Ngày Về Nguồn :
Một tâm thức hoạt dụng lời Phật dạy

oàn thể Tăng già đầu tiên từ
thời Đức Phật, đó là năm anh em Kiều Trần Như, sau khi nghe bài pháp Tứ Diệu Đế
đã trở thành các bậc Thánh, các vị Tỳ Kheo, các Thanh Văn Tăng, các bậc xuất gia,
các trang thiện nam tử, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo.
Những bậc ly dục, ly ác bất thiện pháp. Những bậc sống hạnh viễn ly rừng núi,
thiền định độc cư. Những bậc sống đời thong dong tự tại như loài tê giác thênh
thang trong rừng già và ý nghĩa Tam Bảo cũng được hình thành ngay trong giờ phút
đó: Phật Bảo là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Pháp Bảo là bài Kinh Tứ Diệu
Đế. Tăng Bảo là năm vị Tỳ Kheo: Kiều Trần Như (Kondanna), Bạt Đề (Bhaddiya),
Thập Lực (Vappa), Maha Nam (Mahanama) và Át Bệ (Assaji). Cũng kể từ ngày đó, Đức
Phật là bậc Thầy giáo dục, dạy dỗ đàn học trò, đệ tử suốt quãng đời còn lại cho
đến ngày công viên quả mãn. Để thấy được tấm lòng của Bậc Đạo Sư, vị Thầy cao cả
vì lòng thương tưởng đến hàng đệ tử hậu học, vì sự thánh thiện tự thân trên con
đường tu tập, vì sự thông suốt Phật pháp để làm phương tiện chuyển mê khai ngộ,
là chiếc bè đưa người qua bến sông sinh tử mà Đức Phật đã ân cần dặn dò, thăm
hỏi trước khi nhập Niết Bàn :
"Này các Tỳ Kheo, các con đã thấu hiểu hết những lời Như Lai thuyết giáo?
Đối với Phật pháp, các con còn có chỗ nào nghi hoặc chưa hiểu, các con hãy nói
lên chỗ nghi ngờ chưa hiểu của mình, chưa thông suốt của mình. Nếu các con không
dám trực tiếp hỏi thẳng Như Lai thì các con hãy nhờ bạn của mình thay mình để
hỏi. Hỏi vì lợi ích cho mình, vì lợi ích cho bạn đồng học và rất nhiều người về
sau. Các con hỏi để Như Lai trả lời trước khi Như Lai nhập Niết Bàn."
Từ tâm của Đức Phật được trang trải đến cho hàng đệ tử. Tinh thần giáo
dục của Đức Phật được trao truyền đến từng người học trò và bổn phận trách nhiệm
của một bậc Thầy cao cả không quên nhắn nhủ, khích lệ đệ tử quán triệt con đường
tiến thân của chính mình.
Để khơi dậy một tâm thức hoạt dụng lời Phật dạy, chúng ta hãy thanh thản
chiêm nghiệm đời sống của Đức Phật đối với hàng đệ tử của Ngài. Nơi đó, biết bao
suối nguồn yêu thương được tuôn chảy, bao nhiêu tâm tình được truyền trao và bao
nhiêu lời khuyến tấn dạy dỗ chí thành chí thiết. Đức Phật không bao giờ dùng sức
mạnh để đối xử với mọi người, không bao giờ bắt ép bất cứ một ai, dù đó là người
đệ tử thân tín của Đức Phật. Từ tâm của Đức Phật được ban trải, được biển lộ,
được thi thiết tự nhiên. Có lần vào ngày bố tát - tụng giới chúng Tăng đã vân
tập đầy đủ, Đức Thế Tôn cũng thiền tọa đúng giờ. Thay vì Đức Phật trùng tuyên
giới trong giờ bố tát ấy, thì Đức Phật ngồi im lặng. Thời gian trôi qua, đại
chúng lo âu, Ngài Mục Kiền Liên nghi ngờ, liền vận thần thông dùng thiên nhãn
quán chiếu trong đại chúng, thấy có vị phạm giới mà không đi ra, lập tức Ngài
Mục Kiền Liên đến nắm y vị Tỳ Kheo ấy kéo ra ngoài. Thấy vậy Đức Phật dạy:
"Này Mục Kiền Liên, con chớ có làm như vậy. Không nên có thái độ, hành
động không xứng đáng là một vị Tỳ Kheo. Con chớ có dùng sức mạnh đối với bất cứ
ai. Trong đây, nếu có vị Tỳ Kheo nào phạm giới thì con hãy dùng mọi phương tiện
để cho vị Tỳ Kheo ấy biết mình phạm giới mà tự giác đi ra, hoặc sám hối đúng
pháp để được thanh tịnh lại. Con phải chỉ vẽ nhu nhuyến, từ hòa, ái ngữ, không
được thô lỗ, cộc cằn. Con phải chỉ dạy cho vị Tỳ Kheo ấy tự biết mình có lỗi mà
sám hối."
