CHUNG QUANH
LỄ TANG ÔN TĂNG THỐNG
Canada, ngày 9/7/2008,
Đệ tử Thích Siêu Phương khấp bái.
*
*
*
Phần I
Kính lạy giác linh Ôn,
Con gạt nước mắt, cố gắng
kềm lòng để có thể nhìn thấy màn ảnh mà viết những dòng này dâng lên Ôn. Ôi, con
thật ước ao biết bao được trở về một lần để quỳ bên Ôn như những năm xưa khi Ôn
nằm võng, hầu chuyện và nghe Ôn dạy chuyện giáo hội, chuyện nước non, và giảng
vài yếu chỉ trong kinh điển đại thừa. Chỉ một vài lần rồi sau đó con đi xa,
không còn cơ hội nào như thế. Bây giờ nhớ đến Ôn, con chỉ nhớ phong thái uy nghi
mà từ bi khiêm tốn lạ thường của Ôn. Mỗi lần nhớ đến là mỗi lần rơi lệ.
Bạch Ôn, xin Ôn đừng quở
trách con mà cứ ung dung từ tốn hỏi và lắng nghe như hồi đó mỗi khi con hầu Ôn.
Vì những điều con muốn nói ở đây, nếu không nói ra được với Ôn trong thời gian
Tang Lễ đang diễn ra thì chẳng biết bao giờ mới nói được. Để con kể Ôn nghe
những gì đã xảy ra…
Ở hải ngoại, tin Ôn viên
tịch đã được cáo bạch sớm nhất từ chư tôn đức đang hành đạo tại hải ngoại. Lúc
đó con đang an cư kiết hạ tại
Canada. Vị trưởng lão hòa thượng chứng minh
trường hạ ở đây, Chánh Văn Phòng Hội Đồng Giáo Phẩm GHPGVNTNHN-HK, đã cho đăng
cáo bạch rồi tức tốc trở về Hoa Kỳ. Cùng thời gian đó, từ Pháp quốc cũng đã có
cáo bạch sớm nhất từ Hòa thượng Trưởng ban Điều hợp Tăng Ni Việt Nam Hải Ngoại.
Nghe được tin này, phát xuất đầu tiên từ các trang lưới Hải Triều Âm, Pháp Vân
và Quảng Đức, con thật rụng rời, xúc động. Tin tức chính thức loan tải như thế,
nhưng con vẫn làm bộ không tin, vẫn cứ tìm đọc nhiều trang lưới khác, và chờ đợi
thêm nguồn tin từ phía Văn Phòng II Viện Hóa Đạo tại hải ngoại. Ôi, sự lên tiếng
của Văn Phòng II qua PTTPGQT thật là chậm trễ, chẳng rõ vì kỹ thuật kém hay vì
thiếu thông tin, hoặc đã có thông tin nhưng vẫn còn bận rộn, trù tính chuyện
khác, nên chẳng thấy đăng cho đến sáng ngày 5.7.2008 mới có tin! Mà khi cơ quan
thông tin đưa tin rồi thì người đọc thấy ngay lòng họ muốn gì. Họ chỉ giương cao
lá cờ của ngã chấp, và gán cho cuộc đời hành đạo của Ôn một phong thái khác với
những gì chúng con tiếp nhận khi được gần gũi Ôn. Ôi thật là buồn! Đọc qua thông
báo và tiểu sử gọi là “rút ngắn và sơ bộ” của PTTPGQT, con thấy người viết quá
thấp kém và quá thiển cận, chỉ nhìn được Ôn ở một góc nhỏ, giống như người thấp
bé chỉ thấy ngón chân út của Ôn chứ không thấy những cao vời tuyệt đỉnh khác! Ôn
ơi, họ viết tiểu sử Ôn giống như viết tiểu sử của một chính trị gia hay của một
chí sĩ đấu tranh cho tự do nhân quyền! Trong khi đó đạo hạnh và bản nguyện suốt
đời của Ôn thì đề cập một cách mờ nhạt, qua loa, có vẻ như chẳng quan trọng gì
đối với họ cả. Thật là một điều sỉ nhục cho Phật giáo và cho Giáo hội khi viết
tiểu sử của một cao tăng, một tăng thống như thế! Đã vậy, tác giả còn giương
danh ký tên ở dưới, làm như là cái bản tiểu sử chính trị đó sẽ là gia bảo mà ông
ta độc quyền, không ai được sao chép hay trích đăng! Ôn thấy có tức cười không?
