiêm Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống. Sở dĩ Điều 36 cần được thay
đổi vì
“Chiếu tình hình Phật giáo Việt
Nam tại Hải ngoại sau 1975, hoàn toàn khác với tình hình trước 1975 :
nhân sự lãnh đạo và quần chúng Tăng
Ni Phật tử, cần được tổ chức lại cho qui mô rộng rãi hơn”.
Quyết Định 27 này cũng đặc
biệt nhấn mạnh :
“Mọi
Phật sự quan trọng của Giáo hội đều được thống nhất ý chí của 2 Hội Đồng
Giáo Hội quốc nội và 4 Hội Đồng Giáo Hội Hải Ngoại trước khi thi hành.”
Như vậy, không những Quyết Định 27
thay thế Điều 36 của Hiến Chương về GHPGVNTN Hải Ngoại, mà còn tác dụng lên
hầu hết các sinh hoạt phật-sự khác của giáo hội. Bốn Hội Đồng Giáo Hội Hải
Ngoại lúc ấy (1992) là 4 Hội Đồng của GHPGVNTNHN-Hoa Kỳ, gồm Hội Đồng Đại
Diện, Hội Đồng Giám Luật, Hội Đồng Giám Sát và Hội Đồng Điều Hành. Đến năm
2004 thì rút lại chỉ còn 3 Hội đồng là Hội Đồng Giáo Phẩm, Hội Đồng Đại
Diện, và Hội Đồng Điều Hành
(theo Qui Chế, Tu chính lần 3, tháng 10 năm
2004), và sau đó, trên thực tế chỉ còn 2 Hội Đồng là Hội Đồng Giáo Phẩm và
Hội Đồng Điều Hành (trong Đại hội Khoáng Đại Kỳ III năm 2004).
Chiếu theo Quyết Định số
27 này,
‘mọi Phật sự
quan trọng của Giáo hội” có được
“thống
nhất ý chí của 2 Hội đồng quốc nội và 4
(hoặc
2)
Hội đồng Hải ngoại trước khi thi hành”
hay không ?
Nếu có thì đã
“thống nhất ý chí” với ai mà
nhiều thành viên thuộc các Hội đồng quốc nội và hải ngoại không hề được tham
khảo về Giáo chỉ số 2 ban hành ngày 29.11.2005, loại trừ quá bán thành viên
Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo (gồm TT.
Thích Tuệ Sỹ, Đệ nhất Phó viện trưởng VHĐ, TT. Thích Đức Thắng, Tổng Thư Ký,
TT. Thích Quảng Hạnh, Tổng vụ trưởng TV Tăng Sự, TT. Thích Thanh Huyền, Tổng
vụ trưởng TV Thanh Niên, TT. Thích Phước An, Tổng vụ trưởng TV Văn Hóa, TT.
Thích Phước Viên, Tổng vụ trưởng TV Giáo Dục, TT. Thích Thái Hòa, Tổng vụ
trưởng TV Hoằng Pháp) ?
Thành viên Ban Chỉ Đạo
Viện Hóa Đạo lúc ấy có 16 người, trong đó có 3 người ở hải ngoại (HT. Thích
Hộ Giác, HT. Thích Chánh Lạc và TT. Thích Viên Lý), còn lại 13 người quốc
nội, mà đã loại trừ đến 7 vị, thử hỏi việc này có “quan trọng” theo qui định
của Quyết Định 27 không? Nếu diễn dịch là “không quan trọng” để không cần
hội ý với các hội đồng thì giáo hội quả là quá xem thường phẩm cách của chư
tôn đức giáo phẩm cao cấp đồng viện! Còn nếu không
“thống nhất ý chí” với ai cả, chỉ
tùy tiện quyết định bằng sự họp kín của thiểu số thôi, thì đúng là độc đoán,
độc tài, dẫm đạp lên Hiến Chương, coi thường qui chế sinh hoạt của giáo hội.
Hành vi như thế có được xem là
“tuân
thủ nội dung
Hiến Chương” không ?
Trong hai Hội Đồng quốc
nội, thường gọi là Hội đồng Lưỡng viện, gồm Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo.
Viện Hóa Đạo thì không nói vì quá bán thành viên của hội đồng này đã bị loại
trừ khi họ vắng mặt trong phiên họp. Còn Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương (Viện
Tăng Thống) cũng có quốc nội và hải ngoại. Quốc nội có 14 vị, hải ngoại có
11 vị. 11 vị ngoài nước là : HT.
Thích Tâm Châu
(Canada),
HT. Thích Mãn Giác, HT. Thich Hộ Giác
(Hoa
Kỳ),
HT. Thích Huyền Vi
(Pháp),
HT. Thích Thuyền Ấn, HT. Thích Chánh Lạc, HT. Thích Thắng Hoan, HT. Thích
Trí Chơn, HT. Thích Chơn Thành
(Hoa
Kỳ),
HT. Thích Minh Tâm
(Pháp)
và HT. Thích Như Huệ
(Úc).
Trong 11 vị này, có đến 9 vị không hề được tham khảo trước khi ban hành Giáo
chỉ số 2. Vậy ai là người “không tuân thủ nội dung Hiến Chương” ?
