DẪN CHỨNG và
PHÂN TÍCH NHỮNG SỰ KIỆN
ÐỂ THẤY
GIÁO CHỈ SỐ 9
KHÔNG DO
ÐỨC TĂNG THỐNG VIẾT
và
BAN HÀNH
(1)
Theo thời gian, mọi việc lắng đọng, từ từ mọi
người có thời giờ hơn để nghiền ngẫm lại những Thông Bạch, Giáo Chỉ, Quyết Ðịnh…
đã khám phá ra những hành động dối trá, khuynh loát
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại
(GHPGVNTNHN) của kẻ
“tiếm danh” Ðức Tăng Thống và Hòa Thượng
Quảng Ðộ, người đã ngụy tạo ra Giáo Chỉ Số 9, để đáp ứng mưu đồ chính trị cá
nhân và rồi đích thân kẻ “tiếm danh”
đó lại phải
“vác loa đi chữa cháy”.
Những Dẫn
Chứng Cụ Thể :
1.- Dẫn Chứng Thứ
Nhất :
Thượng tọa Minh Tuấn, thị giả của Hòa thượng Tăng thống Thích Huyền Quang,
cho biết : “Có
người từ Sàigon mang Giáo Chỉ ra Tu viện Nguyên Thiều, đi thẳng vào phòng Hòa
Thượng Huyền Quang và nói với Hòa Thượng hãy ký gấp Giáo Chỉ này để mang vô lại
Sàigon, chỉ trong vòng mấy phút. Hòa Thượng không kịp đọc, cũng không kịp hỏi
han gì cả. Người mang Giáo Chỉ nói : “Thời
gian cấp bách, hơn nữa tình hình không yên, xin Hòa Thượng thông cảm.”
Nói xong người ấy vội ra đi, trong khi Hòa Thượng Huyền Quang vẫn còn ngồi yên
đó.”
2.- Dẫn Chứng Thứ
Hai :
Thượng Tọa Ðồng Trí về thăm gia đình, đến
hầu Hòa thượng Tăng thống và trình bày những sự việc xảy ra từ khi Giáo Chỉ Số 9
ban hành, đã làm cho các GHTN hải ngoại tan vỡ. Khi nghe như vậy HT Huyền Quang
nói với TT Ðồng Trí :
“Kể
từ ngày tui làm Tăng thống đến nay, mọi việc điều hành GH đều giao cho HT Quảng
Ðộ. Tui đâu có viết hay ban hành Giáo Chỉ gì đâu ?”.
3.- Dẫn Chứng Thứ
Ba :
TT Quảng Bình về thăm HT Huyền Quang, cũng
trình bày sự tác hại của Giáo Chỉ Số 9 đối với các GHTN hải ngoại, để HT hiểu
tình hình Phật giáo hải ngoại hiện thời và xin ý kiến HT. Nghe vậy, HT Huyền
Quang làm thinh một hồi rồi nói : “Ðiều này nên vô Sàigon hỏi HT Quảng Ðộ
thì rõ hơn. Tui ở đây không có điện đài, báo chí nên không biết tin tức chi hết.
HT Quảng Ðộ biết nhiều tin tức hơn tui.”.
4.- Dẫn Chứng Thứ
Tư :
Không Có Giá Trị Thời Gian
Trong Giáo Chỉ Số 9, nhận
định thứ 6
(gạch - thứ 6) :
“-. Nhận định rằng những cuộc đàn áp liên
tục, ngày càng gia tăng của nhà cầm quyền CHXHCNVN,
đặc biệt gần đây đối với các Ban Ðại Diện GHPGVNTN tại
các tỉnh miền Nam
và miền Trung.
HƠN NỮA, ngày 16 âm lịch Đinh Hợi tức 28.8.2007, hầu hết hàng giáo
phẩm thuộc Ban Chỉ đạo Viện Hóa Đạo, từ Viện trưởng, Phó Viện trưởng đến đa số
các Tổng vụ trưởng bị các Ủy ban Nhân dân Phường mời đi làm việc....
Các cuộc cứu trợ thuần túy từ thiện xã
hội của Giáo hội
ĐÃ ĐƯỢC thực hiện công khai ngày 13.7 và 17.7 tại Saigon và ngày 23.8
tại Hà Nội...
Chiến dịch đàn áp, vu cáo và khủng bố tinh thần hiện nay đối với GHPGVNTN báo hiệu một cuộc bắt bớ, đàn áp nước lũ có thể
xẩy ra bất cứ lúc nào, bó buộc Giáo hội phải có biện pháp tự vệ cùng tiên liệu
đối phó với tình hình ;”
Qua bảy nhận định của Giáo Chỉ
Số 9 để từ đó Giáo Hội đưa đến quyết định :
“Hội đồng Lưỡng Viện đã triệu tập cuộc họp khẩn hôm
22.8.2007 để nghe báo cáo Phật sự Giáo hội trong và ngoài nước và tìm biện pháp
khai thông.”
Trong lúc vội vã để viết Giáo
Chỉ Số 9 một cách “cấp bách” hầu loại bỏ
“cấp kỳ” phần đông chư Tôn Ðức Tăng của
GHPGVNTNHN nên tinh thần người viết Giáo Chỉ Số 9 bị
“khủng hoảng”, không định tĩnh, sáng suốt. Do đó, người viết Giáo Chỉ Số
9 đã không nghĩ đến vấn đề khúc mắc của thời gian, vì thế thứ tự thời gian các
sự kiện bị đảo lộn trước thành sau và sau thành trước. Chúng ta thấy :
-. Ngày 28-8-2007, tại
Saigon : “HẦU HẾT các hàng Giáo Phẩm thuộc Ban Chỉ Ðạo của
Viện Hóa Ðạo
BỊ MỜI lên phường làm việc…Nhà nước trên toàn quốc tấn công, bôi nhọ,
vu cáo…”
Và :
-. Ngày
23-08-2007, tại Hà Nội :
“Cho cuộc
cứu trợ dân oan.”
Trong khi đó :
-. Ngày 22-8-2007, tại
chùa Giác Hoa : “Hội đồng Lưỡng Viện đã triệu tập
cuộc họp khẩn hôm 22.8.2007
để nghe báo cáo Phật sự Giáo hội trong và
ngoài nước và tìm biện pháp khai thông.”
Ba mốc thời gian cho thấy
người
“tiếm danh” viết Giáo
Chỉ Số 9 hoặc giả là thần tiên mới có thần thông ngoại hạng hoặc giả có bệnh
mộng du, viễn tưởng, đi trước thời gian bằng đôi hia bảy dặm hoặc đồng hồ thời
gian của ông quá “hiện đại” đi ngược thời
gian, để
hôm nay, ngày
22-8-2007,
họp để nghe báo cáo công việc
“ÐÔ
XẢY RA của ngày 28-08-2007 và ngày 23-08-2007 có hợp lý không ?
Công việc chưa xảy ra – tương
lai của MỘT ngày sau, 23-8-07, và SÁU
ngày sau 28-8-07, thì làm sao để nghe báo cáo, và tìm biện pháp khai thông? Họp
ngày 22-8-07 mà biết tương lai 28-8-07 : “…Những cuộc đàn áp liên tục, ngày càng gia tăng của nhà cầm
quyền CHXHCNVN,
đặc biệt gần đây đối với các Ban Ðại Diện…”
Khi nói “gần đây” thì ai cũng hiểu đó là sự việc đã xảy ra trong quá khứ
gần với hiện tại, 22-8-2007, chứ không phải tương lai gần. Vậy mà
: “HƠN NỮA, ngày 16 âm lịch Đinh Hợi tức 28.8.2007, hầu hết hàng giáo
phẩm thuộc Ban Chỉ đạo Viện Hóa Đạo, từ Viện trưởng, Phó Viện trưởng đến đa số
các Tổng vụ trưởng bị các Ủy ban Nhân dân Phường mời đi làm việc…”
nói
“hầu hết hàng Giáo Phẩm…” và “bị các Ủy ban Nhân
dân Phường mời đi làm việc” có nghĩa là sự việc đã xảy ra
rồi, nên giờ đây 22.8.07 mới có cuộc họp khẩn để đối phó tình hình. Ðằng này,
Giáo Chỉ Số 9 nói về sự việc
đã xảy ra và tìm biện pháp
tự vệ
trong thời gian chưa tới,
28.8.07 và 23.8.07.
Ba mốc thời gian trong Giáo
Chỉ Số 9 không hợp lý cho thấy những sự kiện diễn tiến trong Giáo Chỉ Số 9, được
viết trong lúc hoảng hốt, không định tĩnh chú tâm, sân hận u mê, vì thế không
còn sáng suốt để nhớ thời gian theo thứ tự từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại
đến tương lai, chứ không thể đi ngược chiều thời gian từ tương lai quay ngược
đến hiện tại và từ hiện tại quay ngược về quá khứ.
Văn phạm Việt
Nam
không có “thì quá khứ trong tương lai”.
Quá khứ :
“Nhận
định rằng những cuộc đàn áp liên tục, ngày càng gia Tăng…”
và
“Các Tổng vụ trưởng bị các Ủy ban Nhân dân Phường mời đi làm
việc…” Sự việc đã xảy
ra đối với thời gian hiện tại là ngày 22.8.07.