Ôi, con lại nhớ Ôn, nhớ giọng cười hiền hòa từ tốn của Ôn! Con thương nhớ Ôn
biết bao! Bạch Ôn, con không thể không khóc, Ôn đừng cười con sao nhạy cảm yếu
lòng…
Con trở lại chuyện ở hải
ngoại.
Từ đó, mỗi giờ, mỗi ngày,
con đều dõi theo các diễn biến về Tang Lễ Ôn. Các diễn biến này, ở một số nơi, ở
số một người, với lòng thành qui kính và thương tiếc Ôn, tạo nên một không khí
đau buồn bao trùm mọi sinh hoạt, đồng thời cũng đưa mọi người gần lại với nhau,
quên hết những dị biệt tông môn, pháp phái; nhưng ngược lại, kính bạch Ôn, ở một
số nơi và một số người khác, nỗi kính tiếc đối với sự ra đi của Ôn dường như nhỏ
hơn những rắp tâm, toan tính, lạm dụng… Đối với họ, đây là cơ hội để hoàn toàn
nắm lấy ưu thế và chỗ ngồi tốt hơn, cao hơn trong giáo hội mà chính họ đã quậy
phá cho tan nát khiến Ôn buồn lòng trong những năm cuối đời.
Ở Mỹ, quý Tăng Ni tại nhiều
tiểu bang đã tổ chức sớm nhất, chỉ trong vòng một ngày rưỡi sau là đã có lễ
tưởng niệm và thọ tang Ôn. Đọc trên các trang lưới, con thấy ngoài chùa Bảo
Quang ở Santa Ana, là nơi qui tụ đông nhất, gần 200 Tăng Ni, còn có Chùa Việt
Nam ở Texas, cũng qui tụ khoảng 80 Tăng Ni. Cũng trong ngày Chủ nhật 6.7.2008,
nhiều nơi khác cũng đồng lúc tổ chức lễ tưởng niệm, mà con không biết hết, chỉ
qua tin tức đăng tải trên mạng thì còn thấy Chùa An Lạc ở Bắc Cali, và Chùa Phổ
Quang ở Utah. Chùa An Lạc Bắc Cali do Sư bà Nguyên Thanh, Tổng Thủ Quỹ của
GHPGVNTNHN-HK, nhưng chẳng thấy nhân sự nào của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo đến
chứng minh hay tham dự, ngoài Hòa thượng Thích Nguyên Lai.
