GIÁ TRỊ CỦA CÁC
VĂN KIỆN GIÁO HỘI :
GIÁO CHỈ, THÔNG
BẠCH, CHÚC THƯ…
THẬT VÀ GIẢ
Thích Tâm Không
Thế gian vốn điên đảo. Con
nhà Phật ai cũng biết như vậy. Nhưng trong vài năm qua, các sự việc xảy ra trong
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, quốc nội và hải ngoại, cũng điên đảo
không kém.
Lý do là vì trong nội bộ
giáo hội có một người nam thế tục từ một tổ chức thế tục, tình nguyện xin gia
nhập để giúp về giao tế, rồi dần dần mua được niềm tin của cấp lãnh đạo tối cao
trong VHĐ, người nam thế tục này bắt đầu thao túng, chuyên quyền, làm khuynh đảo
cả sinh hoạt giáo hội. Có thể gọi người này là
“tục nam”,
chứ không phải là cư sĩ, cũng không phải thiện nam – vì cư sĩ là người tại gia
chuyên tu, hành trì giới luật, cung kính Tam Bảo; còn thiện nam thì trước hết
phải thiện, chứ ác quá làm sao gọi là thiện nam được !
Từ khi
“tục nam”
này được ủy nhiệm làm
“phát ngôn nhân” VHĐ, sinh hoạt giáo hội bắt
đầu có nhiều giáo chỉ và nhiều trường hợp bất thường :
giáo
chỉ lưu nhiệm cho GHPGVNTNHN-Hoa Kỳ có 3 cái cho 3 kỳ Đại hội Khoáng Đại Kỳ I
(1996), Kỳ II (2000), Kỳ III
(2004), rồi giáo chỉ số 2 (2005), số 9 (2007), số 10 (2007). Các
giáo chỉ lưu nhiệm thì đúng hạn kỳ, được ban hành trong Đại hội Khoáng Đại, đúng
hiến chương của GHPGVNTN nhưng sai qui chế của GHPGVNTNHN-HK
(ở đây không
phải là chỗ để bàn rộng) ; còn
3 giáo chỉ 2, 9 và 10 thì bất thường, với những nhận định để qui chiếu lý do một
cách mơ hồ (ở
đây cũng không phải là chỗ để bàn rộng). Từ các giáo chỉ đầu tiên
xuất hiện trong giai đoạn người tục nam phát ngôn nhân tham gia giáo hội, đã có
sự bán tin bán nghi trong chư vị giáo phẩm rồi. Nhưng đó là các giáo chỉ ảnh
hưởng GH tại Hoa Kỳ mà không liên quan các nước và Châu khác nên ảnh hưởng không
trầm trọng lắm. Đến khi giáo chỉ số 2, phá tan Ban Chỉ Đạo VHĐ sáng giá trong
nước, sự phi lý càng lộ rõ hơn khiến chư tôn đức thành viên GHPGVNTN Hải ngoại
không còn tin tưởng và cũng không mong đợi giáo chỉ ban hành nữa. Thế rồi, lại
có giáo chỉ số 9, số 10. Chưa kể các quyết định này, quyết định nọ… làm náo loạn
cả sinh hoạt của giáo hội các Châu và các nước. Đúng là thời đại của giáo chỉ,
của văn kiện !
Đặc biệt là với sự phân tích
chi ly của nhiều tôn đức và cư sĩ về nội dung lẫn hình thức của Giáo chỉ số 9,
người ta không còn tin tưởng giáo chỉ là do Đức Tăng Thống ban hành nữa, dù rằng
văn kiện nào đưa ra cũng có con dấu và chữ ký của Ngài. Có chăng, Ngài chỉ
“nghe nói”, và đã chuẩn y bằng kim khẩu.