Hiện tại :
“Hội đồng Lưỡng Viện đã triệu tập cuộc
họp khẩn hôm 22.8.07 để nghe báo cáo Phật sự…” Thời
gian 22.8.07 đối với thời gian 28.8.07 và 23.8.07 là quá khứ.
Tương lai : “Cuộc họp khẩn
ngày 22.8.07 đối với sự việc chưa xảy ra trong tương lai 28.8.07 và 23.8.07. Vậy
thì sự kiện diễn tiến theo thời gian trong Giáo Chỉ Số 9 bị đảo lộn hoàn toàn.
Từ đó chúng ta suy tư, người viết Giáo Chỉ Số 9 là ai ?
Nếu là Ðức Tăng Thống nhìn thấy sự kiện
qua các nhận định trong Giáo Chỉ Số 9 để ban hành thì chắc chắn Ngài không thể
nào nhầm lẫn thứ tự ngày tháng được.
Vì Ngài có cái nhìn thấu triệt mọi sự việc xảy ra một cách tường tận chứ đâu có
sơ suất khiếm khuyết như thế.
Còn nếu không phải là Ðức
Tăng Thống viết thì theo như dẫn chứng thứ nhất, do một người ở trong Sàigon
mang ra rồi đưa cho Ðức Tăng Thống, và vội vã mang đi. Người mang Giáo Chỉ Số 9
từ Sàigon ra, TT Minh Tuấn giấu tên. Như vậy, người viết Giáo Chỉ, kẻ
“tiếm danh” Ðức Tăng Thống là ai
? Từ ngữ, chữ nghĩa quá quen thuộc
với ai đã từng thấy và nghe
“kẻ tiếm danh” viết và đọc các Nghị Quyết
trong những Ðại Hội Thường Niên, Khoáng Ðại của Giáo Hội, được phổ biến rộng rãi
khắp nơi qua các Thông Cáo Báo Chí… của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, và đã
có nhiều lần cư sĩ chúng ta khen ông viết hay.
5.- Dẫn Chứng Thứ
Năm :
Ðức Tăng Thống bị bao vây trong Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Ðịnh, ngày hai
thời gióng chuông cầu nguyện. Không có hồ sơ, tài liệu lưu trữ, không biết tin
tức để thẩm định sự việc một cách khách quan, không được tiếp xúc nhiều với thế
giới bên ngoài, thì có đâu mà biết để ra Giáo Chỉ :
7 điều nhận định, 8 điều căn cứ để chiếu
và 8 điều quyết định ? Phòng Thông Tin
Phật Giáo Quốc Tế do ông Ái và cô Ỷ Lan phụ trách đã ra Thông Cáo Báo Chí cho
biết là Ðức Tăng Thống bị 200 Công an Cộng sản bao vây – theo lời phúc trình của
HT Thiện Hạnh – thì Ngài căn cứ trên những Văn kiện nào, hồ sơ lưu nào để mà
chiếu, mà quyết định ? Phòng ngủ của
Ðức Tăng Thống chỉ là một căn phòng bé nhỏ, chứ có phải là Văn phòng của Viện
Tăng Thống ? Mời quý vị đọc quyển
“Phật Giáo Việt
Nam Biến Cố và Tư Liệu” để thấy rõ văn phong ý tứ của Ðức Tăng
Thống đã viết qua các Tuyên Cáo, Thông Bạch, Thư Chúc Mừng, Thông Bạch Ðặc Biệt,
Thông Tư…
6.- Dẫn Chứng Thứ
Sáu :
Không có tâm kính trọng của một người tu. Qua nhận định thứ tư
(gạch - thứ tư)
: “Nhận định rằng vì nhiều lý do nội tại
hay khách quan, vô tình hay cố ý, một số chư Tăng, Phật tử rời bỏ con đường cao
rộng của Chánh pháp, đem thân phục vụ thế quyền làm biến tướng Bát chánh đạo và
làm nghiêng ngửa Giáo hội;” Thật là hỗn xược, xấc láo,
“mục hạ vô nhân”,
căn bản Phật pháp cạn cợt không hiểu biết gì về tinh thần phương tiện của đạo
Phật : “Thật tế lý địa bất thọ nhất trần. Phương tiện môn trung bất
xả nhất pháp.” Như khi xưa Pháp Thuận Thiền sư giả làm ông lão
chèo đò đưa Lý Giác, Sứ Tàu, ở bến Sách Giang, Ngài đã dùng thơ văn làm phương
tiện ứng đối với sứ Tàu, để bảo vệ giang sơn gấm vóc cho quê hương đất nước qua
cơn chinh chiến ? và nhờ phương tiện Thiền Sư giả làm ông lão chèo đò đã đem lại
niềm tự hào cho dân tộc, khiến sứ giả nước Tàu ngạc nhiên kính phục, tôn phong
nước Nam ngang hàng với nước Tàu. Khi đã là phương tiện để cứu người, cứu đời,
cứu vật, cứu sự lầm than, chết chóc thì : “Phương
tiện thiện xảo từ bi lợi tế giả bất phạm.” Người viết Giáo Chỉ Số 9 này nên hiểu
cho. Phật pháp là thế đó, chứ Phật pháp không phải là ngôn từ biến tướng của
người làm chính trị xôi thịt, đã
“tiếm danh”
(ngôn ngữ của ông Ái) Ðức Tăng Thống để có lời lẽ thiếu
lễ độ với chúng Tăng và Phật tử. Chúng ta đã đọc qua các Tuyên Cáo, Thông Tư,
Thông Bạch đặc biệt của Ngài không thấy nơi nào có lời lẽ khinh miệt vô lễ đến
với chúng Tăng và Phật tử như lời lẽ trong nhận định này. Khi xưa, 1975, những
tháng ngày nghiệt ngã, áp bức tàn bạo của chế độ CS đối với Giáo Hội Thống Nhất,
mà Ðức Tăng Thống khi ấy là Tổng Thư ký hay quyền Viện trưởng Viện Hóa Ðạo, Ngài
vẫn không có lời trách cứ nặng nề, ngôn từ thiếu cung kính. Vì biết rằng cuộc
đời này là cõi
“Phàm Thánh đồng cư độ” người phàm và
bậc Thánh sống chung, nên luôn tỏ lòng kính trọng tất cả. Ðó cũng chính là giữ
gìn Phật tánh của mình được thanh tịnh. Có đâu như trong một Giáo Chỉ của Viện
Tăng Thống mà lời lẽ quá thô lậu, đầy ác tâm như phường bát nháo như thế :
“Một số chư Tăng, Phật tử rời bỏ con đường cao rộng của
chánh pháp, đem thân phục vụ thế quyền làm biến tướng bát chánh đạo và làm
nghiêng ngửa
Giáo Hội.” Người viết câu văn này đã lộ ác tâm, ác ý, tạo thành một ác nghiệp hiện
đời. Vì có ác tâm mới sinh ra ác khẩu và ác hạnh. Do vậy, nhận định này là kết
quả của một ác tâm, tựu thành hành động ác đối với chúng Tăng và Phật tử. Từ đó,
chúng ta hiểu Ðức Tăng Thống không thể có ác tâm, ác khẩu, ác hạnh đối với chúng
Tăng và Phật tử.
7.- Dẫn Chứng Thứ
Bảy :
Bi quan và ích kỷ trên tinh thần hoằng pháp độ sanh.