Buổi lễ được xem là quan
trọng và trang nghiêm nhất diễn ra trong vòng một ngày rưỡi sau khi Ôn viên tịch
chính là ở Chùa Bảo Quang do Hòa Thượng Thích Thắng Hoan, Chánh Văn Phòng Hội
Đồng Giáo Phẩm GHPGVNTNHN-HK chủ trì. Buổi lễ này có Thầy Minh Dung, đệ tử xuất
gia duy nhất của Ôn ở hải ngoại, thay mặt môn đồ pháp quyến để quỳ hầu Ôn và đọc
điếu văn dâng Ôn. Qua buổi lễ này mới thấy sự kính ngưỡng của Tăng Ni và Phật tử
đối với Ôn như thế nào. Tin tức thông báo giới hạn và gấp rút trong thời gian
ngắn nhất, vậy mà vẫn có gần 200 Tăng Ni tự động đến thọ tang. Nếu tổ chức lui
lại một tuần như Văn Phòng II
(sẽ tổ chức tại Chùa Diệu Pháp) thì chắc
chắn là tất cả Tăng Ni miền Nam, thậm chí miền Bắc và các tiểu bang khác, cũng
kịp thời gian tụ về thì số lượng Tăng Ni có thể lên đến 400, 500 vị. Mà Ôn có
biết không, nếu Văn Phòng II tổ chức cùng ngày với Cộng Đồng Phật Giáo Việt Nam
tại Hoa Kỳ thì sẽ không có Tăng Ni đến tham dự, cho nên, tổ chức khác ngày cũng
là tốt nhất. Không những lui lại một tuần, mà còn có những cố gắng giống như là
tranh đua kỳ cục lắm, bạch Ôn. Đã có những đại diện đắp y đến từng chùa để đảnh
lễ và cầu thỉnh các vị trụ trì quanh vùng đến dự
Lễ Tưởng
Nguyện, vừa đảnh lễ vừa dâng thư cung
thỉnh trong đó có kèm theo tiền gọi là
“lộ phí” để khích lệ Tăng Ni nhận lời. Đó là
lý do con thưa với Ôn lúc nãy là ở một số nơi, một số người thì như vầy, và một
số nơi, một số người thì như kia. Cách thức vận động người dự lễ như thế con
nghe thuật lại từ những vị Tăng đón nhận
“nghi lễ” cung thỉnh mà choáng váng, buồn bã.
Thật là tủi hổ cho sinh hoạt lễ nghi của Phật giáo. Chẳng lẽ Lễ Thọ Tang của một
vị Tăng mà phải dùng đến tiền bạc hối lộ để có người đến dự cho đông sao! Huống
chi đây là lễ tang một vị cao tăng, một vị tăng thống, lẽ ra mọi người phải tự
động đến chứ đâu cần cung thỉnh! Chẳng lẽ nơi tổ chức đó mang danh là trung tâm
của giáo hội lại không đủ uy tín để qui tụ Tăng Ni hay sao mà phải dùng đến mưu
chước thế tục phàm tình! Rồi đây, đến cận ngày tổ chức mà không thấy Tăng Ni
Việt Nam đáp ứng quang lâm, chắc chắn lại xảy ra trường hợp hàng trăm tăng sĩ
Tích Lan, Thái Lan, Cam Bốt, Lào, Tây Tạng… đến ngồi chật hội trường và chánh
điện (cùng với
khoảng 20 tăng sĩ thực sự người Việt Nam) như lần trước đã từng phô
trương qua Đại lễ Phật Đản của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo! Và rồi cũng sẽ công bố
bản tin khuếch đại mười lần cao hơn là hàng trăm Tăng Ni và hàng ngàn Phật tử
đến tham dự ở ngôi chùa nhỏ mà bãi đậu xe chỉ có 20 chỗ, còn chánh điện thì chỉ
chứa được 500! Chưa hết đâu Ôn, trên báo còn đăng một cái tít rất là hấp dẫn,
đúng theo cách của làng báo nhằm gây sự chú ý, mà chú ý ở đây là để khuyến khích
nhiều người đến tham dự cho đông, chứ không lẽ Văn Phòng II tổ chức mà không ai
đến, sẽ mất mặt với Phật giáo đồ khắp năm châu! Cái tít của trang lưới kia chạy
như sau (nguyên
văn) :
“Giáo hội Phật giáo VNTN sẽ công bố suy cử Tăng
Thống trong lễ thọ tang tại chùa Diệu Pháp”. Đọc vào sẽ thấy lộ
mặt rõ ràng những người chỉ quan tâm đến sự viên tịch của Ôn với lý do là để nắm
lấy thời cơ cho địa vị của họ như con đã trình Ôn lúc nãy. Con xin trích nguyên
văn : “Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sẽ công bố vị lãnh đạo tối cao của giáo hội cũng
như danh sách hội đồng lưỡng viện vào ngày Chủ Nhật tuần này tại chùa Diệu Pháp
thuộc thành phố San Gabriel tiểu bang California, theo tin tức Phòng Thông Tin
Phật Giáo Quốc Tế cho biết.” (trích
Calitoday.com ngày Jul 09, 2008).
