ĐÔI NÉT VỀ HUẾ
Tuệ Quang
Tôn Thất Tuệ
Vào thời-kỳ Hồng Bàng, Huế nói riêng và Thuận Hoá nói chung thuộc bộ Việt
Thường, một trong 15 bộ của nước VĂN LANG.
Dưới triều vua Trưng, Huế thuộc quận Nhật Nam, một trong sáu quận miền nam NGŨ
LĨNH.
Sau khi người Tàu tái lập ách đô hộ, họ bị người Lâm Ấp
(tức Chiêm
Thành) đánh đuổi khỏi Nhật
Nam, từ đó Thuận Hóa do người Chiêm kiểm soát
với địa danh là châu Ô và châu Lý.
Trong suốt nhiều thế-kỷ, hai châu Ô, Lý từng là vùng tranh chấp giữa hai
dân tộc Chiêm, Việt. Cho tới đầu thể kỷ XIV, đời nhà Trần, mới vĩnh viễn thuộc
về nước ta và châu Ô đổi thành châu Thuận, châu Lý đổi thành châu Hóa.
Thời Minh thuộc, hai châu Thuận và Hóa được ghép chung thành phủ Thuận
Hoá, sang đời Lê đổi thành lộ rồi xứ và cuối cùng là trấn Thuận Hóa.
Trấn Thuận Hóa, từ khi Thái Úy Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng
(tức chúa
Tiên hay Thái Tổ Gia Dũ Hoàng-đế triều đại Nguyễn-phước) được vua Lê Anh Tông cử vào trấn nhậm, đã dần dần được cải tiến, chuyển
hoá từ t́nh trạng khu giới tuyến địa đầu lỏng lẻo về tổ-chức, bất ổn về an ninh
thành một miền đất ổn định và an lạc.
Kế tục sự nghiệp chúa Nguyễn Hoàng, các chúa Nguyễn hậu duệ một mặt tích
cực mở mang lãnh thổ về phiá nam, mặt khác lo xây dựng, canh tân, bồi đắp cứ địa
căn bản Thuận Hoá, đưa vùng này lên địa vị một trung-tâm chính trị, hành chánh
và văn học vô cùng quan trọng.
Từ năm 1636, chúa Thượng Nguyễn phúc Lan chọn Kim Long ở phiá bắc Huế làm
thủ phủ. Nửa thế kỷ sau, năm 1687, chúa Nghĩa Nguyễn phúc Thái lần thứ nhất, rồi
1738, Võ vương Nguyễn phúc Khoát lần thứ nhì, đều đặt thủ phủ ở làng Phú Xuân
thuộc huyện Hương Trà, cho xây dựng thành trì, cung thất, mở mang giao thông
thủy bộ... Từ đó Phú Xuân tức Huế nghiễm nhiên trở thành một vị trí lịch sử với
nhiều ưu điểm về chiến lược.
Sau khi thống nhất đất nước, Thế-tổ Cao-hoàng đế Gia Long, cho xây dựng
kinh thành Huế với công tŕnh quy mô to lớn, phối hợp kỹ thuật kiến trúc Đông và
Tây.
Trên ḍng lịch sử, Kinh đô Huế từng trải qua nhiều thăng trầm theo vận
nước phế hưng :
Huế từng là chứng tích của những cuộc tranh phong khốc liệt giữa các thế
lực nội chiến Trịnh , Nguyễn và Tây Sơn.
Huế đã ghi đậm những nét bi hùng của trận chiến chống xâm lược Pháp năm Ất
Dậu 1885.
Huế cũng là mục tiêu chính của vụ tàn sát bách hại chưa từng có trong lịch
sử dân tộc, phát động bởi nhóm người ngụy tín cuồng sát vào Tết Mậu Thân 1968.
Huế còn trải qua chẳng biết cơ man nào những biến cố đau thương khác.
Thế nhưng, được củng cố un đúc từ khí thiêng sông núi, địa linh Huế sau
bao cơn biến động, vẫn sừng sững ngang nhiên vượt thắng mọi thách đố, vẫn tồn
tại và vươn lên trong thời gian miên trường, trong không gian miên viễn.