Qua nhận định thứ 5
(gạch - thứ năm):
“Nhận định rằng sự phát triển bền vững của nhân loại
ngày nay là cuộc phát triển tổng hợp và đồng bộ trên các lĩnh vực kinh tế, xã
hội, chính trị văn hóa, giáo dục, môi sinh ; đạo Phật chỉ có thể phục vụ hữu
hiệu con người trong một xã hội tự do, tôn trọng nhân quyền và dân chủ…”
Người xưa thường nói :
“Xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo”
còn nhận định này thì : “Xả
bần cầu phú, xả đạo cầu thân.” Giáo Chỉ Số 9 viết :
“Ðạo Phật chỉ có thể phục vụ hữu hiệu con người
trong một xã hội tự do tôn trọng nhân quyền và dân chủ.” Nếu nhìn
theo nhận định này thì đạo Phật quá ư là bi quan và tiêu cực. Ðạo Phật không có
tinh thần, lý tưởng dấn thân để hóa độ. Đạo Phật chỉ phục vụ cho con người trong
cảnh thanh bình thịnh trị mới hữu hiệu, còn vào thời loạn ly, vào nơi đau khổ,
lầm than thì đạo Phật phục vụ không hữu hiệu ? Như
vậy Bồ Tát Ðịa Tạng nguyện xuống địa ngục – nơi nhiều đau khổ, không có tự do,
không tôn trọng nhân quyền dân chủ nơi ngục tốt, nơi ngưu đầu mã diện, nơi cột
đồng cháy, vạc dầu sôi…? Người viết Giáo
Chỉ Số 9 này chưa một lần đến các ngôi chùa Úc Ðại Lợi và Tân Tây Lan để nghe
quý Thầy công phu, qua lời tựa Chú Lăng Nghiêm :
“Phụng thỉnh Thế Tôn vị chứng minh. Ngũ
trược ác thế thệ tiên nhập. Như nhất chúng sinh vị thành Phật. Chung bất ư thử
thủ nê hoàn.” Đó là lời phát nguyện của Tôn Giả A Nan. Cuộc đời khổ Ðức
Phật mới thị hiện để cứu khổ, cảnh đời lầm than Ðức Phật mới thuyết pháp chỉ dạy
cho hết lầm than. Chứ nếu cuộc đời này như Giáo Chỉ nói :
“Đạo Phật chỉ có thể phục vụ hữu hiệu
con người trong một xã hội tự do, tôn trọng nhân quyền và dân chủ.” thì đạo Phật đâu có hiện hữu giữa
cảnh đời này nữa, vì xã hội đã có tự do, nhân quyền, dân chủ, có nghĩa là xã hội
không còn những bất công, nô lệ, xiềng xích, áp bức, một thiên đường giữa nhân
gian, vai trò của đạo Phật không còn cần thiết trong thế giới thiên đường trần
gian này. Bồ Tát Duy Ma Cật nói : “Vì
chúng sinh bệnh cho nên tôi bệnh”
Chúng ta đã thường nghe : “Nơi nào còn khổ đau thì nơi đó đạo Phật còn hiện hữu.” Nơi nào có tiếng kêu cứu trong cảnh
lầm than thì nơi đó Bồ Tát thị hiện để cứu khổ. Lòng từ bi được thể hiện qua sự
cứu độ của Bồ Tát Quán Thế Âm. Hay như Tôn giả Phú Lâu Na bạch Phật, xin đi đến
nước Du Lô Na ở phương Tây để hóa độ. Nghe vậy, Ðức Phật bảo :
“Này Phú Lâu Na, dân xứ Du Lô Na họ hung dữ, khi thấy con đến
nước họ, họ sẽ dùng lời chửi mắng con. - Bạch Ðức Thế Tôn, như vậy dân xứ Du Lô
Na hãy còn hiền thiện, mà họ chưa lấy sỏi đá quăng ném con. - Nếu họ lấy ngói
sỏi quăng ném con thì sao ? - Bạch Ðức
Thế Tôn, họ hãy còn hiền thiện, vì họ chưa lấy cây gậy đánh đập con. - Nếu như
họ lấy cây gậy đánh đập con thì sao ? -
Bạch Ðức Thế Tôn, họ hãy còn hiền thiện, vì họ chưa lấy giáo mác đâm chém con. -
Nếu họ lấy giáo mác đâm chém con thì sao ? -
Bạch Ðức Thế Tôn, con sẽ cám ơn họ, vì nhờ họ mà con kết thúc cái thân già cả ốm
yếu, nhiều sự khổ đau bất tịnh này.”
Tinh thần đạo Phật phục vụ
cho con người là như thế đó, không như nhận định của Giáo Chỉ Số 9, chối bỏ
trách nhiệm dấn thân hy sinh, mà chỉ có ích kỷ cho riêng mình như Nhận định thứ
5
(gạch - thứ 5) của Giáo
Chỉ Số 9 : “Nhận định rằng sự phát triển bền vững của
nhân loại ngày nay là cuộc phát triển tổng hợp và đồng bộ trên các lĩnh vực kinh
tế, xã hội, chính trị, văn hóa, giáo dục, môi sinh; đạo Phật chỉ có thể phục vụ
hữu hiệu con người trong một xã hội tự do, tôn trọng nhân quyền và dân chủ. Nhận
định này làm nền tảng cho yêu sách phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội
Phật giáo Việt Nam
Thống nhất tại Việt Nam.”
Pháp lý của GH, như Hòa
thượng Huyền Quang nói : “Pháp lý của Giáo Hội là bề dày 2000 năm lịch sử, tài sản của
Giáo Hội là từ cao nguyên đến hải đảo, từ thành thị đến nông thôn, nhân lực của
Giáo Hội là từ Cụ già đến em bé.” Thế mà Giáo Chỉ lại nhận
định : “đạo Phật chỉ có thể phục vụ hữu hiệu con người trong một xã
hội tự do, tôn trọng nhân quyền và dân chủ. Nhận định này làm nền tảng cho yêu
sách phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Việt Nam.” Người viết Giáo Chỉ thiếu hiểu biết
về pháp lý của PGVN đã có một dòng lịch sử hơn 2000 năm qua. Viết như vậy chẳng
khác nào một người đã thọ 2000 tuổi, bỗng nhiên nổi hứng đi xin giấy tờ làm Khai
Sinh, và tự hỏi mình sinh khi nào ?
Thật tội nghiệp cho một kiến
thức nông cạn, thiển cận. Thật tội nghiệp cho cái giá trị của Giáo Chỉ bị người
đời mượn danh Ðức Tăng Thống ngụy tạo, bày trò làm ô danh Giáo Hội Phật Giáo
Thống Nhất, ô danh Phật giáo Việt Nam, gieo tiếng ác cho nhị vị Hòa thượng. Ðây
là một việc làm đầy ác tâm, tàn độc, đã
“tiếm danh”, bán đứng quý Ngài một cách mê muội, để thỏa mãn
những sân hận cá nhân mà không nghĩ đến những hậu quả tác hại đến mọi sinh hoạt
của Giáo Hội Thống Nhất nói riêng và Phật Giáo Việt Nam nói chung. Lịch sử và
người đời sau chỉ căn cứ trên chữ ký của quý Ngài trong Giáo Chỉ Số 9 mà luận
công hay tội chứ có biết đâu kẻ “tiếm danh” Ðức Tăng Thống là tác
giả những bản văn đó. Ðúng là
“Bán trời không mời thiên lôi”
như người xưa thường nói.
Bổn phận của mọi người con
Phật là phải làm sáng tỏ những việc làm khuất lấp của những kẻ ném đá dấu tay để
khỏi lem luốc đến quý Ngài, lem luốc đến Giáo Hội cũng như lịch sử Phật giáo
Việt Nam.
8.- Dẫn
Chứng Thứ Tám :
Hoang tưởng, mộng tưởng hay loạn tưởng ?
Ðọc đến nhận định thứ 6
(gạch - thứ 6), người đọc
tối tăm mặt mày, có cảm giác là GHTN sắp chết đến nơi. Trong lúc tâm tư hoảng
loạn, người viết Giáo Chỉ Số 9 đã cố tình khích động, cố tình tạo nên hoàn cảnh
bi đát cho GH để gây xúc động, căm phẫn cho người đọc, với thâm ý xách động quần
chúng trút tất cả những căm phẫn này cho chư Tăng hải ngoại
(các thành viên GHTN đã bị
“về vườn”
bởi Giáo Chỉ Số 9) : “Trong lúc Giáo Hội quê nhà đang gặp hoạn nạn mà
ở hải ngoại lại
“chệch hướng”.
Nhớ lại khi xưa, các năm 77,
78, 80, 85., chư Tôn Hòa thượng – HT Thiện Minh bị tù tội, Ngài đoán trước sự
việc sẽ xẩy ra nên bình thản chuẩn bị sẵn “hành trang đi tù” với một cái túi,
trong ấy chỉ có một bộ áo quần, một quyển kinh, một ít vật dụng cá nhân, để sẵn
sàng vào tù bất cứ lúc nào. Ngài đã không nao núng run sợ, mất tinh thần như
nhận định trên của Giáo Chỉ Số 9. Ngài bình bĩnh trước mọi áp bức của nhà cầm
quyền CSVN, cho dẫu bị đánh đập đến tử vong. Đó chính là tâm kim cương, tâm định
tĩnh, tâm thanh tịnh của những bậc chân tu thật đức. Hòa thượng Huyền Quang vào
thời ấy thì sao ? Thời gian mà sinh mệnh của quý HT, của GH như chỉ mành treo
chuông, như ngọn đèn trước gió, có thể đứt và tắt bất cứ khi nào, nhưng Hòa
thượng đâu có hoảng hốt bấn loạn khi viết một văn kiện nào của Giáo Hội giống
như Giáo Chỉ Số 9 mang tên Ngài. Hòa thượng điềm tĩnh, nhận định kỹ lưỡng những
sự việc xảy ra với lời lẽ đôn hậu, nhu mì, khi nói chuyện với bất cứ ai, dù
người đó là kẻ có ý muốn tước bỏ sự sống của Ngài, HT cũng vẫn không nao núng.
Đó chính là sự khác biệt giữa tâm của người tu hành chân thật và tâm của kẻ phàm
tục trí trá, u mê.
Chúng ta hãy cùng đọc một văn
kiện, đề ngày 17/3/1977 gởi cho Phạm Văn Ðồng, Thủ tướng nhà nước CHXHCNVN, của
Hòa thượng Huyền Quang, khi ấy Ngài là Phó Viện trưởng Viện Hóa Ðạo :
-.
“Thưa Thủ tướng, từ ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đã xảy ra
nhiều vụ vi phạm chánh sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của chính phủ do các cấp
cơ sở gây nên đối với Phật giáo tại miền Nam.
Giáo Hội chúng tôi đã phản ảnh
tất cả những sự kiện này lên Ủy ban Quân Quản Sài Gòn Gia Ðịnh, Chánh phủ Cách
mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam trước đây và Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay xin can thiệp để ngăn chặn những trường hợp như vậy. Nhưng tình
trạng không những không cải thiện mà còn có chiều hướng phát triển thêm.