Về bốn Hội đồng Hải
ngoại, lúc ấy chỉ còn hai hội đồng là Hội Đồng Giáo Phẩm và Hội Đồng Điều
Hành : A)
Hội Đồng Giáo Phẩm
có 19 vị thì may lắm là có 3 vị được tham khảo là
HT. Thích Hộ
Giác, HT. Thích Chánh Lạc và TT. Thích Viên Lý ;
những vị còn lại là
HT. Thích Thắng
Hoan, HT. Thích Trí Chơn, HT. Thích Chơn Thành,
HT. Thích Thanh An, HT. Thích Nguyên Lai, HT.
Thích Giác Lượng, HT. Thích Viên Thành
(không phải bào huynh TT. Viên
Lý),
HT.
Thích Trí Lãng, HT. Thích Tín Nghĩa, HT. Thích Nguyên An, HT.
Thích Chơn Trí, HT. Thích Giác Chân, TT. Thích Nguyên Trí, TT. Thích
Nguyên Siêu, TT. Thích Huyền Việt và TT. Thích Vân Ðàm
thì không hề được hội ý trước.
B) Hội Đồng Điều Hành,
theo danh sách công bố vào Đại hội Khoáng Đại Kỳ III năm 2004 của
GHPGVNTNHN-Hoa Kỳ thì gồm những vị sau đây
(chưa kể các vị Phó và Phụ tá Tổng vụ trưởng ):
HT. Thích Hộ Giác, HT. Thích Chánh Lạc, HT. Thích Trí Chơn,
HT. Thích Giác Lượng, HT. Thích Tín Nghĩa, HT. Thích Nguyên An, HT. Thích
Nguyên Trí, HT. Thích Trí Lãng, HT. Thích Viên Thành, Trưởng lão Thích Huyền
Dung, TT. Thích Nguyên Siêu, TT. Thích Viên Lý, TT. Thích Minh Dung, TT.
Thích Vân Ðàm, TT. Thích Huyền Việt, TT. Thích Giác Ðẳng, TT. Thích Thông
Ðạt, Pháp sư Giác Đức, Sư Bà Thích nữ Nguyên Thanh, Sư Bà Thích Nữ Giác
Hương, Ni sư Thích nữ Tịnh Thường, Gs. Trần Quang Thuận, Gs. Võ Văn Ái, Cư
sĩ Huỳnh Kim Quang, Htr. Bạch Hoa Mai, Htr. Lê Hữu Minh Huy.
Tổng cộng 26 vị, có thể chỉ có 6 vị
(của VPII VHĐ)
can dự vào việc ban hành Giáo chỉ số 2, còn lại 20 vị đã không được hội ý.
Vậy ai là người “không tuân thủ nội dung Hiến Chương” ?
Các thành viên thuộc 4 hội đồng quốc nội và hải ngoại nói trên vẫn còn
nguyên vị trong GHPGVNTN cho đến khi
Giáo chỉ số 9
(08.9.2007) được ban hành. Vậy mà hầu hết
những vị này đều không được
“thống nhất ý chí” “trước khi thi hành”
Giáo chỉ số 9 và Thông bạch Hướng dẫn Thi hành Giáo chỉ số 9 ấy. Thử hỏi,
phương cách làm việc tùy tiện và qua mặt các hội đồng như vậy là hành vi gì
nếu không phải là
“không tuân thủ Hiến Chương”
?
Trong khi đó, các thành viên thuộc bốn giáo hội hải ngoại, đã nói gì, làm gì
mà gọi là từ bỏ hoặc tiếm danh GHPGVNTN? Có bằng chứng gì xin dẫn ra cụ thể
như trên, chứ đừng nói mơ hồ để rơi vào trọng tội vu khống, miệt thị đối với
hàng giáo phẩm tăng ni.
Phải chăng không khâm tuân Giáo chỉ và Thông bạch của Viện Tăng Thống và
Viện Hóa Đạo thì gọi là phản bội giáo hội và
“không tuân thủ nội dung Hiến Chương”
? Vậy chương nào, điều
khoản nào trong toàn văn bản Hiến Chương nói về điểm này? Không biết quý vị
lãnh đạo giáo hội có nhớ thuộc lòng hoặc đặt bản Hiến Chương nơi bàn làm
việc của mình để tham cứu mỗi ngày trước khi thi hành phật-sự giáo hội hay
không? Nếu quý ngài tìm được bất cứ một điều khoản nào nói về trường hợp bất
khâm tuân giáo chỉ, thông bạch của giáo hội, xin trích dẫn đưa thẳng vào các
văn kiện của giáo hội để những người bất khâm tuân cũng như thập phương tứ
chúng hiểu rõ.