Phối hợp cùng những đăi ngộ từ thiên nhiên, Huế còn có những công trình
xây dựng do nhân lực với nhiều kiến trúc quy mô :
nào đền đài miếu vũ, nào lăng tẩm chùa chiền, tiêu biểu hơn hết là kinh
thành Huế, đă làm ấn tích hùng hồn đánh dấu thời vàng son về văn hoá của một
triều đại.
Huế ngày nay không chỉ là chiếc nôi yêu thương xứng đáng là niềm tự hào,
kiêu hãnh của riêng người Huế hay người Việt, mà Huế đă chuyển mình trở thành
đối tượng trân qúi chung của cả nhân loại.
Tìm về đất Huế là t́m về một vùng trời tĩnh lặng, thơ mộng và an bình.
Nghĩ tới người Huế là nghĩ tới cái đậm ngọt trong tình tự, cái đoan trang trong
cung cách ; là suy tưởng tới cái bản chất
đôn hậu hiền hoà, cái nếp sống hồn nhiên tự tại ;
là mường tượng thấy nét e ấp qua làn môi, sự kín đáo trong nụ cười, nỗi
thẹn thùng nơi khoé mắt. Ít khi người ta bắt gặp được ở đất Huế hay từ dân Huế
những sự xô bồ, suồng sã, thô bạo.
Nói thế, nhưng Huế cũng như mọi nơi khác, vẫn chịu chi phối bởi luật
tương đối, thừa trừ của tạo hóa. Song song bên cạnh những ân sủng thiên phú, Huế
đã vướng mắc ít nhiều khuyết tật, rơ nét nhất là về mặt khí hậu và kinh tế :
nào là thời tiết mưa nắng thất thường với
cái nóng ẩm ghê người vào tháng hè, cái mưa dầm triền miên buốt giá về mùa đông
; nào là tính khô cằn thiếu mầu mỡ của
những đồng bằng nghèo nhỏ hẹp, khiêm tốn mà phần lớn là đất cày lên sỏi đá.
Tuy nhiên, chính từ môi trường bạc đãi đầy cam go, Huế đã vươn lên một
sức sống dồi dào, một kháng tính mạnh mẽ. Từ trong khó khăn gian khổ, dân Huế
tôi luyện được cho chính mình sức chịu đựng bền dẻo, đủ khả năng đương đầu với
mọi nghịch cảnh.
Thiên nhiên đã phối hợp hài hòa cùng lịch sử để kiến tạo Huế thành chiếc
nôi bao dung, bồi dưỡng, un đúc nhiều thế hệ con dân có những nét đặc thù về tâm
hồn lẫn phong cách.
Trong “Ô Châu cận lục”, Dương văn An có nhận định :
đàn ông Huế thì kiên cường, dũng cảm ;
đàn bà Huế thì yểu điệu, đoan trang.
Trong “Địa dư chí”, Nguyễn Trăi b́nh luận rằng :
dân Thuận Hóa đã hấp thụ nếp sống của
Chiêm Thành nên quen chịu đựng khó khăn, gian khổ.
Phan Kế Bính thì cho là người Huế khiêm tốn và kín đáo. Tính kín đáo ấy
đã được Bích Lan phát hiện một cách lý thú rằng :
“Người xứ Huế trang
nghiêm và trầm lặng,
Thường hay buồn giữa lúc thế
nhân vui,
Tâm sự nhiều mà ít hé trên môi ...”
Cảnh Huế thì thơ mộng, người Huế lại đa tình nên Huế hiển nhiên là tụ điểm
của thi ca và nghệ thuật. Mỗi cơ thể Huế chất chứa một hồn thơ, mỗi mảnh đất Huế
là một nguồn cảm hứng phong phú đủ làm chủ đề cho cả một kho tàng thi, văn,
nhạc, hoạ.
Hình như Huế có một hấp lực lôi cuốn, dụ hoặc rất kỳ diệu, khiến cho ai
trót sinh ra, lớn lên từ Huế là trọn đời “đi thấy nhớ, ở thấy thương” ; khiến
cho ai, từ bất cứ phương trời nào, một lần dừng chân nơi đất Huế là mãi mãi lưu
luyến, vấn vương “đi thì nhớ, ở thì mê “.
Chẳng mấy ai trước vẻ đẹp trầm lặng của Huế mà không rung cảm. Cũng chẳng
mấy ai khi chiêm thưởng một áng thơ về Huế mà không say sưa, dù là thơ tả cảnh
hay tả tình và dù tác giả là người Huế hay không là người Huế.