Bởi thế, hôm nay, Giáo Hội
chúng tôi kính gởi đến Thủ tướng và Ban Thanh Tra Trung Ương tập tài liệu ghi
những sự kiện xảy ra từ gần hai năm qua đối với Phật giáo để Thủ tướng có biện
pháp thích nghi đối với các cấp chính quyền cơ sở để những việc tương tự đừng
tái diễn trong tương lai, hầu tạo niềm tin của tín đồ Phật giáo đối với các
chính sách của chính phủ và giữ vững tình đoàn kết dân tộc.”
(Phật Giáo Việt Nam - Biến Cố và Tư
Liệu, 1975-1995 - tr. 101)
Hoặc, Thông Bạch HT Huyền
Quang gởi đến các thành viên của Giáo Hội :
-.
“Kính thưa quý Liệt vị, đạo Phật đã cùng với dân tộc Việt Nam xây dựng
đất nước, phụng sự quê hương hơn hai ngàn năm lịch sử.
Trong suốt thời gian ấy, đạo
Phật đã hưng vong trong sự hưng vong của quốc gia dân tộc, đạo Phật đã cùng vinh
nhục trong những bước ngoặc thăng trầm của lịch sử dân tộc Việt Nam. Đạo Phật
Việt Nam đã được nuôi dưỡng bằng những chất liệu thuần phác và quật cường của
dân tộc Việt Nam, và dân tộc Việt Nam cũng đã được nuôi dưỡng bằng những chất
liệu Từ Bi và Trí Tuệ của đạo Phật Việt Nam.
Và trên thực tế, lịch sử dân
tộc Việt Nam đã chứng minh rằng khi nào quốc gia hưng thịnh thì Ðạo pháp vinh
quang, chùa chiền là trung tâm tu tập, thực nghiệm sâu xa về đời sống tâm linh,
nơi duy trì huấn luyện và vạch hướng đạo đức cho nhân quần xã hội, nơi trung tâm
văn hóa gạn lọc những tư tưởng đồi trụy, ngoại lai, phi nhân bản, thẩm định lại
giá trị và ý nghĩa cuộc sống, dẫn đạo cho mọi sinh hoạt và sáng tác của nhân
sinh, hướng đến tinh thần vị tha vô ngã, và chùa là nơi trung tâm sinh hoạt tín
ngưỡng thuần khiết của dân tộc Việt Nam…
Hơn mười bảy năm qua, chính
quyền nhìn nền tín ngưỡng của dân tộc ta theo chuẩn mực phiến diện, nên đã có
những chính sách bao cấp tôn giáo, không phù hợp với nguyện vọng của quảng đại
quần chúng Việt Nam.
Quý vị lãnh đạo chính quyền muốn biến tổ chức tôn giáo thành những công cụ tuyên
truyền cho chính trị…
Và mười bảy năm qua, những
Tăng Ni Phật tử Việt Nam sống lưu lạc nơi xứ người đã biết quy tụ lại với nhau,
un đúc ý chí, nuôi dưỡng tình cảm hướng về quê hương phục vụ Ðạo Pháp và Dân
Tộc.
Tăng Ni Phật tử Việt Nam đã
từng hy sinh xương máu, hiện đang và sẽ tiếp tục, quyết không để những nhát rìu
thời đại bửa nát lên truyền thống cao đẹp của Phật Giáo và Dân Tộc Việt Nam mà
Lịch Ðại Tổ Sư, các vị Phật tử anh hùng tiền bối, chư anh linh Thánh Tử Ðạo đã
dày công xây dựng.” (sđd,
tr 133)
Ngay sau biến cố 75, người
dân miền Nam thấy rõ bản chất của chế độ Cộng sản Việt Nam tàn ác, dã man, chà
đạp và phá đổ tất cả những gì thuộc đời sống tâm linh, của gia tài Tổ tiên, nòi
giống, của tự do, dân chủ nhân quyền, của tánh mạng cao quý của con người. Thời
điểm đó là thời điểm cao độ đàn áp dã man, hủy hoại chùa chiền, giật sập các
tượng đài chư Phật, chư Bồ Tát, cưỡng đoạt các cơ sở chùa chiền, văn hóa, từ
thiện xã hội, hủy hoại kinh sách của Giáo Hội, kho tàng sách vở văn hóa miền
Nam, bách hại người dân và các tu sĩ. Thế nhưng, Hòa thượng Huyền Quang với tâm
lượng của một vị chân tu, khi ban hành các Thông Tư, Tuyên Cáo… Ngài đâu hề sử
dụng những lời lẽ hung hãn, thô lậu với những người đã có những hành động tàn
độc, áp bức, và bắn giết mình đâu ? Trong
khi đó giá trị cao quý từ một Giáo Chỉ của Viện Tăng Thống là cơ quan lãnh đạo
tối cao của Tăng già là vị đứng đầu của một cộng đồng Tăng mà ban hành Giáo Chỉ
lại có lời lẽ thiếu thận trọng, khi dễ, xem thường miệt thị chư Tăng :
“Vì nhiều lý do nội tại hay khách quan,
vô tình hay cố ý, một số chư Tăng, Phật tử rời bỏ con đường cao rộng của Chánh
pháp, đem thân phục vụ thế quyền làm biến tướng Bát chánh đạo và làm nghiêng
ngửa Giáo hội ;”
Kính mời toàn thể quý Phật tử
trên thế giới cùng đọc một đoạn của nhận định thứ 6
(gạch - thứ 6) để xem có
phải là văn phong của Hòa thượng Tăng Thống Thích Huyền Quang hay không ? :
“Chiến dịch đàn áp, vu cáo và khủng bố
tinh thần hiện nay đối với GHPGVNTN báo hiệu một cuộc bắt bớ, đàn áp nước lũ có thể
xẩy ra bất cứ lúc nào, bó buộc Giáo hội phải có biện pháp tự vệ cùng tiên liệu
đối phó với tình hình ;”
Quả là lời lẽ của một người
làm chính trị thiếu bản lãnh, dễ dàng mất bình tĩnh theo trí tưởng tượng của
mình. Còn nếu có thật thì mới có
“vu cáo và khủng bố tinh thần” và
chỉ mới “báo hiệu một cuộc bắt bớ”
và “có thể xảy ra bất cứ lúc nào”.
Tất cả đều là giả thuyết chưa xảy ra sự thật. Vì mới có
“khủng bố tinh thần” mà đã hoảng hốt, mới có
“báo hiệu” và “có thể xảy ra” mà đã lanh chân phóng chạy trước. Ðây có
phải là tâm tư suy nghĩ và bản lãnh thống suất Tăng chúng của Ðức Tăng Thống
Thích Huyền Quang ?
Là bậc trượng phu xuất trần
vi thượng sỹ, xem cái chết nhẹ tợ lông hồng, xem sự thành bại của thế gian như
mây tan hợp. Bao lần Ngài đã trải qua những thăng trầm, áp bức của thế gian
nhưng vẫn bình tâm, định tĩnh, nhất tâm đòi hỏi cho bằng được sự tự do dân chủ,
nhân quyền, tự do tôn giáo và sự phục hoạt GHTN một cách kiên định, vững chắc,
sáng suốt và can đảm, không hề nhút nhát, lo sợ, để đánh mất lòng tự tin mà gây
hoang mang rối loạn. Vững chãi lèo lái con thuyền GH qua bao sóng gió, có đâu mà
hốt hoảng, bấn loạn như ai kia đã hấp tấp, vội vã đánh phèng la :
“bó buộc Giáo Hội phải có biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó với tình hình”.
Ðây là một việc làm đầy ác ý
thâm độc! đã tiếm danh Ðức Tăng Thống lại còn tung hỏa mù gây khủng hoảng cho
mọi giới. Ðầu óc tưởng tượng phong phú của người viết Giáo Chỉ Số 9 làm mọi
người liên tưởng đến “Trận hỏa công trên sông Xích Bích” của truyện Tàu, Tam
Quốc Chí. Thật là tội nghiệp ! Ai
“tiếm danh”
của Ðức Tăng Thống? và ai đã tạo ra cảnh “ly khai” của các GHTN hải ngoại hôm
nay ? Từ dẫn chứng này, thì mọi người đã
thấy rõ Giáo Chỉ Số 9 không phải do Ðức Tăng Thống Thích Huyền Quang viết và ban
hành ?
Như đã nói ở trên :
“Người viết Giáo Chỉ mượn danh và “tiếm
danh” Ðức Tăng Thống, bày trò khủng bố tinh thần người dân để làm ô danh Giáo
Hội và gieo tiếng ác cho nhị vị Hòa thượng. Cố tình khích động, gây căm phẫn cho
người đọc, với thâm ý xách động quần chúng trút tất cả những căm phẫn này cho
chư Tăng hải ngoại
(các thành viên GHTN đã bị
“về vườn” bởi Giáo Chỉ Số 9) : “Trong lúc Giáo Hội quê
nhà đang gặp hoạn nạn mà ở hải ngoại lại “chệch hướng”.
9.- Dẫn Chứng Thứ
Chín :
Sự vu khống, chụp mũ của một người thiếu lương tâm, đạo đức?
Qua nhận định thứ 7
(gạch - thứ bảy) người
đọc sẽ nhìn thấy cái tâm bất chánh với lời lẽ vu khống, chụp mũ đến Chư Tăng,
Phật tử : “…một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải
ngoại…”
“phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại”
là ai sao trong Giáo Chỉ không nêu rõ để tìm cách
“tiên liệu”
mà
“đối phó” tránh bị
“gây phân hóa, tạo ly gián”
cũng như
“biến tướng chủ trương”
và
“âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội
trên địa bàn quốc tế.”?