Sở
dĩ giáo chỉ, thông bạch của giáo hội không được xem như là giáo lệnh, giáo
điều, án lệnh, tối thượng lệnh… là vì Phật giáo không bao giờ chủ trương độc
đoán, độc tài, áp chế. Tất cả mọi sinh hoạt trong Phật giáo, cũng như trong
giáo hội, đều nương vào tinh thần lục hòa và nguyên tắc yết-ma để giải
quyết. Hiến Chương của giáo hội cũng đặt trên tinh thần và nguyên tắc dân
chủ. Với tinh thần và nguyên tắc ấy, không có giáo chỉ hay giáo lệnh tuyệt
đối từ bất cứ cá nhân nào, dù là hàng lãnh đạo tối cao của giáo hội. Đức
Phật còn không áp đặt sự tin tưởng và tùng phục tuyệt đối đối với pháp ngữ
của ngài thì ngôi vị nào, giáo chỉ nào, được xem là tối thượng, bắt buộc
phải khâm tuân ?
Cứ
nhìn nơi tác dụng của giáo chỉ, thông bạch thì biết đạo hạnh và trí tuệ của
người ấn ký như thế nào. Kim ngôn từ bậc chúng trung tôn, tối cao lãnh đạo
của giáo hội khi buông ra tất phải dẫn đến an lạc, hòa hợp cho thất chúng.
Bằng ngược lại thì chỉ là sự tiếm danh, tiếm quyền của ma vương. Đó là lý do
các thành viên thuộc bốn giáo hội châu Âu, châu Úc, Hoa Kỳ và Canada, không
bao giờ tin rằng Giáo chỉ số 2 và số 9 do Đức Đệ Tứ Tăng Thống ban hành, dù
VPI và VPII VHĐ đã tìm mọi cách để chứng minh. Đó cũng là lý do mà hầu hết
thành viên các giáo hội tại hải ngoại không thể cúi đầu khâm tuân các giáo
chỉ và thông bạch có tính cách phá hoại sự đoàn kết, hòa hợp và thanh tịnh
của Tăng-đoàn, và của giáo hội.
Mặt khác, sự tuyệt đối khâm tuân giáo chỉ sẽ rất nguy hiểm cho sự tồn vong
của giáo hội nếu vị lãnh đạo tối cao dùng thẩm quyền của mình để hủy hoại
hoặc sát nhập giáo hội vào một tổ chức khác. Chính nhờ không mù quáng tin
tưởng vào lãnh đạo tối cao, hoặc giáo chỉ từ lãnh đạo ấy, mà GHPGVNTN có thể
tồn tại sau Giáo chỉ số 9. Thử tưởng tượng, nếu tất cả đều không cần suy
nghĩ, cứ việc y giáo phụng hành mọi giáo chỉ, thông bạch, bất kể tác động
của chúng tai hại đến đâu cho Tăng-đoàn và giáo hội, thì hôm nay còn lại gì?
– Còn lại 14 người trong VPII VHĐ cho GHPGVNTN toàn thế giới. Tất cả những
vị khác sẽ lặng lẽ hành đạo hoặc tham gia các tổ chức giáo hội khác. Điều
này không lẽ người trí không nhận ra ?
Cũng liên quan vấn đề này, thử nhớ lại năm 1981, Hòa thượng Thích Trí Thủ
đương kim Viện trưởng Viện Hóa Đạo, đảm nhận chức Phụ tá Đức Đệ II Tăng
Thống từ năm 1975, được sự ủng hộ đông đảo của đa số thành viên Hội Đồng
Lưỡng Viện; nếu ngài có tính độc tài, độc đoán, chuyên quyền, không tuân thủ
Hiến Chương, chắc chắn là đã có giáo chỉ, thông bạch sát nhập GHPGVNTN vào
GHPGVN rồi ! Chính vì HT. Viện trưởng
thời ấy tuân thủ Hiến Chương, thương giáo hội, thương đồng viện và đồng đạo,
lặng lẽ tùy duyên chấp nhận công cuộc vận động thống nhất Phật giáo theo chỉ
đạo của Nhà nước, nhưng vẫn giữ được sự tồn tại của GHPGVNTN, để rồi 11 năm
sau, mới có HT. Thích Huyền Quang tuyên bố công cuộc phục hoạt giáo hội. Năm
1981, khi Hòa thượng Thích Trí Thủ vận động thống nhất Phật giáo,
chỉ có 3 vị trong Viện Hóa Đạo
chống lại là HT. Thích Huyền Quang, HT. Thích Pháp Tri và HT. Thích Quảng Độ
(lúc ấy 3 vị này đều là Thượng
tọa). Ngay sau khi 3 vị chống đối
bị lưu đày và cô lập, nếu HT. Thích Trí Thủ có ý khai tử GHPGVNTN bằng sự
độc tài, chuyên quyền thì cũng không khó khăn trở ngại gì. Nắm được đa số
thành viên Hội đồng Lưỡng viện
(trong đó có cả sự tích cực ủng hộ của
TT. Thích Hộ Giác), có Nhà nước thúc đẩy tiến hành thành lập giáo hội mới phía sau, vậy
mà ngài có lạm dụng quyền hành để dẫm đạp lên Hiến chương, ban hành thông
bạch hay văn kiện nào nguy hại đến sự tồn vong của giáo hội đâu !