Trước cái tĩnh mịch tuyệt vời của thiên nhiên, thi hào Nguyễn Du từng bồi
hồi đối cảnh sinh tình :
“Hương
giang nhất phiến nguyệt,
Kim cổ hứa đa sầu”
(Nam
trung thi tập)
Xin tạm dịch :
“Một mảnh trăng chiếu dòng Hương,
Xưa nay từng gợi sầu thương cho đời”
Cùng một cảnh sắc đó mà Á Nam Trần tuấn Khải thì :
“Sông Hương một giải xanh xanh,
Gió vờn mặt nước, sóng t́nh đầy vơi “
(Non
nước Thần Kinh)
Đông Hồ lại đắm đuối “Trong đôi mắt
Huế “:
“Dòng nước sông Hương chảy lặng lờ,
Ngàn thông núi Ngự đứng như mơ,
Gió cầu vương áo nàng Tôn Nữ,
Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ”.
Và Tản Đà một lần tới “chơi Huế” , đă thấy thích thú như anh nhà quê lên
tỉnh :
“Kinh thành gái lịch trai thanh,
Lại thêm Hương thủy, Ngự bình điểm tô.
Con người ngoài Bắc mới vô,
Mừng nay được thấy đế đô một lần.”
Một vài thi nhân lại khéo vay mượn cảnh sắc Huế để tỏ bày tâm sự riêng tư,
thổ lộ nỗi u hoài trăn trở của ḿnh trước vận nước điêu linh.
Ngắm dòng sông An Cựu mà Nguyễn hữu Bài ray rứt :
"Đục trong, biết nỗi trời hanh tạnh
Bồi lỡ theo dòng nước vận trôi."
(Vịnh sông
Lợi Nông)
Phan Sào Nam,
một lần “Vào Thành” đã ngậm ngùi cảm thán :
“Dạo khắp trong với ngoài,
Đàn
địch vang tai trời,
Đau lòng có một kẻ,
Hỏi ai
? Ai biết ai !”
Vi Bằng, sau những năm phiêu
bạt, trở về thăm lại cố đô, ḷng trĩu nặng u hoài trước cảnh sao dời vật đổi :
“Về đứng bên sông nh́n khói sóng
Yên ba giang thượng thấy mà đau”.
(Khói sóng)
Trong lòng khách đa tình, Huế luôn luôn là nguồn thi cảm bao la :
Nhà thơ Kỉnh Chỉ Phan văn Hy , sau mấy năm xa cách, đã Nhớ Huế dạt dào, tha
thiết :
"Gần năm năm chẵn, chẳng về Kinh,
Nhớ cảnh sông Hương núi Ngự Bình,
Nhớ súng Ngọ Môn khi rợn sáng,
Nhớ chuông Thiên Mụ lúc tàn canh.
Nhớ sân Cần Chánh, quan đâu cả ?
Nhớ rạp Thanh Bình khách vắng tanh.
Nhớ chị chèo đò, O(*)
bán hến,
Nhớ bao nhiêu chuyện, bấy nhiêu tình."
(*)
Ghi chú : O bán hến tức là Cô bán hến.
Nữ sĩ Tương Phố năm 1929 “Trở lại Thần kinh” để hoài niệm một cuộc t́nh đã
lỡ :
“Nhớ anh trở lại Thần kinh,
Sông Hương nước chảy, non B́nh thông reo
!”
Cảnh cũ còn đó, người xưa khuất rồi ! Trong
nhớ nhung chất ngất, thi nhân không ngăn được nước mắt :
“Khóc anh từ ấy đến giờ,
Lệ lòng lai láng đôi bờ sông Hương”.
Trong “Đây thôn Vỹ Dạ”, Hàn Mặc Tử bằng một cảm quan bàng bạc, lâng lâng
vẽ nên một bức tranh vừa mộng vừa thực :
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay ?”
Với thi phẩm “Nocturne sur le fleuve des parfums”, nhà thơ Pháp Francois
Henri Guibier cũng có nguồn cảm hứng tương tự :
“La
barque obéit, endormie
Aux
coups réguliers du rameur.