Đây là giá trị của chất liệu yêu thương kính trọng, là đại bi tâm tươi
mát gởi tặng đến tất cả, đâu chúng ta không thấy cái ân đức mà nhớ ơn để đền ơn
! Ấy là cội nguồn, là tự tánh thiện của con người chúng ta.
Đoàn thể Tăng già thời Đức Phật đã thấm nhuần giáo pháp và sống trong giá
trị cao thượng của giáo pháp. Sống đúng ngôn từ Đức Phật giảng dạy - khẩu giáo.
Sống đúng thân hành - thân giáo Đức Phật thể hiện qua tứ oai nghi - đi, đứng,
ngồi, nằm: "Đi như tượng vương, đứng thẳng tắp như vách tường, ngồi vững vàng
như chuông úp và nằm bên hông phải như sư tử chúa." Từ đây, chúng ta thấy cái ân,
cái nghĩa, cái từ hòa chiếu cố của Đức Phật đến hàng đệ tự như thế nào.
Một hôm, có vị Tỳ Kheo bị bịnh kiết lỵ, thân thể mềm nhũn như sợi bún gần
như kiệt sức, Đức Phật hay tin Ngài đích thân đến thăm. Từ xa, vị Tỳ Kheo thấy
Đức Thế Tôn đi đến, ý muốn ngồi dậy đảnh lễ, nhưng Đức Phật dạy, hãy cứ tự
nhiên, đừng cố gắng mà hao tổn sức lực trong khi đang bịnh. Rồi Đức Phật thuyết
pháp Thất giác chi: (Trạch pháp giác chi. Tinh tấn giác chi. Hỷ giác chi. Khinh
an giác chi. Niệm giác chi. Định giác chi. Xả giác chi) bằng ngôn giáo từ hòa,
an ủi, khích lệ làm vị Tỳ Kheo phấn chấn tâm tư, thân liền khỏe mạnh, tâm được
an tịnh.
Đó chính là tánh đức Từ bi, là suối nguồn yêu thương được vỗ về chăm sóc
mà không phân biệt ngôi vị Thánh phàm, duy chỉ có một lòng cứu độ. Ai trong
chúng ta có sống thật, sống chân thành, sống hy sinh vì người khác thì mới thấy
được cái ân, cái đức, cái tấm lòng tôn kính mà Đức Phật đã thể hiện đến với
chúng Tăng qua những cử chỉ, lời nói, hành động thường nhật. Có lần trên con
đường hóa độ, ngồi nghỉ trong khu nhà trống, Đức Thế Tôn thấy y của một vị Tỳ
Kheo bị rách, Ngài bèn lấy kim chỉ và dạy
các vị Tỳ
Kheo hãy căng tấm y và cùng nhau khâu lại tấm y rách ấy cho vị Tỳ Kheo kia. Đức
Phật tự tay khâu chỉ, vá kim một cách cẩn trọng. Vá xong, Đức Phật trao y lại
cho vị Tỳ Kheo một cách tự nhiên, bình thường. Cái ân ấy, cái đức ấy ai trong
chúng ta hôm nay có nghĩ nhớ để biết ơn và đền ơn ? Dầu biết rằng, Đức Thế Tôn
không bắt ai phải biết ơn để trả ơn cho Ngài, nhưng trong cuộc sống này, trong
lẽ sinh tồn cộng trú, tương quan tương duyên với nhau, chúng ta đâu muốn mình là
kẻ vong ân bội nghĩa.
Chính vì giá trị cao quý, tất yếu của sự nhớ ơn và đền ơn mà Tứ Trọng Ân
được nhắc đi nhắc lại nhiều lần để chúng ta phải ghi lòng tạc dạ, đừng xao lãng
bốn ân sâu nặng ấy: Ân hóa độ cao dầy của Đức Phật. Ân sinh thành dưỡng dục của
Cha Mẹ. Ân khai sinh giới thân huệ mạng của Thầy Tổ và Ân cúng dường, cung cấp
bảo bọc của đàn na thí chủ pháp giới chúng sanh. Có lẽ nào chúng ta không nhớ về
cội nguồn, nơi đã sinh thành một đời sống tâm linh cao thượng. Nơi mà cội cây Bồ
Đề được ươm mầm, trồng trọt, vun quén để có tàn cây tỏa rộng cao mát hôm nay.