Ngài
cũng không dùng thẩm quyền Viện trưởng để loại trừ bất cứ thành viên nào,
cũng không kết tội ai dù kẻ đó không đồng quan điểm với ngài. Trong tình thế
gay go có sự can thiệp của Nhà nước mà ngài vẫn khéo léo bảo vệ được
GHPGVNTN, không vi phạm Hiến Chương, ngược lại, trong tình huống dễ thở hơn,
có nhiều cơ hội để dần dần phục hoạt sau Đại hội Bất thường năm 2003 tại Tu
viện Nguyên Thiều, thì lãnh đạo giáo hội lại xem thường Hiến Chương, khinh
rẻ tăng ni đồng đạo, liên tiếp ban hành những văn kiện phá hoại, loại trừ,
giải tán, vu khống, kết án, không thừa nhận các thành viên từng sống chết
đấu tranh cho sự tồn vong của giáo hội !
Đâu là nguyên do dẫn đến sự thực nát lòng ấy ?
Từ nội ma ngoại chướng nào ?
Ai là nội ma, thế lực nào là ngoại
chướng ?
ÂM MƯU XÓA BỎ HIẾN CHƯƠNG,
TIÊU DIỆT GHPGVNTN
Điểm qua các chương quan
trọng của Hiến Chương, nhìn lại phương cách hành hoạt của giáo hội kể từ
Giáo chỉ số 2 (2005) rồi Giáo chỉ số 9 (2007), cùng những văn thư liên hệ
xuất phát từ VPI trong nước hoặc VPII hải ngoại, có thể nêu nghi vấn ở đây
rằng, phải chăng có một âm mưu xóa bỏ Hiến chương, tiêu diệt GHPGVNTN bởi
chính những thành viên lãnh đạo giáo hội? Một mặt xóa bỏ Hiến Chương, một
mặt loại trừ những nhân sự nòng cốt và có triển vọng làm hưng thịnh giáo hội
trong tương lai, mặt khác thì gây chia rẽ trầm trọng trong hàng ngũ giáo hội
trong nước và hải ngoại. Âm mưu như thế, tất nhiên không phải chủ ý của
thành viên giáo hội, mà có thể có sự tác động và lũng đoạn từ các thế lực
bên ngoài. Nhưng nếu nội ma không phát sinh thì ngoại chướng cũng khó có
đường xâm nhập và phá hoại giáo hội.
Nếu quả là có, âm mưu ấy
được diễn tiến theo các sự kiện và văn kiện có thể kiểm chứng đưọc, như sau
:
1.- Ban hành Giáo chỉ số
2 năm 2005, loại trừ các thành viên cốt lõi của giáo hội trong Ban Chỉ Đạo
Viện Hóa Đạo. Các thành viên này được thấy trước sẽ là thế hệ thay thế nhị
vị lãnh đạo cao niên là HT. Thích Huyền Quang và HT. Thích Quảng Độ một khi
nhị vị thuận thế vô thường nằm xuống.
2.- Liên tục công kích,
nhục mạ, kết tội chư vị từng lãnh đạo GHPGVNTN, dù những vị này còn sinh
tiền hay đã qua đời
(HT. Thích Đôn Hậu, HT. Thích Trí Thủ, HT. Thích
Tâm Châu, HT. Thích Trí Quang). Những vị này đều là lãnh đạo cao
cấp của GHPGVNTN: HT. Thích Đôn Hậu từng là Chánh Thư Ký kiêm Xử lý Thường
vụ Viện Tăng Thống, đến năm 2000 được truy tôn Đệ Tam Tăng Thống; HT. Thích
Trí Thủ nguyên là Viện trưởng Viện Hóa Đạo nhiệm kỳ cuối cùng trước khi
GHPGVN thành lập năm 1981; HT. Thích Tâm Châu nguyên là Viện trưởng Viện Hóa
Đạo nhiệm kỳ đầu tiên; HT. Thích Trí Quang nguyên là Cố vấn Ban Chỉ Đạo Viện
Hóa Đạo, cũng là soạn giả của Hiến Chương GHPGVNTN.
3.- Đề nghị
“tính
tới giải pháp dùng Giáo chỉ, thay vì Hiến Chương”
(trích đề nghị thứ 5, Bản Phúc Trình của HT.
Thích Thiện Hạnh, 08.9.2007).
4.- Ban hành Giáo chỉ số
9 và Thông bạch Hướng dẫn Giáo chỉ số 9 năm 2007 nhằm giải tán toàn bộ các
giáo hội PGVN Thống nhất tại hải ngoại, và tiếp theo là những văn kiện liên
hệ để chặt đứt hoàn toàn các giáo hội này.
Xét qua 4 dữ kiện và văn
kiện nêu trên, sự phá hoại giáo hội rõ ràng là có sách lược chứ không đơn
giản là những bất đồng trong sinh hoạt hoặc vì địa vị.