Mon
âme tressaille, meurtrie
Aux
coups de la vie dans mon coeur.”
Rồi Vũ hoàng Chương, nhà thơ sở
trường của những mỹ từ kiêu sa, gọt dũa, chải chuốt cũng ngây ngất :
“Công
Chúa - là đây mộng ngự thuyền,
Bài
thơ mờ tỏ nón nghiêng nghiêng,
Hàng
mi ánh phớt t́nh thanh liễu,
Gờn
gợn ḍng thu mắt ngọc tuyền.”
(Em là Công chúa)
Thưỏng thưc tổng hợp toàn bộ
các đoạn thơ trên của một số nhân vật thành danh mà tên tuổi đă đi vào lịch sử
hay văn-học sử, ta tưởng như lạc vào một rừng hoa thơm cỏ lạ, mà dù với tần-số
rung cảm nào của tâm hồn, ta đều say sưa, thích thú.
Rồi, nếu ngắt từng đoá lẻ
trong rừng hoa đó, đem chưng bày riêng để thưởng thức, hoặc đem giải phẫu, phân
tích t́m cái chất liệu tinh túy sâu thẳm tận cùng về nghệ thuật, ta còn phát
hiện được những nét đặc thù nổi bật về tư tưởng, về tình cảm nội tâm, biểu hiện
rơ trên những góc cạnh riêng của từng tác giả.
Qua thơ Nguyễn Du, ta thở dài
bắt gặp nỗi cô đơn của một tâm sự u hoài.
Với thơ Tương Phố, ta ngậm ngùi cho một chuyện tình dang dở.
Trong thơ Phan Sào Nam, Nguyễn hữu
Bài hay Vi Bằng, ta cảm thông nỗi uất nghẹn, ray rứt, xót xa v́ thời cuộc.
Rồi ta lâng lâng, nhẹ nhàng
bị cuốn hút, mê hoặc bởi tứ thơ trữ t́nh của Á Nam Trần Tuấn Khải, Đông Hồ, Hàn
Mạc Tử, Vũ hoàng Chương, Tương Phố...
Thoát ra ngoài vũ trụ thơ của
giới thi nhân tên tuổi, ta đi vào khung trời thi ca dân gian Huế.
Nhiều người cho rằng âm ngữ
Huế líu lo như tiếng chim, trầm bổng như điệu nhạc; t́nh cảm Huế th́ đậm ngọt,
tràn đầy ... nên người Huế nào cũng thích thơ, yêu thơ, mê thơ, sính thơ, sành
thơ. Nói thế tưởng cũng không phải là khoa trương, cường điệu. Chính từ môi
trường thuận lợi tự nhiên, người dân giả đất thần kinh trước tác thơ một cách
nhẹ nhàng, thong thả, dung dị và linh hoạt ; thi
ca dân gian Huế cũng nhờ đó mà có những nét độc đáo, đặc thù.
Với một nguồn ca dao sung măn
về phẩm lẫn lượng, thi ca dân gian Huế được truyền tụng qua thời gian bằng nhiều
thể điệu: mái nh́, mái đẩy, giă gạo, ru em, ḥ vè v.v...
Chẳng rõ khởi nguồn từ hồi
nào của xa xưa, thi ca dân gian Huế đă được bồi dưỡng qua nếp sống dồi dào về
t́nh cảm, cao đẹp về tư tưởng, duyên dáng về phong cách ;
dù có mang chung tính trữ tình, lăng mạn, song không bị g̣án ép vào trạng
huống đơn điệu, nghèo nàn, trái lại đă thể hiện được nhiều sắc thái, diễn đạt
mọi tư duy, phản ảnh nhiều mặt thực tế.
Cũng từ nguồn thi ca dân gian
đó, người ta phát hiện được tính hội tụ, đa diện ;
cùng một thi phẩm mà lắm khi mô tả nhiều
khía cạnh, chuyên chở nhiều ư nghĩa, thẩm thấu vào tâm hồn người qua nhiều lối
ngơ, có thể thích nghi, phù hợp với nhiều tâm trạng và nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Thi ca dân gian Huế thường
khai dụng những từ ngữ, cảnh vật, nhân vật và sự tích thuần túy địa phương.