Rõ ràng là chính những điều
nhận định mộng tưởng và mơ hồ này đã tạo nên sự nghi ngờ, “phân hóa, ly gián”
cho người khác. Ðây là âm mưu của người viết Giáo Chỉ Số 9. Nếu ai không tinh tế
nhận định để thấy, thì dễ dàng bị sập bẫy, hùa theo ác ý của người viết mà đập
chết người khác. Ðây không phải là ngôn ngữ và tâm lượng của Ðức Tăng Thống.
Chưa hết, từ 7 nhận định đưa
đến đề xuất 9 dẫn chứng, mọi người đã thấy một cách quá rõ ràng, những điều phi
lý, trái với sự thật; với chủ trương phá hòa hợp Tăng già, nhằm đưa đến tình
trạng phân hóa và tiêu vong GH. Xin được nhắc lại một lần nữa, phi lý ở chỗ là :
“Triệu tập cuộc họp khẩn 22.8.2007 để nghe báo cáo Phật sự
“đã thực hiện” của ngày 23.8.07
(sau ngày họp một ngày) đi cứu trợ vật chất cho dân oan và ngày 28.8.07(sau ngày họp khẩn sáu ngày),
Ban Chỉ đạo Viện Hóa Đạo, từ Viện trưởng, Phó Viện
trưởng đến đa số các Tổng vụ trưởng bị các Ủy ban Nhân dân Phường mời đi làm
việc…”. Con số, ngày
giờ của Giáo Chỉ như vậy - loạn tưởng - thì làm sao tinh thần có đủ sáng suốt mà
“tìm biện pháp khai thông” ? Con số ngày
giờ viết còn không đúng, làm sao có thể “tiên liệu”, làm sao có thể “đối phó”
với ai ? Những mâu thuẫn ngày tháng của
Giáo Chỉ Số 9 đã tự nó tiêu hủy chính nó, tự nó đưa lên giàn lửa đốt cháy bởi
chính nó.
Ðể kết luận 7 nhận định được
gọi là “cơ bản” hay hoang đường, giả tưởng? Vì
bấn loạn, mộng tưởng mà người viết một câu văn 2 vế mà chỉ có một ý :
“Phát xuất từ 7 nhận định cơ bản trên, và
trước tình hình cấp cứu hiện tại…” vì có tình hình cấp cứu hiện tại mà có 7 nhận
định cơ bản. Vậy 7 nhận định cơ bản và tình hình cấp cứu hiện tại chỉ là một mà
không phải là hai vấn đề, vì thế không thể có chữ “và” và “dấu phẩy”. Ví dụ :
tôi và anh, núi non và biển cả. Ðó là trí
tuệ của người viết Giáo Chỉ, hay là một âm mưu thao túng, hủy diệt ?
Ðể thấy rõ hơn sự thao túng đó “tìm biện
pháp khai thông” “Hội Ðồng Lưỡng Viện đã triệu tập cuộc họp khẩn hôm 22.8.07 để
nghe báo cáo Phật sự Giáo Hội trong và ngoài nước.” Ở trong nước ai là người
tham dự cuộc họp khẩn ngày 22-8-2007 để nghe báo cáo Phật sự. Chắc một mình Hòa
thượng Quảng Ðộ, có lẽ có thêm nữa chắc thầy Không Tánh. Và ai là người báo cáo
Phật sự ? Trong nước là thầy Thiện Hạnh,
chánh Thư Ký Viện Tăng Thống, viết phúc trình gian dối, đầy ác ý để trình đến
Viện Hóa Ðạo thẩm tường. Ngoài nước ai là người viết bản báo cáo Phật sự về các
Giáo Hội Thống Nhất hải ngoại ? Vì sự báo cáo của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc
Tế này mà Giáo Chỉ Số 9 ra đời, để gạt bỏ chư Tôn Ðức Tăng không thuận theo kẻ
“tiếm danh”. Sở dĩ nói
như vậy là vì các thành viên Viện Hóa Ðạo cũ, hay nhân sự của Hội Ðồng Ðiều Hành
GHPGVNTNHN tại Hoa Kỳ, phần lớn hoàn toàn không hay biết gì về cuộc họp khẩn
ngày 22-8-2007 của Hội Ðồng Lưỡng Viện trong nước, cũng như chẳng ai hay biết gì
về những bản báo cáo Phật sự ở ngoài nước. Ðiều này chứng tỏ, chỉ có một số nhỏ
thành viên của Giáo Hội tự tung tự tác, thao túng Giáo Hội cả trong lẫn ngoài
nước.
Và cuối cùng 3 câu kết của 7
nhận định : “Tiếp thu các đề xuất thù ứng với tình
hình của Giáo hội trong giai đoạn mới, nay ban hành Giáo chỉ thành lập Văn phòng
II Viện Hóa Đạo để truyền đạt chủ trương, đường lối và hoạt động của Giáo hội
tại hải ngoại và trên trường quốc tế, mặt khác nối tiếp nhiệm vụ và hoạt động
của Giáo hội gặp khi Viện Hóa Đạo trong nước lâm tình cảnh khó khăn.”
Các nhận định trên nghe qua
có vẻ dữ dằn, hung hãn, GHTN sắp hấp hối “mời đi làm việc”, “một cuộc bắt bớ”,
“đàn áp nước lũ”, “biện pháp tự vệ”, “tiên liệu đối phó”, “phần tử cơ hội”, “gây
phân hóa”, “tạo ly gián”, “biến tướng chủ trương”, “âm mưu dập tắt tiếng nói…”
toàn là những danh từ “đao to búa lớn” tạo cho người đọc có cảm giác như người
bị dây thòng lọng thắt cổ, ấy thế mà đến câu kết thì “Khi Viện Hóa Ðạo trong
nước lâm tình cảnh khó khăn”. Thả lỏng một câu nhẹ nhàng buông xuôi. Chỉ “Tình
cảnh khó khăn” ?
Nếu chỉ là để giải quyết sự khó khăn khi
Viện Hóa Ðạo gặp phải thì có gì mà phải ra Giáo Chỉ thành lập Văn Phòng II Viện
Hóa Ðạo. Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo đã có, đã thành lập từ năm 1992 rồi, thì tại
sao hôm nay, ngày 8 tháng 9 năm 2007 dương lịch lại ban hành Giáo Chỉ thành lập
Văn Phòng II nữa ?
Vậy Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo
đã được thành lập năm 1992, từ Ðại Hội Thống Nhất Giáo Hội tại Hoa Kỳ thì sao ?
Tại sao có việc làm chòng chéo lên nhau ? Cái
này chưa giải tán, chưa bãi nhiệm lại có cái thứ hai ra đời ?
Giáo Hội giải tán Văn Phòng II cũ để thành lập Văn Phòng II mới, có thông
báo họp bàn với các thành viên Văn Phòng II cũ không ?
Chỉ một vài cá nhân trong Văn Phòng II cũ
khuynh loát, tự tung tự tác đã tự ý quyết định, sa thải người này, công cử người
kia theo ý hướng riêng tư. Trong khi đó, chư Tăng của Văn Phòng II cũ bị sa
thải, loại trừ mà hoàn toàn không hề hay biết lý do bị sa thải, cũng như không
hề được hỏi ý kiến. Ðây chính là những hành động gian trá đầy ác tâm chưa từng
có trong dòng lịch sử Phật Giáo Việt
Nam, giữa chư Tăng với chư Tăng. Ai là người
chịu trách nhiệm về những bản văn này? Phải chăng người ký tên ban hành Giáo Chỉ
và Thông Bạch Hướng Dẫn…? Còn những kẻ núp bóng, mạo danh,
“tiếm danh” thì ung dung biến mất. Dầu muốn dầu không, Hòa thượng
Chủ tịch Thích Hộ Giác cũng liên đới chịu trách nhiệm trước lịch sử về những sự
kiện đã xảy ra cho Giáo Hội Thống Nhất Hải Ngoại. Liệu Hòa thượng có biết những
điều này chăng mà Ngài lại im lặng đồng lõa với những kẻ gây rối cho GHTN hải
ngoại ?
Bảy nhận định của Giáo Chỉ
được trình bày qua
9 dẫn chứng để thấy ai là
tác giả, ai không là tác giả mà lại còn bị “tiếm danh”, lợi dụng, qua mặt Ðức
Tăng Thống. Tiếp đến là
8 điều tham chiếu,
(điều này không cần bàn)
để đưa đến
8 điều Quyết Định.
Ðọc Quyết Ðịnh điều
“1.1 Phát huy Phật giáo Việt Nam trên thế giới để đóng góp phần mình cho nền hòa
bình nhân loại, liên hữu với các tổ chức Phật giáo năm châu củng cố cơ sở Phật
giáo quốc tế, liên hữu huynh đệ và thông cảm với các tôn giáo bạn, các tổ chức
hòa bình, nhân đạo, văn hóa, xã hội trên thế giới ;”
Người viết phác họa ra một
cảnh trí nguy nga, tráng lệ, một khung trời lý tưởng, mộng mơ cho người đọc cảm
thấy hào hứng, rồi lăn ra ngất xỉu trước khung trời lý tưởng ấy :
1.- Phát huy Phật giáo
Việt
Nam
trên thế giới để đóng góp phần mình cho nền hòa bình nhân loại.