Chưa hết, con kể Ôn nghe chuyện này Ôn
sẽ thấy buồn cười hơn. Trong buổi lễ tưởng niệm Ôn ở Chùa Bảo Quang, trong khi
200 Tăng Ni và khoảng 700 Phật tử trang nghiêm cử hành lễ, ngậm ngùi kính tiếc
Ôn thì bên ngoài phía bên kia đường có 5-6 người biểu tình, cầm loa chưởi bới
hướng về phía Chùa. Nghe nói đây là những người biểu tình chuyên nghiệp, có
người thuê mướn họ thì họ đi, bất kể nội dung biểu tình, bất kể đối tượng mà họ
chống đối là ai. Con không dám nghi ngờ ai là người chủ mưu thuê mướn những
người biểu tình này. Con chỉ dám nói rằng đối với một Tang Lễ dù của bất cứ ai,
chứ không nói là Tang Lễ của một đức Tăng Thống, những kẻ ồn ào biểu tình là
những người vô học, thiếu văn hóa. Họ không còn là người Việt Nam, cũng không
còn là người của bất cứ quốc gia nào, vì văn hóa của nhân loại không bao giờ
chấp nhận trường hợp thấp hèn của kẻ nào xúc phạm đến những người đang tham dự
một tang lễ, dù là tang lễ của một tù nhân, một tử tội, một người bình phàm
nhất. Đàng này, đây là tang lễ của một Tăng Thống của giáo hội vốn được quốc nội
và hải ngoại tôn xưng, nể trọng.
Đó là chuyện ngoài nước,
bạch Ôn. Bây giờ con kể chuyện trong nước, mà chắc Ôn cũng nghe Thầy Minh Tuấn
khóc trình. Những gì xảy ra tại Nguyên Thiều, con chỉ nghe được qua vài tờ báo
và trang lưới, trong đó có trang lưới của PTTPGQT. Qua tin tức, con thật là buồn
là tang lễ của Ôn lại có những tranh chấp giữa nhiều phía, chứ không phải chỉ từ
phía nhà nước. Tang lễ của Ôn có một điểm tương đồng với tang lễ Ôn Linh Mụ năm
1992 là bị chính quyền cố gắng xen vào, nhưng cuối cùng thì cũng do môn đồ hiếu
quyến tổ chức mọi việc. Nhưng những điểm khác thì không giống, vì tang lễ Ôn
Linh Mụ không có sự tranh chấp trong nội bộ, còn tang lễ Ôn thì lại có. Đó là
điểm thật buồn, thật đáng tiếc ! Cho nên,
chắc Ôn cũng đã nghe và hiểu vì sao Thầy TS vừa ra đảnh lễ Ôn xong là quay trở
về Già Lam ngay, dù sức khoẻ của Thầy rất kém. Con người nghệ sĩ của Thầy đâu có
thích hợp với những nơi tranh chấp, giành giật, chia nhau chỗ ngồi… nên Thầy
quay đi là phải. Ôn hiểu và trân quí Thầy như Ôn đã từng, vì vậy Thầy yên tâm
đảnh lễ rồi giã biệt Ôn mà không cần phải nán lại cho đến ngày nhập tháp cận kề
để rồi gây cản trở những rắp tâm toan tính của kẻ khác.
Nhớ lại tang lễ Ôn Linh Mụ,
con thấy lúc đó thật là trang nghiêm với sự quang lâm của Ôn. Giáo hội lúc đó
giống như đã “bị
chôn” không còn sinh hoạt gì. Ôn thì bị quản thúc ở Quảng Ngãi, Ôn
Thanh Minh thì bị lưu đày ở Thái Bình.