Trước khi đặt lại vấn đề
với từng sự kiện, cũng cần xác minh một điều mà những ai không sinh hoạt
trực tiếp với giáo hội sẽ không biết, đó là Đại lão Hòa thượng Thích Huyền
Quang, Đệ tứ Tăng Thống, từng bị cô lập không phải chỉ bởi công an bao vây
Tu viện Nguyên Thiều, mà còn bởi các thành viên Viện Hóa Đạo. Đây là điều tế
nhị không thể nói hết. Chỉ có thể tham khảo một vài văn kiện quan trọng,
trong đó có chúc thư, để hiểu thêm những việc không thể nói hết ấy. Chúc thư
ngài viết ngày 17.01.2005, trong đó đã tỏ ý giao hết quyền lãnh đạo giáo hội
cho HT. Thích Quảng Độ. Nên nhớ rằng chúc thư ấy ngài đã trao HT. Thich
Quảng Độ vào năm 2005 sau khi viết, không đơn giản vì nghĩ rằng sẽ xả báo
thân không lâu sau đó, mà chính vì không đồng quan điểm với HT. Thích Quảng
Độ trong việc loại trừ TT. Thích Tuệ Sỹ mà Đức Tăng Thống một mực trân
trọng, thương yêu. Thư từ trao đổi giữa hai ngài vào giai đoạn này sẽ được
đưa vào sử sách mai hậu, ở đây chưa tiện công bố. Như vậy, suốt thời gian từ
tháng 01.2005 cho đến tháng 12.2007, các Giáo chỉ, Thông bạch quan trọng của
giáo hội
(Giáo chỉ số 02 – tháng 11.2005, Giáo chỉ số 9 – tháng 9.2007, Giáo chỉ số
10 – tháng 12.2007) đều do sự sắp xếp quyết định của HT. Viện
trưởng VHĐ.
Do đó, các vấn đề được
đặt ra nơi đây là trực tiếp với HT. Thích Quảng Độ, Viện trưởng VHĐ, kiêm Xử
lý Thường vụ Viện Tăng Thống.
-. Về Giáo chỉ số 02, ngày 29.11.2005. Giáo chỉ này loại trừ quá bán
thành viên Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo một cách vi hiến, thiếu cân nhắc, thiếu
viễn kiến, đã bị phản ứng mạnh từ tăng ni và phật-tử khắp nơi qua nhiều bài
viết, không cần nói chi tiết thêm. Chỉ muốn thỉnh ý HT. Viện trưởng VHĐ rằng,
loại trừ những vị nòng cốt của giáo hội xong, đặc biệt là TT. Thích Tuệ Sỹ,
ngài có thực sự yên lòng là sau khi ngài nằm xuống, những vị còn lại trong
VHĐ sẽ lãnh đạo tốt để giữ vững cơ đồ của tiền nhân, tiến đến việc phục hoạt
giáo hội trong tương lai không? Ngài có biết rằng sau lưng Đức Tăng Thống và
ngài, người ta chỉ sợ tiềm năng của giáo hội, của Phật giáo, được vươn dậy
từ thành viên cốt lõi là TT. Thích Tuệ Sỹ không? Ngài có biết rằng người ta
chủ trương “án binh bất động” để chờ Đức Tăng Thống và ngài nằm xuống, sau
đó, giáo hội tự tiêu tan, nếu không có vị lãnh đạo có tài đức và uy tín khả
dĩ kế thừa hai ngài không? Bây giờ thì quá muộn rồi. Có cung thỉnh thì TT.
Thích Tuệ Sỹ và 6 vị Tổng vụ trưởng sáng giá kia cũng không trở lại với một
cơ đồ rách nát và dơ bẩn do chính những người thân cận và tin dùng của ngài
tạo nên.
-. Về sự công kích, bôi nhọ chư vị lãnh đạo GHPGVNTN tiền nhiệm.
Chiến dịch đánh phá, bôi nhọ này do
các phần tử CLNV còn sót lại, mang mối hận truyền kiếp với GHPGVNTN từ năm
1963. Ngoài các phần tử ngoại đạo này, còn có sự châm dầu vào lửa của cộng
sản và các thế lực chính trị không có thiện cảm với Phật giáo. Vô minh thay,
những người thân cận của HT. Viện trưởng VHĐ như Thích Không Tánh,
Thích Như Tấn lại tiếp tay, cổ động, hăng hái phân phối các tài liệu, và
những vị khác như Thích Chánh Lạc, Thích Viên Lý, Thích Thiện Tâm, Thích
Giác Đẳng, Giác Đức, Võ Văn Ái… cũng tự nói hoặc viết các tài liệu bôi nhọ
công kích hàng lãnh đạo tiền nhiệm của GHPGVNTN. Thời gian đầu, họ chụp mũ
cả HT. Thích Đôn Hậu, nhưng khi có vài phản ứng, họ liền viết bài ca tụng
ngài để chữa tội, sau đó chỉ còn nhắm vào ba vị còn lại, đặc biệt là HT.
Thích Trí Quang.