2.-
Liên hữu với các tổ chức Phật giáo năm châu củng cố cơ sở Phật giáo quốc
tế.
3.- Liên hữu huynh đệ
và thông cảm với các tôn giáo bạn, các tổ chức hòa bình, nhân đạo, văn hóa, xã
hội trên thế giới.
Qua 3 mục tiêu của điều 1.1,
mọi người đều thấy, “Phát huy Phật giáo Việt Nam trên thế giới” thì chưa tỏ mà
đã thấy sự đổ vỡ, ly tan của các GHTN hải ngoại, kể từ ngày Giáo Chỉ Số 9 được
ban hành từ Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế. Và “đóng góp phần mình cho nền
hòa bình nhân loại.” Trong nội bộ GHTN đã có “hòa bình” chưa mà đòi “hòa bình
nhân loại” ? Khổng Tử nói muốn bình thiên hạ thì trước phải :
“Thành
ý, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Các cận
sự viên của Hòa thượng Viện trưởng Thích Quảng Ðộ đã có thành ý, chánh tâm chưa
? Hay là chỉ có tà tâm, ác ý tiêu diệt
những ai không đồng lòng theo ác ý và tà tâm của mình qua những bài viết :
“Từ Thân Hữu Già Lam đến Thân Hữu Già
Hồ… của Thích Chánh Hạnh –
Canada. Tôn Giáo Hòa Hợp XHCNVN… của
Taiwan, 2007 – Thích Tánh Hải. Tu Hành Thuần
Túy XHCH Hay Bức Tử Ôn Già Lam… của Thích Tỉnh Thức – Germany, 2007.”
Và còn nhiều những bài viết giả danh khác nữa, để chửi bới, vu khống, mạ lỵ,
chụp mũ CS… việc làm như vậy, lời nói như vậy thì có
“Phát huy Phật giáo Việt Nam trên thế giới để đóng góp phần mình cho nền hòa
bình nhân loại…” ? Hay ác ý tạo chiến tranh nội
bộ GHTN? Gây cảnh phân ly, tan nát giữa chư Tăng và Phật tử ? Ðể thấy cảnh nồi
da xáo thịt, huynh đệ tương tàn ? Hòa bình ở đâu kể từ ngày Giáo Chỉ Số 9 ra đời
? Chỉ thấy có chiến tranh bằng miệng lưỡi, bằng chữ nghĩa hạ đẳng không thôi.
Qua phần 2 của điều 1.1
“Liên hữu với các tổ chức Phật giáo năm châu củng cố cơ sở Phật giáo quốc tế.” Phật giáo năm châu là Phật giáo nào ?
Phải chăng là các tổ chức Phật giáo Miến
Ðiện, Tây Tạng, Ðài Loan, Nhật Bản… Hay là GHTN của các Châu lục ?
Nếu là của các quốc gia Phật giáo trên
thế giới thì quả là một tham vọng viễn tưởng mông lung, không có thực khi nhìn
lại khả năng của mình chỉ như hạt bụi. Còn nếu là của GHTN, của Tăng Ni, Phật tử
Việt Nam hải ngoại thì đó là điều trí trá, lừa bịp Phật tử. Vì rằng, hiện nay,
các cận sự viên của Hòa thượng Quảng Ðộ đang thao túng, lộng quyền, xua đuổi chư
Tăng Ni, Phật tử thành viên của Giáo Hội, thì chuyện “liên hữu” ở đâu mà có ?
Thực tế cho thấy các Giáo Hội Hoa Kỳ, Canada, Úc Ðại
Lợi và Tân Tây Lan … do Giáo Chỉ Số 9 và Thông Bạch Hướng Dẫn… làm cho tan nát
như tương. Tội lỗi này ai là người gánh chịu ? Còn
việc “củng cố cơ sở Phật giáo quốc tế” là cơ sở nào ?
Cơ sở Quê Mẹ hay Phòng Thông Tin Phật
giáo Quốc Tế, do ông Ái làm Giám Ðốc ? Nếu
là của Quê Mẹ và Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế thì đây là một tham vọng đã
hiển lộ. Lợi dụng công sức của chư Tăng Ni Phật tử “phát huy Phật tử Việt Nam
trên thế giới” để “củng cố cơ sở Phật giáo trên thế giới” của ông Võ Văn Ái.
Ðiều này đã thấy rõ trong những năm qua, không một Ðại Hội Thường Niên nào, mà
Hòa thượng Hộ Giác không kêu gọi các thành viên GH tiếp tay đóng góp tiền bạc
hàng tháng, hàng năm cho Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế.
Còn nếu “cơ sở Phật giáo quốc tế” là các quốc gia Phật
giáo bạn trên thế giới như đã nói ở trên thì thật là đại ngôn, vì Giáo Hội Thống
Nhất ngân quỹ được bao lăm mà đòi “liên hữu” để “củng cố cơ sở Phật giáo quốc
tế” bạn ? Ðến hôm nay, trải qua
hai lần dâu biển,
“Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo cũ và mới”
vẫn còn phải mượn chùa Diệu Pháp để đặt Văn Phòng. Đúng là ngoa ngữ hão huyền,
lừa mị người nhẹ dạ.
Trong phần 3 của điều 1.1
viết : “Liên hữu huynh đệ”, đọc 4 chữ này
thấy có tình có nghĩa làm sao “chị ngã em nâng” ?
hay là vác dao chặt tỉa hết cành nhánh của cây đại thọ GHTN hải ngoại,
giờ chỉ còn một thân trơ trụi ? như lời
của HT Tâm Châu nói trong
“Tâm Thư Ðạo Tình, Văn Thư số 1413/VP/TT
” viết từ Tổ Ðình Từ Quang, ngày 15 htáng 02 năm 2008: “Mấy tháng trước đây,
nhân danh chống cộng, tự bản thân Phật giáo bị vô minh che lấp, bị ma chướng
điều khiển, gây ra biến động, khiến cho danh dự Phật giáo bị thương tổn nặng nề,
Phật sự bị ngưng trệ ghê gớm và sự chua xót giáng tới các chùa, các Giáo Hội,
chư vị Tăng, Ni, chân thành tận tâm phục vụ cho Giáo Hội, một cách không tưởng
tượng ! Biến động ấy đáng vui hay đáng buồn ! Tỷ dụ, biến động ấy là sách lược
đúng, cần làm, nhìn lại sau, chỉ còn đống gạch vụn, những con người tứ chi bị
mất, liệu có vui và có thành công được không ? Ai chịu trách nhiệm ? ”
Vậy theo Giáo Chỉ có “liên
hữu” hay đã cắt hết chân tay của Giáo Hội Thống Nhất ? Hãy xem những tấm hình
chụp trong ngày Ðại Hội Bất Thường ở chùa Bửu Môn, Port Arthur, Texas vừa qua,
trên bàn Chứng Minh chỉ thấy Hòa thượng Hộ Giác và Chánh Lạc ngồi tiu nghỉu, chơ
vơ, lạc lõng. Nhìn những tấm hình này, người ta tưởng như hai vị Hòa thượng là
kẻ đồng hội, đồng thuyền, đồng chí hướng nên sẽ sống chết có nhau.
Nhưng có ngờ đâu, những kẻ đồng chí hướng, quay đi đâm
sau lưng Hòa thượng Hộ Giác một nhát dao chí tử, qua bài viết trong quyển “Sự
Thật” của tác giả Lê Hữu Dản, HT Chánh Lạc nói :
“Bác muốn đăng tài liệu của tôi lên Sự
Thật, sẵn dịp mời Bác lên đây – chùa Như lai Colorado, tôi sẽ đưa hết những tài
liệu của HT Hộ Giác mà đăng luôn cho tá hỏa tam tinh.” Ðó là tình nghĩa của những người đồng
hội, đồng thuyền, đồng chí hướng !!! cần phải “liên hữu huynh đệ” và “thông cảm
với các tôn giáo bạn”. Các tôn giáo bạn làm gì mà phải thông cảm ? Anh em trong
nhà, các thành viên trong Giáo Hội Thống Nhất, đã thông cảm chưa mà đi thông cảm
các tôn giáo bạn ? Rồi lại còn “các tổ chức hòa bình, nhân đạo, văn hóa, xã hội
trên thế giới” nữa. Ðây chỉ là cách nói khoa trương để chiêu dụ, mà mắt người đọc, người nghe
để che dấu những hậu ý tà tâm dấu bên trong ngôn từ chữ nghĩa của bản văn Giáo
Chỉ.
Ðiều 1.2 viết :
“Liên hệ giúp đỡ và điều hướng các cơ sở Giáo hội, các tổ chức Phật giáo Việt
Nam và các tổ chức, đoàn thể người Việt tại các châu lục trong công tác Phật sự,
hoằng dương chánh pháp và văn hóa”
Trong điều 1.1 của Giáo Chỉ,
dùng chữ “liên hữu” như đã trình bày ở trên, mục này lại dùng chữ “liên hệ giúp
đỡ”. Có thật sự “liên hệ giúp đỡ” không ? Xin
người viết Giáo Chỉ hãy ngay thật, đừng gian dối, có thì nói có, không thì nói
không, chứ đừng bày trò trá ngụy.