Giáo hội lúc đó là giáo hội
một người. Một người gìn giữ giáo hội :
chính là Ôn Linh Mụ ;
và một người dựng lại giáo hội :
chính là
Ôn.
Một người đơn thân nằm xuống, hàng ngàn Tăng Ni trong và ngoài nước cúi đầu cung
tiễn; một người đơn thân quang lâm, dõng dạc cất lên tiếng nói uy hùng của đại
sĩ, hàng ngàn Tăng Ni khắp nơi hưởng ứng, bắt đầu cho công cuộc phục hưng giáo
hội. Giáo hội ấy, là do chính Ôn, một mình Ôn, đứng giữa trùng vây dày đặc của
công an, công khai dựng lại. Không có thế lực hay hậu thuẫn nào từ bên ngoài.
Chỉ một mình Ôn, cầm đầu giềng mối của giáo hội. Bây giờ tang lễ Ôn, sự việc lại
khác, rất khác! Ôn nằm xuống thì mất tất cả! Giáo hội chúng ta phải cậy nhờ các
thế lực quốc tế lên tiếng can thiệp. Nhân lực của Giáo hội, nói là đã thành lập
các cơ sở ở đâu chẳng thấy, hoặc nếu thấy thì chỉ thấy im lặng để người ta bao
vây, không nói được gì, không làm được gì, ngoài việc bàn tính, sắp xếp hội đồng
lưỡng viện…
Chuyện thứ hai vừa xảy ra là
chuyện của Gia Đình Phật Tử khi họ đến đảnh lễ thọ tang và đọc điếu văn trước
bàn thờ Ôn. Họ đã được Thầy Minh Tuấn
(đệ tử xuất gia, đại diện môn đồ pháp quyến trong
nước) cho phép và hướng dẫn vào quỳ lạy kim quan Ôn. Đang đọc điếu
văn nửa chừng thì có một thầy xông vào, đòi giật lấy tờ điếu văn, lớn tiếng ngăn
cấm và xua đuổi hàng mấy chục huynh trưởng kỳ cựu của Ban Hướng Dẫn Trung Ương.
Người chưa biết thì nghĩ ngay rằng đây là thầy của nhà nước, do nhà nước sắp đặt
để kiểm soát tư tưởng những người phúng điếu. Nhưng không phải, Ôn ơi! Đây là
thầy Chơn Tâm, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Giáo Dục của GHPGVNTN! Mô Phật, con nghe
tin từ trong nước gọi qua mà thêm một lần choáng váng, ù tai !
Tại sao lại có chuyện kỳ cục này xảy ra?
Ai kiểm soát, ai bao vây, ai giành giật lễ tang ?
Chúng ta lớn tiếng qui trách cho nhà nước, nhưng thực tế thì nhà nước
chỉ phá sóng và theo dõi bên ngoài, còn trong chánh điện, nơi kim quan, thì chỉ
có người của giáo hội, của tu viện Nguyên Thiều, của môn đồ pháp quyến thôi! Vậy
thì việc kiểm soát tư tưởng là do chính chúng ta bày ra đó, Ôn ơi! Một bài điếu
văn kính dâng Ôn bị giật trên tay, bị ngăn cấm nửa chừng không thể đọc hết, thì
ấm ức đau lòng biết bao! Đây có phải là hành vi
“giáo dục”
không ? Đây có phải là hành vi có
“văn hóa” không ? Tại sao, và
tại sao, càng lúc càng quá tệ, quá kém về văn hóa ngay trong sinh hoạt của giáo
hội, cả trong nước lẫn hải ngoại ! Đã vậy
còn kiếm cách qui lỗi cho kẻ khác, nói là người ta tính hành hung mình !