“Ăn
sung, ngồi gốc cây sung,
Lấy
anh đành lấy, nằm chung không nằm.”
là lời ca đề cao tiết tháo
của cụ Phan Bội Châu trong thời gian bị an trí tại Bến Ngự, đă thề không bao giờ
hợp tác với thực dân Pháp.
Rồi những đoạn ca dao khác :
“Một
nhà sinh được ba vua
(1),
Vua
còn, vua mất, vua thua chạy dài.
Đồn
rằng quan tướng có tài
(2),
Cửa
Thuận An Tây lấy, Trấn Bình Đài Tây vô !”
hay là :
“Chuyện đời càng nghĩ càng rầu,
Ở
giữa Đồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi !"
Bằng đôi chút trầm tư khi
thưởng thức, ta nghe thấy từ mấy vần ca dao trên, có những tiếng thở dài, uất
nghẹn, khóc cho thảm trạng tan tác của triều đình Huế vào những ngày quốc biến,
khi vết giày xâm lược của nền văn minh cơ giới phương Tây dẫm tràn lên đất nước.
Từ sau ngày kinh đô thất thủ,
thực dân Pháp với chiến lược “tằm ăn dâu”, biến dần Việt Nam thành thuộc địa
trực trị. Trước cơn quốc nạn nát ruột tan lòng, trước cảnh biển dâu sao dời vật
đổi, đây đó khắp nơi vang vọng lời ta oán, hoài cảm, tiếc thương :
“Chiều
chiều trước bến Văn Lâu,
Ai
ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,
Ai
thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông...
Thuyền ai thấp thoáng trên sông,
Nghe
câu mái đẩy, chạnh lòng nước non !”
Không phải chỉ gò bó, giới
hạn trong phạm trù nhất định của thứ tình cao cả dành cho quê hương, ca dao Huế
cũng còn vượt thoát đi tìm những thế giới riêng của nội tâm, ca ngợi nhiều thứ
t́nh yêu khác.
Trong khung cảnh buổi trưa hè
tĩnh mịch ở làng quê, một bé gái tóc để chỏm, lim dim đôi mắt, đẩy nhẹ tay nôi,
khe khẽ cất tiếng hò :
“Ru
em, em théc
(3) cho muồi,
Để
mẹ đi chợ mua vôi têm trầu.
Mua
vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua
cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh...”
Thật vô cùng tuyệt diệu, mấy
vần mộc mạc, bình dị đó không chỉ vẽ nên bức tranh bé nhỏ của chiếc nôi đầu đời,
mà đã phác họa được cả một khung trời bao la của tình chị em thân thương.
Ca dao Huế như một pho kinh
sách, rao truyền luân lý phương Đông mà hệ thống gia đình, xã hội Việt coi như
mô thức khuôn mẫu để đạt tới chân, thiện, mỹ. Ở đó, đức hy sinh cao cả, tình yêu
tuyệt vời của cha mẹ dành cho con cái đă được vinh danh :
“Chợ
xa đi sớm về trưa,
Nuôi
con không kể nắng mưa dãi dầu.”
hay
“Rạm đồng nấu với bẹ môn,
Đói
no, mẹ cũng nuôi con nên người.”
Để đền đáp công ơn trời biển
của cha mẹ, người con Huế luôn luôn chu toàn bổn phận:
“Tôm
rằn lột vỏ, bỏ đuôi,
Gạo
de An Cựu em nuôi mẹ già.”
Khi gặp cảnh nhà đơn chiếc,
không nỡ rời xa cha mẹ già yếu, người con gái Huế dám hy sinh trọn vẹn tuổi xuân,
quên hẳn bản thân mình :
“Ai đưa cau trầu tới đó thì xin chịu khó mà bưng về,
Em
đây còn phải theo chân Thầy gót Mẹ cho trọn bề hiếu trung !”
Ca dao Huế còn dung chứa đến
độ băo ḥa một thứ t́nh yêu khác tự nhiên, tất yếu, tối cần để cho âm dương ḥa
hợp, nhân loại trường cửu, vạn vật sinh tồn..., đó là t́nh yêu nam nữ. Tính thủy
chung son sắt, ḷng yêu thương tận tụy trong nghĩa vợ chồng thường được ngợi ca
;
“Tai
nghe anh đau đầu chưa khá,
Em
đây băng đồng chỉ sá, bẻ nắm lá cho anh xông.