Thưa
ngài Viện trưởng, ngài có biết thủ túc của ngài đã và đang tiếp tục làm
những việc này không ? Nếu không biết thì văn phòng của ngài quá
thiếu thông tin, mà lại dư những nguồn tin láo khoét phát nguồn từ cái loa
một chiều của người cư sĩ mới tham gia giáo hội tại hải ngoại là ông Võ Văn
Ái. Nếu biết hoàn cảnh của mình là bị quản thúc, thiếu thông tin thì không
nên hành xử vội vàng, thiếu cân nhắc đối với những việc hệ trọng của giáo
hội. Nhưng cũng khó mà tin rằng ngài hoàn toàn thiếu thông tin và bị cô lập
không tiếp xúc với bên ngoài. Bằng chứng là ngài vẫn thường xuyên liên lạc
điện thoại với ông Võ Văn Ái; trả lời bất cứ đài phát thanh nào ở hải ngoại
muốn phỏng vấn; có thể đi ra ngoài, đứng nơi tiền sảnh quốc hội cầm loa kêu
gọi tự do dân chủ và ủng hộ dân oan; có thể suốt ngày đi họp, đi kỵ giỗ, đi
chữa bệnh, đi tìm nhóm sinh viên áo trắng đả đảo Trung cộng về vụ Hoàng sa,
Trường sa để cùng biểu tình với họ; suốt ngày ở thư phòng có thể đọc được
các thông tin do nhiều người mang đến
(vì ai cũng đến thăm ngài được, không bị trở
ngại gì – chỉ là ngài muốn tiếp hay không mà thôi). Với thời gian
và cơ hội nhiều như thế, không thể viện cớ là thiếu thông tin được. Còn nếu
biết là có sự công kích bôi nhọ hàng lãnh đạo giáo hội tiền nhiệm mà vẫn để
tình trạng này xảy ra, xin hỏi ngài rằng sự kiện này mang ý nghĩa gì ?
Chối bỏ những vị lãnh đạo tiền nhiệm
ư? Vậy giáo hội mà ngài đang lãnh đạo được truyền thừa từ ai, từ đâu, theo
tôn chỉ và mục tiêu nào? Nếu chư vị Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Thích Trí Thủ,
Thích Tâm Châu, Thích Trí Quang là cộng sản, hoặc thỏa hiệp cộng sản, hoặc
“giáo
gian,” v.v… chẳng lẽ ngài đang kế thừa một giáo hội cộng sản. Ai
giữ gìn giáo hội ấy qua bao biến thiên thời cuộc để rồi cuối cùng ngài được
kế thừa ? Nếu những vị tiền nhiệm là
cộng sản, chỉ có duy nhất ngài chống cộng, vậy sao ngài không từ bỏ giáo hội
ấy, lập giáo hội khác chứ kế thừa làm gì! Còn nói rằng những vị ấy cộng sản
chứ giáo hội không cộng sản, vậy thì giáo hội không cộng sản bắt đầu từ thời
điểm nào để ngài kế thừa hôm nay ? Ngay
từ 1964 mới thành lập thì HT. Thích Tâm Châu làm Viện trưởng VHĐ ;
từ năm 1974 đến 1981 thì HT. Thích
Trí Thủ làm Viện trưởng VHĐ và ngài thì là Tổng Thư Ký VHĐ; từ 1981 đến
1992, Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống là HT. Thích Đôn Hậu, trước khi viên
tịch đã di chúc trao ấn tín cho HT. Thích Huyền Quang tiếp nối lãnh đạo giáo
hội. Nếu chối bỏ 3 vị lãnh đạo này thì giáo hội thời kỳ đầu, thời kỳ giữa và
thời kỳ chót đều do họ lãnh đạo, vậy ngài kế thừa giáo hội từ ai, có sự
tương tục cho đến năm 1992 để HT. Thích Huyền Quang tiếp nhận, rồi truyền
lại cho ngài năm 2003 hay không ? Riêng
HT. Thích Trí Quang, soạn giả Hiến Chương GHPGVNTN, suốt từ lúc giáo hội mới
thành lập đến thời gian gần đây, vẫn luôn là vị cố vấn, chính thức hoặc âm
thầm, cho Viện Hóa Đạo trong nhiều nhiệm kỳ.
Lúc lưu đày từ Thái Bình vào cũng như lúc ở tù ra, ngài đều cạo nhẵn râu tóc,
chỉnh tề đến thỉnh an tham vấn HT. Thích Trí Quang. HT. Thích Huyền Quang
sau chuyến chữa bệnh tại Hà Nội năm 2003, đã vào Huế và Sài Gòn cũng không
quên đến Tu viện Quảng Hương Già Lam để vấn an và đàm đạo với HT. Thích Trí
Quang về hướng đi của giáo hội. Nếu cho rằng HT. Thích Trí Quang là cộng sản,
vậy mấy lượt ngài đến thỉnh an phải chăng chỉ là hình thức lấy lệ không thực
lòng ? Mà thỉnh an không thực lòng
một người mà mình cho là cộng sản để được gì, sự yên thân ư ?
Nếu là vậy, không lẽ lãnh đạo giáo
hội lại nhún mình đi cầu an từ một người cộng sản khi lâu nay mình vẫn được
tuyên xưng là
“bồ tát
vô-úy” ? Nếu không nghĩ
HT. Thích Trí Quang là cộng sản thì sao vẫn để yên cho thủ túc của ngài từ
VPI đến VPII VHĐ liên tục công kích bôi nhọ ?