Thực ra, cho dù có một phản ứng mạnh nào
đó của phía GĐPT thì cũng bình thường thôi, vì họ là người cư sĩ, và đang thành
tâm khóc lạy Ôn, bậc Thầy đáng kính của họ, mà lại bị quát tháo, giật ngang tờ
điếu văn! Điều không thể chấp nhận là một người xuất gia mang luôn cả giày giép
lại xông vào chốn tôn nghiêm, tỏ ý sân hận, mở lời sân hận, trước linh đài của
bậc cao tăng mà mình luôn miệng nói là một lòng trung kiên, cung kính, lại ngăn
cản kẻ khác dâng lời cung tiễn Ôn! Một hành vi thực là bất xứng đối với tăng sĩ
bình thường, chứ đừng nói là xứng với danh vị Tổng vụ trưởng Tổng vụ Giáo Dục
của một giáo hội !
Thôi, con phải dừng bạch Ôn,
kẻo Ôn lại quở trách con để ý chi chuyện thị phi như Ôn từng dạy. Ôn từng dặn
con : “Nếu
con thấy việc đó đúng chánh pháp thì mạnh dạn làm, sẵn sàng làm, dù có bỏ thân
mạng. Còn việc người ta làm sai chánh pháp… hãy điều chỉnh, điều chỉnh không
được thì cứ lo cái việc chánh pháp của mình.” Một
lời dạy đó thôi, đủ cho con nhìn thấy Ôn bên cạnh con suốt đời này, và suốt
nhiều đời kiếp khác.
Gậy của Ôn đây, để con dìu
Ôn đứng dậy. Ôn ơi, xin hãy tha thứ cho chúng con, nếu chúng con không làm được
những gì Ôn căn dặn.
Ba lạy cung tiễn Ôn về nơi
tịch diệt chân thường. Con quỳ nơi đây hướng về Ôn, và nguyện chờ đợi Ôn ở nhiều
kiếp tái sanh để cứu độ chúng sanh. Lúc đó, con nguyện sẽ được tiếp tục làm đứa
học trò ngoan của Ôn, hầu hạ Ôn để luôn được nghe những lời pháp nhũ.
*
*
*
Phần II
Tôi đã viết Phần I để hầu
chuyện Ôn. Nay viết tiếp Phần II để thưa chuyện cùng chư tôn thiền đức Tăng Ni
trong và ngoài nước, cũng như tất cả quý đạo hữu, quý phật tử, quý huynh trưởng
và đoàn sinh GĐPTVN trên thế giới, và tất cả những ai có liên hệ trước, trong và
sau tang lễ Ôn.
Những chuyện muốn nói, đều
đã trở thành quá khứ, nên bỏ qua. Nhưng quá khứ sai lầm, nếu không nhắc đến một
lần để kiểm điểm, sửa sai, tránh lỗi cho tương lai, sẽ bị lặp lại ở thời gian
khác, địa điểm khác. Vì vậy, cần phải nói.
Trước tang lễ,
trong nước có những bài báo và một vài thư rơi gửi qua email, nói về việc
“ông Quảng Độ” hoặc “nhóm Quảng Độ” sẽ lợi
dụng tổ chức lễ tang Hòa thượng Thích Huyền Quang, để “công
khai hóa một tổ chức bất hợp pháp của họ, mang tên ‘Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thống nhất’.” Sau đó là phản ứng từ Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, tố
cáo rằng nhà nước CSVN “giành quyền” và “giành giật”
(chữ dùng của
ông VVA) tổ chức tang lễ của Hòa thượng Thích Huyền Quang, kêu gọi
các chính khách, dân biểu, tổ chức nhân quyền của Hoa Kỳ lên tiếng can thiệp, “yêu
sách Hà Nội để cho GHPGVNTN tự do tổ chức lễ tang đức Đệ Tứ Tăng Thống.” Người ở
ngoài nước chẳng biết thực hư ra sao về sự việc giằng co giữa nhà nước và giáo
hội, nhưng qua các lời tố cáo của hai phía, người ta thấy sự bất kính của những
người phát ngôn (của cả hai phía: vài tờ báo của cộng sản và