Ngay cả khi đọc thông điệp chúc Xuân Mậu Tý, một thông điệp viết sẵn
(nên Ngài đọc
không được suông sẻ), có thể Ngài cũng chỉ có thể “chuẩn y” tại chỗ
Giáo chỉ số 9 theo yêu cầu
(của VHĐ) mà không được biết nội dung
thực sự của giáo chỉ ra sao. Ngài chỉ nói
“Tôi
gửi lời khen ngợi chư liệt vị đã tận tình hoằng dương chánh pháp nơi các xứ sở
xa xôi, đồng thời vẫn nhất tâm hậu thuẫn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại quê nhà. Đặc biệt
chư quý liệt vị đã chí thành khâm tuân và thi hành Giáo chỉ số 9 do tôi ban hành
và các Thông tư, Thông bạch của Viện Hóa Đạo nhằm chấn chỉnh và phát huy Giáo
hội trước tình thế mới, cũng như làm rạng danh hai nghìn năm Phật giáo Việt Nam,
chư liệt vị Tổ sư, các Thánh tử đạo và những người đã hy sinh để bảo vệ dân tộc,
bảo vệ lãnh thổ và bảo vệ chánh pháp.”
Đây là câu khen ngợi không được tự nhiên
được lồng vào lời chúc Xuân của một vị Tăng Thống. Chưa bao giờ lãnh đạo tối cao
của giáo hội ban hành giáo chỉ rồi lại ngỏ lời ngợi khen cấp dưới là
“đã chí thành khâm tuân và thi hành”
! Chắc chắn là có vấn đề. Mặt khác, nếu
đây là một văn bản viết sẵn từ ai đó để Ngài đọc, sẽ không chứng minh được rằng
Ngài nắm rõ nội dung giáo chỉ và thông bạch hướng dẫn. Có thể Ngài chỉ biết cái
tên và con số của hai văn kiện này thôi
(điểm này trước sau gì cũng sẽ được phơi bày qua một tài liệu đặc biệt phỏng vấn
Ngài, mà hiện nay chưa tiện phổ biến).
Giáo chỉ,
thông bạch, con dấu, chữ ký, logo giáo hội, letterhead của lưỡng viện, v.v… nói
chung là các hình thức hành chánh của giáo hội, từ
“biến cố giáo
chỉ”
về sau, đã không còn đủ sức để gây niềm tin đối với Tăng Ni và Phật Tử. Bây giờ
người ta chỉ đọc và nghiệm phần nội dung chứ không để ý lắm về hình thức. Văn
kiện nào ấn ký Tăng Thống hay Viện trưởng VHĐ nhưng viết sặc mùi chính trị,
thiếu đạo phong của một cao tăng,
biết ngay là
xuất phát từ tục nam VVA của PTTPGQT.
Đó là lý do có khi thông điệp năm này được nhiều cơ sở giáo hội tại hải ngoại
đọc, nhưng năm khác lại không nơi nào chịu đọc. HT. Thiện Hạnh đã có lần
“tố giác”
trong
“Bản Phúc Trình”
về chuyện không chịu đọc thông điệp này là lý do đó.
Sau biến
cố giáo chỉ số 9, bắt đầu có một số giáo chỉ, quyết định, thông tư được phổ biến
mà rồi bị tục nam VVA lên tiếng cảnh báo, cho rằng đều là giả. Cách phản bác
không đủ sức thuyết phục, ví dụ đối với việc bãi nhiệm tục nam VVA, phát ngôn
nhân VHĐ, thì PTTPGQT chỉ biết biện bạch, bảo vệ cho chức vị của ông bằng câu
này
“Đại lão HT
Thích Quảng Độ và Viện Hóa Đạo không hề có ý định như thế”
(trích TCBC
ngày 25/3/2008 - Cảnh báo tài liệu giả “bãi nhiệm” ông Võ Văn Ái chức Phát ngôn
nhân Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN. Xem Quê Mẹ).
Cũng trong TCBC này, tục nam VVA phân tích hình thức lắp ráp giả mạo như thế nào
của các “tài
liệu giả”
đó. Nhưng mới đây, qua phân tích kỹ thuật vi tính của Diệu Trang Nghiêm về giáo
chỉ số 9, người ta cũng thấy sự lắp ráp tương tự trong giáo chỉ số 9, có nghĩa
là giáo chỉ này được đánh máy riêng, và gắn chữ ký con dấu của Đức Tăng Thống
vào.