Nếu không vì lý do cộng sản hay không cộng sản chẳng lẽ vì lý do
khác? Vậy thì lý do gì? Phải chăng vì HT. Thích Trí Quang quá sáng giá, quá
ảnh hưởng, dù suốt 33 năm đóng cửa im lặng ? – Chắc là không, vì tâm lý đố
kỵ đâu phải là của người trượng phu quân tử.
Vậy thì, có phải chỉ vì HT. Thích Trí Quang là cha đẻ của Hiến Chương
GHPGVNTN mà ngày nay, quí ngài muốn xóa bỏ để đi con đường khác ?
-. Vấn đề “dùng Giáo chỉ thay vì
Hiến Chương”. Đây là đề nghị của
HT. Thích Thiện Hạnh, Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống, nêu trong Bản Phúc Trình
ký ngày 08.9.2007
(cùng ngày với Giáo chỉ số 9).
Đây
là đề nghị vô cùng nguy hiểm, vô cùng manh động, tưởng chừng là hành vi dẫm
đạp lên anh linh của bao vị Thánh tử đạo cũng như mồ hôi xương máu của tăng
ni và phật-giáo đồ Việt Nam trong trang sử đấu tranh bi hùng để dựng nên
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.
Không thể nói đây là sự tình cờ ngẫu
nhiên khi đề nghị này có vẻ ăn khớp với chiến dịch công kích, bôi nhọ HT.
Thích Trí Quang, soạn giả Hiến Chương GHPGVNTN. Cũng không thể
nói đề nghị này không liên quan đến chiêu bài
“bảo vệ
giáo hội” khỏi
“chiến dịch nước lũ”
của cộng sản để rồi thẳng tay giải tán toàn bộ các giáo hội PGVNTN tại hải
ngoại qua Giáo chỉ số 9 và Thông Bạch Hướng dẫn Thi hành giáo chỉ này.
Đề nghị
của HT. Thích Thiện Hạnh được “thử
nghiệm” bằng Giáo chỉ số 9, nếu thành công, sẽ mở đường cho việc cất
Hiến Chương vào ngăn tủ, không dùng đến nữa. Từ đó, một giáo hội mới vẫn
mang cái vỏ của GHPGVNTN, nhưng không tuân thủ lập trường, mục đích và các
nguyên tắc nền tảng của Hiến Chương, mà chỉ sử dụng Giáo chỉ, Thông bạch một
cách tùy nghi, nhân danh bảo vệ giáo hội, nhân danh
“lúc nguy biến.”
Ý này cũng được ngài Viện trưởng
nói rõ hơn trong trả lời phỏng vấn với Ỷ Lan, trích đoạn nguyên văn như sau
:
“Giáo
chỉ tương đương như một sắc luật, hay sắc lệnh của một nhà nước bên ngoài.
Khi đất nước lâm nguy, thì họ dẹp hết, giải tán Quốc hội, tạm thời ngưng thi
hành hiến pháp (trong trường hợp nầy được hiểu như là Hiến Chương – ghi
chú của người viết), thiết lập giới
nghiêm… tất cả đều là dùng vào cái sức chống đối, ngăn chặn kẻ địch chẳng
hạn như thế. Nói theo chính trị ngoài đời, lúc đó sắc lệnh ra: “đình chỉ”,
phải chấp hành. Cấm đi từ 6 giờ, không được ra khỏi nhà. Dân cũng phải chấp
hành, nếu không chấp hành, ra đường người ta bắn chết liền, đừng có cãi,
không ai bênh vực, lúc đó không còn ra toà…”
-. Vấn đề Giáo chỉ số 9, Thông bạch
Hướng dẫn và các văn kiện liên hệ nhằm giải tán các giáo hội PGVNTN hải
ngoại.
Hãy nhìn lại xem, từ khi nhậm chức Viện trưởng và mới đây lại thêm Xử
lý Thường vụ Viện Tăng Thống, HT. Thích Quảng Độ và VPII VHĐ đã đóng góp gì
cho sự vững mạnh và tiến trình phục hoạt giáo hội ?
Loại
trừ các thành viên ưu tú của giáo hội trong nước bằng Giáo chỉ số 2,
xoay qua giải tán toàn bộ các giáo
hội tại hải ngoại. Đây là bảo vệ giáo hội sao ?
làm cho giáo hội vững mạnh thêm sao ?
Khi bất thành việc giải tán các giáo
hội hải ngoại, vẫn cố gắng
“truy sát” các giáo hội này bằng
Thông bạch 31, cáo buộc các giáo hội
này là “tiếm danh”.
Không thành công với Thông Bạch 31
(vì các
giáo hội hải ngoại quyết tâm bảo vệ GHPGVNTN bằng cách liên hợp để ra Tuyên
Bố Chung, phủ nhận toàn bộ những cáo buộc từ Viện Hóa Đạo cũng như các văn
kiện không mang tinh thần hòa hợp và trái Hiến chương), lại cố
gắng ra “Thông bạch về Tuyên Bố
Chung” để phủ nhận và vô hiệu hóa sức mạnh hòa hợp, đoàn kết của các giáo
hội hải ngoại. Lại không thành công với
“Thông bạch về
Tuyên Bố Chung”, liền gắng sức đưa
ra Quyết Nghị 9 điểm, tiếp tục
“phản đối việc dùng danh xưng GHPGVNTN” của các giáo hội hải ngoại.