PTTPGQT) đối với một bậc cao tăng của GHPGVNTN nói riêng, và Phật
giáo Việt Nam nói chung. Trong nỗi đau buồn mất mát về sự ra đi của Đại lão Hòa
thượng Thích Huyền Quang, Tăng Ni và Phật tử bỗng thấy nổi cộm lên những lời qua
tiếng lại rất ồn ào, nặng nề, sặc mùi chính trị, tạo nên hình ảnh không đẹp cho
không khí lễ tang. Nghi ngờ và gán cho chư tôn đức Viện Hóa Đạo là âm mưu “ra
mắt” GHPGVNTN trong dịp lễ tang, chính là hành vi bất kính đối với người nằm
xuống; mà lên tiếng rùm beng cho rằng nhà nước “giành giật” lễ tang của giáo hội
cũng là thứ ngôn ngữ bất kính với đức Tăng thống của mình. Lễ tang là lễ tang,
làm gì có chuyện lợi dụng này nọ, cũng không phải là một món vật để “giành giật”
qua lại. Những người phát ngôn bất kính như vậy đều không phải là Phật tử, không
phải là môn đồ pháp quyến, cũng không phải là thành viên GHPGVNTN
(dù cũng có
người mang chức danh của giáo hội), mà chỉ là những người ở ngoài,
chẳng có liên hệ gắn bó gì với bậc cao tăng nằm xuống. Họ là những người thuộc
các thế lực chính trị cho nên chỉ nhìn thấy màu sắc chính trị và tô vẽ màu sắc
chính trị cho lễ tang. Các chính khách, các dân biểu nước ngoài, các nhà đấu
tranh chống Cộng thuộc những tổ chức đảng phái hay tôn giáo khác ở hải ngoại hăm
hở nói hùa theo, bơm phồng hiện tượng “giành giật” lễ tang, thậm chí có người
còn dùng những từ ngữ thô lậu, vô lễ, quá xúc phạm, như “cướp xác,” hoặc “giành
xác chết”… Chung qui cũng chỉ vì chính trị, chính trị, chính trị… Rồi cứ la lối,
lên án người ta đã “chính trị hóa” tang lễ của Ôn Tăng Thống! Người ta nào?
Người ta là ai ? Hãy tự hỏi chính mình
trước.
Ngay từ ngày đầu khi Ôn
Huyền Quang viên tịch, báo chí của nhà nước thật quá đáng khi gọi các vị cao
tăng của Phật giáo bằng từ “ông” này, “nhóm” nọ, ngoài việc gán cho chư tôn đức
Viện Hóa Đạo GHPGVNTN những âm mưu, ý đồ thế này thế khác đối với tang lễ. Nhưng
đây là ngôn ngữ đời thường của những kẻ làm việc theo chính sách, theo chỉ thị,
những kẻ chỉ biết vâng lệnh cấp trên, không kể gì lễ nghi tối thiểu của con
người trên đất nước bốn ngàn năm văn hiến.
Trách họ thì
cũng nên tự trách ta. Họ nghe và thấy “phát
ngôn nhân” Viện Hóa Đạo GHPGVNTN thường xuyên nguyền rủa, chưởi bới, nhục mạ
chư tôn đức Tăng Ni không cùng quan điểm, hoặc không chịu tuân phục những sắp
xếp điều hành của phát ngôn nhân này, nên họ xem thường Tăng Ni và dùng ngôn ngữ
thiếu lễ độ đối với Tăng Ni thì cũng là do người của Giáo hội “vẽ đường cho hươu
chạy’ mà thôi. Một người xưng là Phật tử, xưng là trí thức, khoa bảng, hoạt động
cho văn hóa, nhân quyền, mang trách nhiệm là “phát ngôn nhân” của Viện Hóa Đạo
GHPGVNTN, có thể dùng những thứ ngôn ngữ thiếu văn hóa và vô cùng hỗn xược đối
với Tăng Ni thì làm sao trách được những kẻ từng bị châm biếm là vô học, rừng rú
dùng ngôn ngữ ấy đối với các Tăng Ni mà họ cho là chống đối lại họ !