Có
mần ri
(4), mới trọn đạo vợ chồng,
Đổ
mồ hôi ra thì em chặm
(5),
ngọn gió lồng thì em che.”
hay
“Thương chồng nấu cháo le le,
Nấu
canh bông lư, nấu chè hột sen.”
Thói thường, một chuyện tình
tưởng cho là đẹp để hoài niệm nhớ nhung, để ngợi ca tiếc nuối lại là chuyện tình
không trọn. Ca dao Huế khi diễn đạt về như tình nam nữ, nếu không dày vò vì dang
dở thì cũng than thở vì truân chuyên, âu lo cho duyên phận. Có những cuộc tình
phù du, không hẹn chỉ để lại nỗi buồn bâng quơ :
“Gặp
nhau giữa ngã ba Sình,
Anh
xuôi, em ngược đem tình nhớ thương."
hay
“Rồi
mùa, tót rạ rơm khô,
Bậu
(6) về quê bậu, biết mô mà tìm ?”
Lại có nhiều đường t́nh chông
gai, trắc trở, khiến người trong cuộc phải quay quắt :
“Hai
ta thương chắc
(7) mần
ri,
Bọ
mạ
(8) mần rứa, mình thì mần răng (4) !”
Khi gặp phải nghịch cảnh, cô
gái thần kinh hoặc chỉ biết âm thầm than thở :
“Chim
xa rừng, còn thương cây nhớ cội,
Người xa người, tội lắm người ơi !
Nơ
thà không biết thì thôi,
Biết
rồi hai đứa hai nơi cũng buồn !”
hoặc đành đầu hàng định mệnh,
duyên số :
“Cầu Tràng Tiền sáu vài, mười hai nhịp,
Em
qua không kịp, tội lắm ai ơi !
Mấy
lâu ni chịu tiếng mang lời,
Có
xa nhau đi nữa, cũng tại trời mà ra.”
Trên nhiều khúc quanh của
đường đời, có biết bao mối t́nh "bình thủy tương phùng", mà khi chia tay trước
một mai sau mờ mịt, người ta không khỏi băn khoăn cho một lần tái ngộ :
“Tình
về Đại Lược, duyên ngược Kim Long,
Tới
nơi đây là chỗ rẽ của đôi lòng,
Gặp
nhau còn biết trên sông bến nào ? !"
Nếu trong một t́nh cờ bất
chợt, từ nơi góc biển chân trời nào đó, đột nhiên không hẹn mà muộn màng gặp lại,
th́ chỉ c̣n biết nh́n nhau ái ngại, vì :
“Chuyện
xưa hồ dễ một lần hé môi !”
(Khái Hưng)
bởi :
“Có những niềm riêng một đời dấu kín."
(Lê Tín Hương)
Và nếu có tiến xa thêm chút nữa, th́ cũng chỉ :
“Nâng chén ân tình, ôn chuyện cũ,
Đâu
còn dám tính việc mai sau."
(Tuệ Quang - Xa xôi)
Rất nhiều ca dao Huế mang
tính đa diện, hàm chứa nhiều ư nghĩa, có thể thích nghi một cách uyển chuyển với
từng thực trạng bên ngoài :
“Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại,
Cầu
Tràng Tiền đúc lại xi mon.
Ai
người lỡ hội chồng con,
Về
đây gá nghĩa vuông tròn cùng ta.”
hay :
“Tiếng hát ngư ông giữa sông Nhật Lệ,
Tiếng kêu đàn nhạn bên áng Hoành Sơn.
Một
mình em ở giữa sông Hương,
Tiếng ca, nghe khúc đoạn trường ai hay !”
và thiết tha
hơn nữa :
“Thuyền
ai trôi trước, cho em lướt theo cùng !
Chiều xuống rồi, trời đất mông lung,
Có
phải duyên thì xích lại,
Cho
bớt não nùng đêm sương !”