Gần đây
nhất, sau tang lễ của Đức Tăng Thống, có chúc thư ký ngày 10/5/2008 của Ngài
được phổ biến, bắt nguồn từ email của ĐĐ. Thích Đồng Thọ
(vị thị giả
của Đức Tăng Thống),
tục nam VVA lập tức lên tiếng
phủ nhận
(trước hết là vì chúc thư này mặc nhiên không đếm kể gì đến tục nam VVA và TCL
trong thành phần nhân sự của VHĐ mà chúc thư đề nghị).
Sau đó vài ngày lại có thư xác nhận của ĐĐ. Thích Minh Tuấn rằng chúc thư do
Thích Đồng Thọ phổ biến là chúc thư thật. Tục nam VVA vội vàng nhờ chính hai vị
đại đức này lên tiếng xác minh. Xét về nội dung bản chúc thư, người hiểu việc
không ai tin đó là chúc thư thật, không cần tục nam VVA phải quýnh quáng phủ
nhận để bảo vệ chức vị của mình. Có người còn cho rằng đó chỉ là sự đóng kịch :
tài liệu giả, phủ nhận tài liệu giả,
cũng đều từ một người, một xuất xứ mà thôi. Cũng có người cho rằng đó là do HT
Thiện Hạnh từ Huế tung ra nhằm thăm dò dư luận. Nhưng việc này cũng khó đoán
định, không cần phải bàn thêm. Chỉ nhìn nơi hình thức văn kiện thì thấy rằng kỹ
thuật lắp ráp đã tinh xảo hơn, dùng Adobe Photoshop để tách màu
(bằng nhiều
layers)
theo hướng dẫn của Diệu Trang Nghiêm cũng không thấy chỗ ráp nối.
Ngày
11/8/2008, lại có một chúc thư của Đức Tăng Thống được phổ biến nữa. Chúc thư
này, về nội dung có vẻ
“thật”
hơn, vì theo chúc thư này
(được ký ngày
17/01/2005)
thì Đức Tăng Thống không áp đặt và can thiệp nhiều vào việc sắp xếp nhân sự của
VHĐ như là chúc thư trước đó. Tục nam VVA đã phản ứng nhè nhẹ bằng email gửi cho
các groups và diễn đàn chứ không phản ứng mạnh như đối với chúc thư
“giả”
ký ngày 10/5/2008, có thể vì chúc thư sau này
(nhưng thời
gian thì cũ hơn)
vẫn để yên cho tục nam VVA trong chức vị phát ngôn nhân VHĐ và cũng có ca ngợi
việc làm của PTTPGQT. Thế nhưng, hình thức của chúc thư ký ngày 17/01/2005 cũng
rất tinh vi, không thấy dấu ráp nối.
Các chúc
thư đưa ra lung tung như vậy trước hết là một sự bất kính đối với Đức Tăng Thống
mà hiện nay chúng ta chưa đủ bằng chứng để qui tội ai là người đã bày ra trò
chơi này. Có thể là các thế lực ác
(cộng sản,
ngoại đạo, tổ chức chính trị nào đó),
cũng có thể do phát ngôn nhân hoặc chánh thư ký VTT
(như có người
phỏng đoán).
Nhưng mặt khác của vấn đề cũng cho thấy về hình thức, với kỹ thuật tinh xảo của
vi tính, tính chất thật và giả của một văn kiện giáo hội không thể phân định
được nữa. Chỉ còn phần nội dung và tính hợp lý của thời gian là chìa khóa để dựa
vào mà xét định.
Tại sao
cần phải giả ? Và tại sao cần phải
giả đò giả ? - Giả là để tạo thuận
lợi cho mình và giả đò giả là để thăm dò, để chận đứng cái thật.