Duyệt qua tiến trình phá
hoại GHPGVNTN nói trên, thử đặt lại vấn đề: Thế lực nào đã quyết tâm triệt
hạ tiềm lực của GHPGVNTN trong nước
(bằng Giáo chỉ số 2) và hải ngoại
(bằng Giáo
chỉ số 9),
rồi âm
mưu xóa bỏ Hiến Chương,
công kích và bôi nhọ cha đẻ của Hiến
Chương, tiếp tay và mượn tay ngoại đạo phá hoại Phật giáo, vận động các
thế lực chính trị thế tục chửi bới, tẩy chay, vu khống và chụp mũ cộng sản
cho hầu hết tăng ni tại hải ngoại ?
Thế lực làm nên tất cả những
điều này có tuân thủ Hiến Chương GHPGVNTN không ?
Thế lực này là thiểu số hay đa số
trong Phật giáo, trong giáo hội ? Nếu muốn xóa Hiến Chương, chỉ dùng Giáo
chỉ và Thông bạch để điều hành mà vẫn tiếp tục sử dụng danh nghĩa GHPGVNTN
thì có phải là TIẾM DANH không ? Nếu
chỉ là thiểu số bị cô lập trong bốn vách tường của Giáo chỉ và Thông bạch,
không có sự ủng hộ của đại khối tăng ni và phật-tử thì có phải là TIẾM DANH
không ?
Chối bỏ chư vị lãnh đạo
tiền nhiệm, xóa bỏ Hiến Chương, triệt hạ tăng ni đồng đạo một cách sắt máu,
vô tâm, nhưng lại luôn lấy Hiến Chương và lòng trung kiên ra để bảo vệ địa
vị của mình trong giáo hội mà mình không thực tâm muốn phục hoạt. Đây có
phải là hành vi chính trực của người lãnh đạo hay không ?
Đáng ra, khi GHPGVNTN
được tự phát thành lập và xiển dương từ bất cứ nơi nào, thời gian nào, dù
trực tiếp chịu sự chỉ đạo của giáo hội hay không, thì giáo hội cũng nên vui
mừng, tán trợ, và tin tưởng tiền đồ của giáo hội sẽ không bị mai một, vùi
tắt nếu không may bị triệt tiêu ở trong nước. Đàng này, giáo hội lại một mực
phủ nhận, lên án, phản đối… cho tới cùng. Điều này giải thích làm sao ?
Giáo hội có thực tâm muốn được phục
hoạt, hoằng dương chánh pháp, phục vụ nhân loại và dân tộc hay không? Hay là
chỉ mong xóa đi GHPGVNTN để mở ra một giáo hội mới, lạm dụng uy đức của Đức
Đệ Tứ Tăng Thống, gọi là
“sự nghiệp phụng
sự chánh pháp và dân tộc” do ngài
“vạch ra”
(Điểm 1 của Quyết Nghị 9 điểm) ?
Xin thưa, quí vị có
quyền lập ra giáo hội mới, đường hướng mới, không cần Hiến Chương GHPGVNTN,
nhưng đừng lạm dụng thẩm quyền lãnh đạo để tiêu diệt tiềm lực của giáo hội,
vì như vậy chính là TIẾM DANH.
KẾT :
Tại sao chư tôn đức tăng
ni và cư sĩ thuộc các giáo hội PGVNTN hải ngoại lại quyết tâm giữ vững các
tổ chức giáo hội mà họ đang sinh hoạt? Tại sao họ không khâm tuân lệnh giải
tán? – Vì họ không chấp nhận việc tiêu diệt GHPGVNTN hải ngoại một cách đơn
giản bằng một văn kiện. Đừng nói văn kiện giải tán các giáo hội hải ngoại
xuất phát từ đâu, do ai soạn, ai ký. Nếu tác dụng của nó là phá hoại, là
tiêu diệt, họ sẽ không bao giờ chấp nhận.
Tại sao họ vẫn dùng danh
xưng GHPGVNTN mà không dùng danh xưng khác ? – Vì ai đó làm nhơ thì họ có
bổn phận rửa sạch.
Họ có tiếm danh không ?
– Danh xưng ấy, tiền nhân đã đổ xương máu để viết nên và để lại cho các thế
hệ kế thừa. Họ không viết được trang sử thành lập từ trong nước thì cũng
nguyện trải hết tâm can để tạo dựng và phát triển tại hải ngoại. Đối với sự
nghiệp chung của GHPGVNTN, ai phá hoại thì tiếm danh, ai xây dựng thì chính
danh. Lý này sử sách đã từng ghi, và mai sau, chắc chắn cũng không thiếu sót.
Nhân chuyến Mỹ du, ngày 19 tháng
11 năm 2008
Thích Siêu
Phương
*
*
*
Please press HOME
to go back to the main web page
HOME