Vào một khung cảnh bình
thường, với một tâm trạng thanh thản, thoáng nghe qua những đoạn mái nhì trên,
ta tưởng như đây chỉ là tiếng kêu vu vơ của chiếc nhạn t́m bầy hay tiếng gọi mời
của đôi tâm hồn nam nữ săn bắt nhau. Nhưng nếu bằng cái tận cùng sâu thẳm trong
nội tâm của một người ưu tư, xót xa vì vận nước, ta sẽ phát hiện được từ những
tiếng ḥ bình dị đó, h́nh như âm vang tiếng gọi của núi sông; sẽ nhận diện được
cái thực chất cốt lơi đang mang nặng một ư nghĩa cao đẹp của tình yêu tổ quốc ;
sẽ bắt gặp được cái tâm trạng khắc khoải
của những kẻ đồng hội, đồng thuyền cảm thông đồng điệu.
Cũng với ḍng suy tư ấy, có
những người con đất Huế, vào những tháng năm lưu lạc, không ngừng “thắp đuốc soi
đường đi tìm tri kỷ”, không ngừng xuôi ngược “ngậm ngãi tìm trầm” để kiếm tìm
chiến hữu mà chung ḷng chung sức :
“Ai,
đấng anh hùng Lam Sơn tụ nghĩa,
Để
cho ta xin vác kiếm theo hầu ?”
(Tuệ Quang - Ngậm ngãi tìm trầm)
Một bận dừng chân bên bờ sông
St-Laurent mà tưởng nhớ Hương giang ngày cũ, khi đối bóng hoàng hôn
(hoàng hôn ngoài không gian lẫn hoàng hôn của đời mình), một người con của mẹ Huế đă
xót xa:
“Ta
còn ngồi lại,
Thời
gian và dòng sông
Vẫn
cứ vô tình đi, chẳng đợi,
Trời
đổ hoàng hôn, có biết không ?”
(Tuệ Quang - Bên dòng St-Laurent)
Rồi, một nghẹn ngào từ lâu
nén chặt, có cơ hội trổi dậy bời bời :
“Chiều
nay viễn xứ, buồn ray rứt,
Một
thoáng rưng rưng lệ nhạt nḥa.”
(Tuệ Quang -
Bên dòng St-Laurent)
Sau cuộc “đổi đời”, đã có
những âm mưu chính trị muốn xóa nḥa vết tích của một triều đại đối lập, người
ta t́m cách tàn phá những dấu ấn một thời của Huế, xuyên tạc bôi bác lịch sử và
nhân vật Huế, khiến cho Huế ngày nay đang mang nhiều ẩn ức chưa được biện minh,
đã có ít nhiều biến dạng bên ngoài và khiến cho đàn con của mẹ Huế dù yêu mẹ vô
cùng, đă v́ một ma lực ly tâm xua đẩy khỏi lòng mẹ mà tản lạc khắp bốn phương
trời.
Nhưng, với sức chịu đựng
không gì lay chuyển nổi, mẹ Huế vẫn hiên ngang tồn tại. Và, với mạch sống kiên
cường do mẹ bồi dưỡng, un đúc, đàn con của mẹ dù xa cách mẹ, dù lạc xứ lưu vong,
vẫn giữ tṛn khí tiết.
Từ ngh́n trùng xa cách, đêm
đêm các con hằng mơ thấy mẹ, tháng ngày vẫn mong về bên mẹ, vẫn nhớ mẹ qua từng
bước đi, nghĩ đến mẹ trong từng nhịp thở.
Nếu có người con nào đó, sau
ba thập niên cách biệt, vẫn chưa một lần về thăm mẹ, th́ không phải là bạc nghĩa
vô tình, mà chỉ là không muốn làm cho mẹ tủi nhục, đau lòng như trường hợp bà mẹ
hiền của mưu sĩ Từ Thứ đời Tam Quốc bên Tàu, đã hổ thẹn, tuyệt vọng đến phải tự
sát khi thấy con mình nhẹ dạ về với Tào Tháo, vô tình tạo chính nghĩa cho một
chế độ bạo tàn, tà ngụy.
Chính người con đó của mẹ đã
thực hiện đúng cái khí tiết kiên cường do mẹ truyền đạt, tuy để mẹ phải nhớ
nhung nhưng không làm mẹ mất đi niềm tự hào, kiêu hãnh.
Hoa phượng vỹ đă theo vết
chân di tản của các con, vượt trùng dương mà đâm chồi kết nụ, nở rộ khắp muôn
phương để vinh danh mẹ Huế, để chứng minh hùng hồn tính trường cửu bất diệt
trong mẹ Huế.