Vấn đề
cần được phân tích mổ xẻ ở đây là CHÚC
THƯ VÀ GIÁO CHỈ SẮP CÔNG BỐ CỦA VPII VHĐ TẠI CHÙA PHÁP LUÂN VÀO NGÀY 17/8/2008
CÓ THẬT HAY KHÔNG ?
Làm sao
biết chúc thư và giáo chỉ ấy là thật hay giả ? Trước
hết hãy để tục nam VVA trả lời xem sao. Với TCBC ra ngày 22/7/2008, tiêu đề
“Kính xin đồng
bào Phật tử và đồng bào các giới cảnh giác chúc thư giả của Đức cố Đệ tứ Tăng
Thống Thích Huyền Quang”,
tục nam
VVA đã đưa ra 2 điểm phản bác không có tính thuyết phục, đồng thời rất vô lý
(có lẽ vì
quýnh quáng sợ mất chức nên nói bậy)
:
“1-.
Chúc thư gọi là của Đức Đệ tứ Tăng thống
viết từ Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định, ngày 10.5.2008 và nói rằng do Đại đức
Thích Đồng Thọ chuyển đi là Chúc thư GIẢ.
2-.
Đại đức Thích Đồng Thọ, thị giả Đức cố
Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang, không hề gửi đi cho bất cứ ai một văn kiện
nào. Vì lý do dễ hiểu là Đức cố Tăng thống Thích Huyền Quang không hề để lại một
văn bản nào mang nội dung như cái gọi là Chúc thư nói trên.”
Phủ nhận một văn kiện có letterhead, chữ
ký và con dấu của Đức Tăng Thống mà chỉ đưa hai luận điểm sơ sài như vậy làm sao
thuyết phục được người đọc ! Điều
1,
không có lý luận gì cả, chỉ phủ nhận nó giả thôi, nhưng không giải thích vì sao
nó giả.
Điều 2,
cố gắng giải thích, nhưng giải thích này cũng không có lý luận gì cả.
Thứ nhất,
chưa thể xác định rằng nó giả với lý
do
“ĐĐ.
Thích Đồng Thọ không hề gửi đi cho bất cứ ai một văn kiện nào”,
vì có thể ĐĐ. Thích Đồng Thọ không gửi nhưng nhờ người khác gửi, hoặc ai đó lấy
được văn kiện đó, mạo tên ĐĐ. Thích Đồng Thọ để gửi.
Thứ hai,
cách giải thích “vì
lý do dễ hiểu là Đức Tăng thống Thích Huyền Quang không hề để lại một văn bản
nào mang nội dung như cái gọi là Chúc thư nói trên”
cũng
không phải là lý luận gì cả, mà còn tố cáo một điểm là tục nam VVA này đã đọc
trước, hoặc soạn trước chúc thư và đang nắm trên tay chúc thư ấy nên mới biết
được
“Đức Tăng thống
không hề để lại một văn bản nào mang nội dung như cái gọi là chúc thư nói trên”.
Như vậy,
tục nam VVA đã có chúc thư trước và đang chờ công bố vào ngày 17/8/2008 tại Chùa
Pháp Luân, Texas,
Mỹ quốc. Điều này hợp lý chăng ? Hãy đi
sâu vào vấn đề :
*-.
Chung thất Đức Tăng Thống là ngày 22/8/2008
(nhằm ngày
22/7 năm Mậu Tý).
Theo tục nam VVA cho biết, trong TCBC 22/7/2008,
“Tại lễ Nhập
tháp Đức cố Đệ tứ Thích Tăng thống Thích Huyền Quang hôm 11.7 ở Tu viện Nguyên
Thiều, Bình Định, Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng kiêm Tổng Thư ký
Viện Hóa Đạo, đã tuyên bố rằng Đức Tăng thống có để lại Di chúc và Giáo chỉ sắp
đặt việc Phật sự tại hai Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo. Hai văn kiện này sẽ
được công bố tại kỳ lễ Chung thất
(49 ngày)
của Đức Tăng thống.”