Ðể chứng minh sự thiết lập
Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo tại hải ngoại nhằm 3 mục tiêu như trong Giáo Chỉ Số 9
đưa ra có được thực thi, thể hiện “liên hệ
giúp đỡ và điều
hướng các cơ sở Giáo hội, các tổ chức Phật giáo Việt Nam” không ? Các chùa, Tự viện, Tu viện… tại Úc Ðại Lợi và Tân Tây Lan được
xây dựng từ những ngày đầu, từ khi cộng đồng Phật giáo Việt Nam có mặt cho đến
nay, bao nhiêu công trình mồ hôi, nước mắt, bao nhiêu công sức tiền bạc, bao
nhiêu tấm lòng hộ đạo của quý Phật tử, và công cuộc hoằng pháp lợi sanh nơi đây,
Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo đã có lời nào thăm hỏi, đã có cử chỉ ân cần, thân
thiết nào chưa ? chứ đừng nói gì đến
“liên hệ
giúp đỡ”, “điều
hướng các cơ sở Giáo hội, các tổ chức Phật giáo Việt
Nam”
Nhớ lại ngày nào, chùa Pháp
Hoa của Hòa thượng Như Huệ, bị đập phá tơi bời, hư hao tổn thất, HT Như Huệ viết
Tâm Thư kêu gọi, Văn Phòng II có chi ngân khoản nào để “liên hệ giúp đỡ” không ?
Chùa Thiện Minh tại Lyon, Pháp quốc bị
cháy, Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo có trích cho ngân khoản nào để “liên hệ
giúp đỡ”
điều hướng xây dựng lại không ? Hay
Như Lai Thiền Tự ở San Diego, Cali, Hoa Kỳ bị cháy, Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo,
có “liên hệ giúp đỡ và điều hướng” xuất quỹ phát tâm cúng dường để HT Minh Hồi
sửa sang lại Như Lai Thiền Tự không ? Ðó là những thí dụ tiêu biểu về một số
những ngôi chùa gặp hoạn nạn, còn tất cả mọi công trình xây dựng tự viện nơi hải
ngoại là do chính quý Thầy, quý Phật tử địa phương phát tâm xây dựng và cúng
dường, có những nơi quý Thầy, quý Phật tử phải thức khuya dậy sớm miệt mài tự
lực làm tương chao, đậu hũ… để duy trì sinh hoạt, xây dựng ngôi Tam Bảo. Có
những tấm lòng thành của chư vị thiện nam tín nữ lớn tuổi, đã đóng góp những
giọt mồ hôi, công sức, nhịn ăn, nhịn tiêu… cúng dường xây dựng ngôi Tam Bảo,
ngôi nhà tâm linh của chính họ. Thực tế hiển bày như thế đó ! Các ngôi tự viện ở
Úc Ðại Lợi và Tân Tây Lan như Tu viện Vạn Hạnh của TT Quảng Ba, chùa Pháp Bảo
của HT Bảo Lạc, chùa Pháp Hoa của HT Như Huệ, chùa Trúc Lâm của TT Tâm Minh,
chùa Bảo Vương của HT Huyền Tôn, chùa Phổ Quang của TT Phước Nhơn, chùa Giác
Nhiên của TT Trường Sanh… Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo có “liên hệ
giúp đỡ và điều
hướng các cơ sở Giáo hội” này không ? hay
mọi việc lớn nhỏ đều do Tăng Ni Phật tử
tự “liên hệ giúp đỡ và điều
hướng” ? Tất cả Phật tử Úc Ðại Lợi và Tân Tây Lan bao năm qua chưa hề thấy mặt
mũi Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo nào đến đây để “liên hệ giúp đỡ và điều hướng”.
Vậy thì người viết Giáo Chỉ đừng lộng ngôn,
“tiếm danh” quý Ngài.
Mục tiêu 1.3 viết :
“Mở rộng và thúc đẩy tích cực công tác
vận động quốc tế nhằm hậu thuẫn công cuộc phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý …”
Nói vậy chẳng khác nào suốt từ ngày thành lập GHTN Hoa Kỳ, Văn Phòng II Viện Hóa
Ðạo (cũ), năm 1992 đến nay, Văn Phòng II
đóng khung, teo hẹp, đắp mền nằm ngủ chứ chẳng hề “mở rộng và
thúc đẩy tích cực công tác vận động quốc tế nhằm hậu thuẫn công cuộc phục
hồi quyền sinh hoạt pháp lý ” cho GHTN ? Như
vậy thì phải chăng kẻ
“tiếm danh” đã tự mâu
thuẫn với chính mình, phủ nhận hết những vận động quốc tế có sự đóng góp công
sức của quý Ngài ? Hoặc :
Kể từ ngày Hòa thượng Quảng Ðộ, Viện
trưởng Viện Hóa Ðạo ban hành Quyết Ðịnh mời :
“Ðạo hữu Võ
Văn Ái làm phát ngôn nhân của Viện Hóa Ðạo” đến nay ông Ái đã làm được gì có hiệu quả cho GHTN Hoa Kỳ, HT Hộ Giác
mời ông Võ Văn Ái làm Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Ngoại Vụ chỉ để cầm cờ hiệu mà chạy
rông sao ? Hay ông Ái chỉ làm quân sư
quạt mo vẽ đường cho rắn bò về cắn chết người nhà của mình ? Bao nhiêu lần ông
Ái, HT Chánh Lạc, HT Hộ Giác, TT Viên Lý vận động với quốc hội Hoa Kỳ, vận động
với các quốc gia, dâng kiến nghị đến quốc hội Âu Châu, Thụy Ðiển, Thụy Sỹ … có
đem lại tích sự gì cho Giáo Hội Thống Nhất không ? Sự “tích cực công tác vận
động quốc tế” của mười mấy năm qua, quốc tế có đem lòng thương xót gì GHTN không
? Hay Giáo Hội Thống Nhất vẫn bị khủng bố
? Nhị vị Hòa Thượng Huyền Quang, Quảng Ðộ
vẫn còn bị bức hại, vây hãm bởi cộng sản Việt Nam ?
Quý Ngài chưa được tự do.
GHTN chưa được sinh hoạt bình thường, thì thử hỏi việc làm của Phòng Thông Tin
Phật Giáo Quốc Tế có tầm ảnh hưởng đến quốc tế bao nhiêu ?
và việc làm của Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo
có thực lực không ? Hay chỉ là cái tiếng, cái danh để bao nhiêu người chen vào
mà tranh dành cái ghế ? Nào là Phó Viện
trưởng Viện Hóa Ðạo kiêm Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Hoằng Pháp kiêm Phó Chủ tịch Hội
Ðồng Ðiều Hành. Chức tước tràn ngập từ đầu tới chân.
Ðược gì với những chức tước ấy ? để hù
dọa thiên hạ với cái lớp vỏ bọc Viện Hóa Ðạo chăng ?
Chẳng
khác nào con chồn đội lốt da sư tử để làm oai với đàn cừu, chẳng may lớp da sư
tử bị rớt xuống, chồn vẫn hoàn chồn, đàn cừu đứng nhìn mà miệng mỉm cười nào có
sợ gì con chồn giả trá đó.
Thực tế, công tác vận động
quốc tế chỉ là một phần trong tương quan sinh hoạt giữa người với người, quốc tế
không phải là cái mũi để thở giùm mình, mà tự mình phải thở bằng cái mũi của
chính mình, chứ không phải thở nhờ cái mũi của quốc tế. Vì thế, “Công tác vận
động quốc tế” chỉ là phương tiện, không phải là cứu cánh giúp cho sự phục hoạt
của Giáo Hội. Thực lực của Giáo Hội là tánh đức trong sáng của Tăng già, sự hòa
hợp đoàn kết của bốn chúng, để tự tồn, tự tu, tự chứng mà chuyển hóa nghiệp
duyên. Không phải việc gì cũng bán cái cho quốc tế, để nhờ họ coi nhà giùm mình.
Thật là chủ quan, vọng ngoại .
Ðiều 2 : Không cần phải
bàn nhiều,
“truyền đạt chủ trương, đường lối họat động của Giáo
Hội trong nước…” không nhiều thì ít, chẳng lẽ Giáo Hội hoàn toàn
không truyền đạt được điều gì đến thế giới ?
Ðiều 3:
“Văn phòng II Viện Hóa Đạo trực thuộc
sự chỉ đạo và điều hành của Viện trưởng Viện Hóa Đạo trong nước”.
Ðây có phải chủ trương của kẻ
“tiếm danh” HT Quảng Ðộ ? HT Tăng Thống
Thích Huyền Quang ở ngoài Tu Viện Nguyên Thiều xa xôi, kẻ
“tiếm danh” không thể lung lạc
được Ngài. Chỉ có HT Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo Thích Quảng Ðộ ở Sài Gòn, Ngài đặt
hết niềm tin vào các cận sự viên của Ngài, vì thế họ muốn tập trung quyền lực
vào một nơi để dễ dàng khuynh loát, độc tài. GHTN có hai viện: Viện Hóa Ðạo và
Viện Tăng Thống. Mỗi viện có một vị lãnh đạo tối cao là Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo
và Tăng Thống của Viện Tăng Thống. Gọi vắn tắt là Hội Ðồng Lưỡng Viện, gồm nhiều
thành viên từ Phó Viện Trưởng cũng như Phó Tăng Thống trở xuống. Vậy tại sao chỉ
có vị Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo được quyền
“chỉ
đạo” và “điều hành”, còn các nhân sự trong Hội Ðồng Lưỡng Viện đó
để làm gì ? Ngồi chơi xơi nước chăng ?