Nơi mà tự chốn uyên nguyên suối nguồn đã mang giọt nước tươi mát đến cho mọi
người để làm vơi bớt nỗi đói khát đốt cháy thân tâm của con người trên thế gian
này. Đó chính là tánh đức Từ bi mà Đức Phật đã trang trải. Một đời sống dung dị,
bình thường; bình thường đến độ mà người gặp Đức Phật, nhưng không nhận ra Đức
Phật đang ở trước mặt mình. Đức Phật có thể sống một mình, đi khất thực một mình
và làm mọi công việc một mình, không cần sự nhờ vả của ai. Có lần trên con đường
du hóa, đến lúc chiều tối Đức Phật vào nhà một người thợ làm đồ gốm xin được tá
túc qua đêm. Người thợ làm đồ gốm bằng lòng chỉ cho một căn phòng ngoài để Đức
Phật tạm trú qua đêm. Nhưng cũng cùng trưa hôm đó, trong căn phòng đã có vị du
sĩ đến xin trú ngụ trước và đang tọa thiền nơi góc phòng bên phải. Thấy vậy, Đức
Phật lên tiếng xin vị du sĩ cho phép được cùng ở chung, đến khi biết ra thì vị
du sĩ này nghe danh Đức Phật và đi tìm Đức Phật để xin được xuất gia làm đệ tử
của Ngài. Sau thời thuyết pháp hóa độ, người du sĩ kia đắc quả Thánh, thành Tỳ
Kheo trong Tăng đoàn của Đức Phật. Giản dị là nếp sống của các bậc Thánh. Đơn sơ
là lẽ đạo của Thánh hiền. Đó chính là cái ân, cái đức mà chúng ta hôm nay phải
học, phải noi theo tấm gương của bậc Thầy cao cả, của Bậc Đạo Sư tôn quý nhất
trên thế gian này.
Dù cho chư vị đệ tử của Đức Phật còn sinh tiền, hay sau khi nghe bài pháp
Đức Phật thuyết giảng, giáo hóa rồi, xả bỏ báo thân, tất cả đều được lợi ích,
tất cả đều hướng tâm trên con đường tối thượng. Chẳng hạn như một hôm có người
thanh niên đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, đảnh lễ xong quỳ gối ngồi sang một bên, Đức
Phật hỏi nguyên do và ý muốn gì. Người thanh niên ấy đáp là muốn xuất gia làm đệ
tử với Đức Thế Tôn. Nghe vậy, Đức Phật hỏi người thanh niên muốn xuất gia mà đã
có y bát chưa, đã trong sạch thân tâm chưa, và Đức Phật thuyết một bài pháp ngắn
về công đức của người xuất gia. Nghe xong, người thanh niên lấy làm hạnh phúc,
tâm tư cởi mở một nguồn hỷ lạc rạt rào trong lòng. Người thanh niên đảnh lễ Đức
Thế Tôn xin về nhà để sắm y bát và sẽ trở lại gia nhập vào hàng Tăng đoàn, nhưng
sau đó thì người thanh niên xả bỏ báo thân mà chưa được xuất gia. Thấy vậy, các
vị Tỳ Kheo bạch Phật: Vì sao người thanh niên lại xả bỏ báo thân đột ngột như
vậy, và được thác sinh về thế giới nào ? Đức Phật dạy: Người thanh niên sau khi
phát tâm xuất gia, ấy là một nhơn duyên thù thắng, lại nghe được giáo pháp công
đức của người xuất gia tăng thêm niềm tin trong Phật pháp, công đức gấp đôi, nhờ
phước lành này mà tâm thức của người thanh niên thác sinh lên cung trời hưởng
phước lạc. Còn sự xả bỏ báo thân dưới mọi hình thức đều giống nhau, có nghĩa là
phương tiện để kết thúc một sự sống, điều quan trọng là gìn giữ tâm tư thanh
tịnh, không phiền, không nhiệt mà thanh thản tự tại. Đó là lời Phật dạy, là cái
ân, cái đức mà chúng ta là hàng đệ tử phải nhớ để báo đền trong muôn một.
Truyền thống Phật giáo Tây Tạng thừa sự, cúng dường, đảnh lễ tôn kính vị
Thầy Bổn sư của mình thì cũng giống như thừa sự, đảnh lễ tôn kính một đấng Thế
Tôn. Ơn Thầy giáo dưỡng, khai sinh giới thân huệ mạng đâu không mong có ngày đền
đáp.
Ngày Về Nguồn là dịp để Tăng chúng, pháp lữ thăm hỏi với nhau và cùng
nhau ôn lời Phật dạy, lặp lại ý Tổ khuyên mà tô bồi vun quén cho đạo tình ngày
thêm thắm đượm. Đó là cái ân, cái đức chúng ta là người con Phật xin nguyện đáp
đền.
San Diego, ngày 29 tháng 6 năm 2008
Nguyên Siêu
*
*
*