Vậy, khi hai văn kiện này được công bố bởi HT Viện trưởng,
(đúng hơn
phải do Chánh Thư Ký VTT),
trước sự chứng minh của chư tôn giáo phẩm Hội đồng Lưỡng viện, thì tại Chùa Pháp
Luân Texas, VPII đã tuyên đọc và phổ biến 5 ngày trước đó rồi. Điều này có nên
không, có hợp lý không ? VPII VHĐ
lại được quyền công bố trước VHĐ quốc nội sao ?
Lý do gì mà phải gấp gáp, không chờ đợi trong nước công bố trước rồi ở
ngoài
“khâm tuân”
chiếu hành ?
*-.
Chúc thư và giáo chỉ ấy có được đem ra
thảo luận trước hội đồng lưỡng viện chưa ? Nếu
có thì ai cũng biết rồi, đâu có gì gọi là cần bảo mật, giữ thiêng liêng, cần gì
phải chờ đến ngày chung thất mới công bố, sao không công bố sớm ngay sau tang lễ
để “ổn
định nhân tâm”
! Nếu không đem ra thảo luận với hội
đồng lưỡng viện thì không lẽ chỉ HT Viện trưởng và tục nam VVA biết thôi sao,
điều này có được cho phép không ? Tục
nam VVA xác định đã biết nội dung chúc thư trước tất cả những thành viên giáo
phẩm Tăng già khác trong giáo hội, điều này nên không, cho phép không ?
*-.
Làm sao biết được chúc thư và giáo chỉ tuyên đọc ngày 17/8/2008 tại Chùa
Pháp Luân là thật ? Vì theo tuyên bố của
TT. Thích Viên Định nói trên, phải đến kỳ lễ chung thất thì hai văn kiện chúc
thư và giáo chỉ mới được công bố. Chúc thư hay giáo chỉ nào xuất hiện trước ngày
đó đều là
GIẢ.
Đây chính là lời của tục nam VVA viết trong TCBC, sau khi phủ nhận chúc thư sớm
phổ biến trước lễ chung thất :
“Vậy từ đây đến
đó, mọi văn kiện tiếm danh Đức cố Đệ tứ Tăng thống đều là tài liệu giả”
(trích nguyên
văn câu chót của TCBC từ PTTPGQT, ngày 22/7/2008). Theo câu kết luận chắc như
đinh đóng cột của tục nam VVA, chúng ta phải hiểu một cách chắc chắn rằng
chúc thư và
giáo chỉ tuyên đọc tại Chùa Pháp Luân ngày 17/8/2008, 5 ngày trước kỳ lễ chung
thất Đức Tăng Thống, là
tài liệu giả
(nhấn mạnh :
tài liệu giả).
*-.
Chúng ta thấy vị đệ tử xuất gia duy nhất
của Đức Tăng Thống tại hải ngoại là TT. Thích Minh Dung đã tống đạt thư mời tổ
chức lễ chung thất cho bổn sư của mình vào ngày 23/8/2008, sau lễ chung thất
chính thức tại Tu viện Nguyên Thiều một ngày. Giáo hội PGVNTN Hải Ngoại tại Úc
Đại Lợi – Tân Tây Lan thì tổ chức vào ngày 24/8/2008, sau hai ngày. Cho thấy sự
tôn trọng và kính nhường của chư tôn đức này đối với VHĐ trong nước như thế nào.
Không có lý do gì để cần phải tố chức sớm và trước lễ chung thất chính thức,
nhất là lại có chủ ý tuyên đọc chúc thư và giáo chỉ cũng như làm lễ suy tôn
trong dịp này. Phải chăng là một kiểu ăn hớt, nói hớt, để cho VHĐ trong nước
buộc lòng phải làm theo cái đã rồi ?
*-.