Một là kẻ
“tiếm danh” muốn tập trung quyền
lực, hai là không có kiến thức hành chánh nên làm điều trái khoáy.
Giáo Hội Thống Nhất là của toàn thể Tăng Ni, Phật tử hay là của cá
nhân ai ? mà mọi sự chỉ có Viện Trưởng Viện
Hóa Ðạo mới có quyển chỉ đạo và điều hành ?
Một câu nói đầy
hậu ý. Nếu Hội Ðồng Viện có đường hướng điều hành, chỉ đạo tập
thể thì chắc chắn kẻ
“tiếm danh” và một số ít những người khác
không thể thao túng lộng quyền được. Vì độc quyền “chỉ đạo, điều hành của Viện
Trưởng Viện Hóa Ðạo” nên kẻ “tiếm danh” và một số ít người đã bao vây HT Viện
Trưởng Viện Hóa Ðạo, thực hiện mọi mưu đồ riêng tư để có Giáo Chỉ Số 9 và Thông
Bạch Hướng Dẫn… ra đời. Từ sự chủ mưu độc quyền “chỉ đạo điều hành” đó đã đưa
đến tình trạng “thỉnh tuyển và chỉ định”. HT Viện Trưởng ở trong nước bị bao vây
bởi hàng rào công an cả đêm lẫn ngày, bị giam lỏng trên lầu của Thanh Minh Thiền
Viện – theo Thông Cáo Báo Chí của ông Ái đưa ra – thì làm sao biết ở hải ngoại
có những Thầy nào và Thầy đó ra sao mà “thỉnh tuyển” mà “chỉ định” ?
Phải chăng do ai đó ở hải ngoại làm thế
công việc “thỉnh tuyển” và “chỉ định” cho Hòa Thượng Viện Trưởng, tùy theo ý
thích hoặc phe nhóm ? Không ưa ai thì sa
thải, loại trừ.
Thực tế của những sự việc xảy ra cho Giáo Hội Thống Nhất
hôm nay là như vậy. Ðiều được chứng minh qua thành phần nhân sự
của GHTN Úc Ðại Lợi và Tân Tây Lan. Vì sao HT Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo lại ra
quyết định chuẩn y nhân sự mà loại bỏ TT Quảng Ba, TT Trường Sanh, TT Nhật Tân,
TT Tâm Phương, ÐÐ Nguyên Tạng, ÐÐ Phổ Huân …? Lý
do gì ? Bằng chứng nào ?
Lẽ ra trên tinh thần hòa hợp
thanh tịnh của bản thể Tăng già, Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo phải dang
tay ra ôm tất cả chúng Tăng vào lòng để cùng lo việc Giáo Hội.
Nếu ai có lỗi lầm thì khuyên bảo mà
sám hối, ai không có lỗi thì khuyến tấn, khích lệ để tiếp tục làm việc cho Giáo
Hội, Ðạo pháp mới đúng. Sự sa thải nhân sự của Giáo Hội không nêu lý do. Không
trưng dẫn chứng cứ. Ðây là việc làm của bàn tay thế tục gian xảo, léo lận, chứ
không phải Quyết Ðịnh của Hòa Thượng Quảng Ðộ, tâm lượng của một vị cao Tăng,
đạo cao đức trọng.
Chúng con, Phật tử Úc Ðại Lợi
và Tân Tây Lan, kính xin quý Ngài hãy làm sáng tỏ sự việc này, trực tiếp nói
chuyện với Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo, để biết rõ sự thật. Ðừng để các
phần tử xấu trong GH lợi dụng danh nghĩa GH, lợi dụng danh nghĩa,
“tiếm danh”
HT Viện Trưởng, HT Tăng Thống phá nát GH, phân ly Tăng già, chia rẽ Phật tử, làm
lợi cho các thế lực đỏ đen. Sức mạnh của GH không phải ở trong tay của một hai
người mà là ở trong Tăng đoàn, trong cộng đồng Phật tử, trong hai hàng đệ tử của
Phật là xuất gia và tại gia. Sức mạnh đó là tinh thần tu tập thật đức, được biểu
hiện tứ oai nghi, được thấm nhuần qua cung cách ứng xử với mọi người. Sức mạnh
đó trải dài suốt dòng lịch sử của Phật giáo Việt Nam
hơn 2000 năm qua. Sức mạnh đó có khả năng duy trì bền vững cho ngôi nhà Phật
giáo Việt Nam.
Sức mạnh đó đã chứng minh cho sự tồn tại bất diệt của Phật Giáo Việt Nam đối
với các thế lực manh động, có tham vọng bá quyền, độc tôn, chủ nghĩa. Sức mạnh
đó biểu hiện tinh thần bất khuất, khí khái, quật cường qua tinh thần giáo pháp :
Ðại hùng, Ðại
lực, Ðại từ bi của tứ chúng. Không ai có thể phá vỡ tinh thần đó được.
Nếu ai đó trong Giáo Hội Thống Nhất có tham vọng độc tôn “chỉ định”, “thỉnh
tuyển” thì hãy tức khắc dừng ngay lại, đừng đi quá xa mà mang tội với đất nước,
dân tộc, đạo Pháp. Ðây là bài học lịch sử, mà mọi người phải học và phải
thấy, đừng để rơi vào hầm lửa đốt cháy đời mình.
Điều 5 :
“Văn phòng II Viện Hóa Đạo và các thành viên được thỉnh cử hoạt động vô thời
hạn.”
Ðọc đến điều 5, mọi người
không khỏi nín cười với hai nhận xét :
1-.
Lập ra Văn phòng làm việc thì phải có nhân sự hoạt động, nào có phải văn
phòng ma đâu mà viết “Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo và các
thành viên”. Trong lúc vội vã, bấn loạn sợ mọi người chống đối,
“đảo chánh”
các thành viên này, nên kẻ “tiếm danh” phải chặn trước cho “các thành viên dính
chặt vào Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo bởi chữ “và”, nên bình tĩnh lại để viết câu
này cho hoàn chỉnh hơn.
2-. Cái hậu ý : Ðộc
tài tham vọng của kẻ
“tiếm danh”, làm mọi người ngạc nhiên,
một người đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền sao lại lạc hậu, chậm tiến đến như
thế nhỉ ? Ngay như nhiệm kỳ của Tổng
Thống Hoa Kỳ, và một số nước khác, những nước văn minh dân chủ hàng đầu thế
giới, cũng chỉ được tại chức tối đa có HAI
nhiệm kỳ, thế mà thành viên của Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo GHTN lại được “thỉnh
cử” “vô thời hạn”.
Ðiều 5 năm này, tự nó đã không có giá trị, tính cách căn bản lập quy
vì “Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo và các thành viên” là một chứ không phải là hai.
Hơn nữa nó đã mang quyết định “vô thời hạn” thì Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo không
thể tách rời với 14 thành viên được thỉnh cử, và ngược lại. Khi đề cập đến 14
thành viên từ Chủ tịch : HT Thích Hộ Giác
đến vị cuối cùng thì cũng có nghĩa là đề cập đến sự hiện hữu của Văn Phòng II
Viện Hóa Ðạo. Ngoài 14 thành viên này ra thì không còn ai là thành viên của Văn
Phòng II Viện Hóa Ðạo nữa, vì “vô thời hạn”. Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo không thể
sống độc lập bởi chính nó, mà Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo phải có mặt của 14 thành
viên này. Ðiều này mọi người tự thấy, chùa Diệu Pháp
cho GHTN Hoa Kỳ mượn một gian phòng, bên ngoài treo tấm bảng hiệu :
“Văn Phòng II
Viện Hóa Ðạo”, không có sự làm việc hành chánh của 14 thành viên đã được thỉnh
cử ở điều 6, thì mọi người có thể gọi căn phòng của chùa Diệu Pháp cho mượn là
“Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo đại diện cho Viện Hóa Ðạo tại hải ngoại để truyền đạt
chủ trương, đường lối và hoạt động của Giáo Hội ở trong nước…” được không ?
Và “Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo nối tiếp
nhiệm vụ và hoạt động của Giáo Hội gặp lúc Viện Hóa Ðạo trong nước bị đàn áp…”
được không ? Chắc
chắn là không được. Các thành viên được thỉnh cử - 14 vị - làm việc cho
Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo, là Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo “sống” có làm việc ; còn
nếu chấp nhận căn phòng của chùa Diệu Pháp cho GHTN Hoa Kỳ mượn chỉ để treo cái
bảng “Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo” cho mọi người thấy thì
đây là “Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo” “chết”, của
ma chứ không phải của người. Do vậy “Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo” và các
thành viên được thỉnh cử là một thực thể, chứ không phải hai, nên không thể có
chữ “và” để liên kết hai mệnh đề. Do đó, điều 5 cần phải viết lại như thế này :
“Các thành viên được thỉnh cử cho Văn
Phòng II Viện Hóa Ðạo hoạt động vô thời hạn” mà không thể viết :
““Văn phòng II Viện Hóa Đạo và các thành viên được thỉnh cử hoạt động vô
thời hạn.”