Bây
giờ hãy thử nhìn lại tuần tự các sự việc diễn ra để phỏng định nội tình về chúc
thư và giáo chỉ : tục nam VVA tung tin
là sẽ có suy tôn và danh sách hội đồng lưỡng viện vào ngày 13/7/2008 trong Lễ
Tưởng Nguyện và Thọ Tang Đức Tăng Thống tại Chùa Diệu Pháp ; sau đó là hai chúc
thư giả tung ra, rồi lại có sự kiện sẽ tuyên bố chúc thư và giáo chỉ cùng làm lễ
suy tôn trong ngày 17/8/2008 tại Chùa Pháp Luân, Texas. Có thể tục nam này muốn
ép HT Viện trưởng phải chấp nhận chúc thư và giáo chỉ do tục nam sáng chế tại
Paris.
Chúc thư và giáo chỉ sáng chế phải công bố sớm chừng nào tốt chừng đó để chận
đứng văn kiện thật
(nếu có).
Ban đầu muốn công bố sớm, nhưng bị kềm lại, phải chờ đến kỳ chung thất trong
nước. Nếu đến lúc đó HT Viện trưởng hoặc Chánh Thư Ký VTT công bố chúc thư hay
giáo chỉ không thuận lợi cho tục nam và phe cánh thì không ổn, do đó, phải ra
tay trước : công bố ngày 17/8/2008,
trước 5 ngày ! Với chiêu thức táo bạo
này, tục nam buộc HT Viện trưởng một là gửi chúc thư và giáo chỉ thật
(nếu có)
qua cho PTTPGQT nghiên cứu, điều chỉnh, rồi gửi ngược lại cho Ngài đọc để
“thống nhất”
văn bản trong và ngoài nước ; hai là,
hãy chờ VPII VHĐ công bố trước rồi VP I VHĐ dùng văn kiện của VPII mà công bố
sau.
Qua những điểm
trên, bây giờ kết luận chúc thư và giáo chỉ là
thật
hay
giả
cũng thật khó.
Điều hy vọng cuối cùng là Chúc thư và Giáo chỉ sẽ do thủ bút của Đức Tăng Thống,
như ĐĐ. Thích Đồng Thọ xác minh với VHĐ
:
“theo
con được biết Chúc thư của Đức Tăng Thống được Ngài Viện Trưởng đang cất giữ và
Chúc thư có lẽ được viết bằng chính bút tích của Đức Tăng Thống chứ không phải
là những bảng đánh máy vi tính và giả con dấu cũng như chữ ký của Đức Tăng Thống.”
Ở hy vọng cuối cùng này, chúng ta hãy chờ xem, chúc thư và giáo chỉ sẽ xuất hiện
trong hình thức như thế nào. Dùng máy vi tính để sáng chế, soạn thảo, lắp ráp
bao nhiêu giáo chỉ, thông bạch, chúc thư… cũng được cả. Nhưng bút tích của Đức
Tăng Thống thì khó mà giả. Chỉ có những họa sĩ chuyên nghiệp về thư pháp may ra
cặm cụi sao y thủ bút của người khác. Mà đã đến nước thủ bút cũng giả được thì
điều kỳ vọng sau cùng vẫn là nội dung, tinh thần của chúc thư và giáo chỉ ấy :
Trước hết, có hợp Hiến chương không ?
Thứ nữa, có mang lại sự hòa hợp, đoàn
kết, thanh tịnh, tương kính, tương giáo cho giáo hội, cho bốn chúng như Phật dạy
và luật định hay không ? Đây là
điều mà ma Ba-tuần cũng không làm được huống gì chỉ là một tục nam bé nhỏ.
Cầu nguyện cho mọi an lành và thanh tịnh đến với chư tôn đức và Phật Tử khắp nơi
trước cơn khủng hoảng giáo chỉ, chúc thư, thật và giả của giáo hội trong giai
đoạn mới : thiếu vắng bậc lãnh đạo tài
đức, khoan dung và từ bi vô lượng như Đức cố Tăng Thống của chúng ta !
Úc đại lợi ngày 12 tháng 8 năm 2008
Thích Tâm Không
*
*
*