Trong thời gian tang lễ, ở
Nguyên Thiều và nhiều tự viện khác ở quốc nội và hải ngoại, đồng loạt tổ chức lễ
tang, tưởng niệm Ôn Tăng Thống. Niềm đau và lòng thành của mỗi Tăng Ni, Phật tử
hướng về bậc cao tăng suốt đời phụng sự Đạo pháp và Dân tộc như Ôn Tăng Thống là
tình cảm thiêng liêng, đạo vị, tha thiết và thâm sâu. Dù bỏ một bên ngôi vị Tăng
Thống của giáo hội, Ôn Huyền Quang vẫn là bậc cao tăng trưởng thượng đáng tôn
kính của Phật giáo Việt Nam mà bất kỳ Tăng Ni Phật tử nào khi nghe tin Ngài viên
tịch, cũng đau xót, nghiêng mình tưởng niệm, và nếu có đạo tràng nào tổ chức lễ
thọ tang thuận tiện nhất, họ sẽ tự động đến dự. Đây là tâm thái và đạo lý tự
nhiên của người sống đối với người đã mất, dù ở thế gian hay ở trong đạo. Do vậy,
ngay ở Lễ Tưởng Niệm và Thọ Tang sớm nhất được tổ chức tại Chùa Bảo Quang, miền
Nam California vào ngày 6/7/2008, gần 200 Tăng Ni Việt Nam (xin nhấn mạnh:
Tăng Ni Việt Nam – là những Tăng Ni
thọ ân và biết rõ Ôn Huyền Quang là ai, ở vị trí nào trong nền Phật giáo Việt
Nam) đã tự động đến dự lễ trong một không khí rất trang nghiêm, xúc động. Một số
vị có mặt trong buổi lễ này đã từng có thời gian làm việc chung với Ôn Tăng
Thống, một số vị khác học trò, một số vị chưa bao giờ gặp Ôn nhưng luôn quí kính
và nghe danh thơm của Ôn, và đặc biệt có vị đệ tử xuất gia duy nhất của Ôn tại
hải ngoại là Thượng tọa Thích Minh Dung, đại diện môn đồ pháp quyến đọc ai văn
trước linh đài. Điều kỳ lạ là trong khi buổi lễ đầy đạo tình này diễn ra, lại có
vài người đứng biểu tình cầm loa hô những khẩu hiệu và câu quyết do ai đó viết
sẵn, nhắm vào hướng những người dự lễ. Ở bài viết trước đây, Phần I, tôi cho
những người biểu tình chưởi bới trước đám tang như vậy là những người
“vô học, thiếu văn hóa”.
Nay lại được
tai nghe mắt thấy một người đầu tròn, khoác tăng y, trả lời phỏng vấn một đài
truyền hình online, cho rằng Tăng Ni và Phật tử tổ chức lễ thọ tang ở Chùa Bảo
Quang là “mị dân”, tôi thật đau xót
và tủi nhục thay cho Phật giáo Việt Nam đã nuôi dưỡng và chấp chứa một con người
như thế !

Phóng viên hỏi lý do tại sao
Tăng Ni và các chùa ở miền Nam California không đến tham dự lễ tưởng nguyện và
thọ tang tại Chùa Diệu Pháp ngày 13/7/2008, nhưng người trả lời không dám nói sự
thực, mà đã cố gắng chuyển
“mũi dùi”
của người phỏng vấn qua đối tượng khác ; không
tự nhìn nhận rằng Văn Phòng II đã mất uy tín, mất chính nghĩa, mất hết đạo tình,
đạo lý đối với Tăng Ni và Phật tử Việt Nam hải ngoại, mà chỉ lo chỉ trích, kết
tội, xuyên tạc, dè bỉu lễ tang của đại khối Tăng Ni và Phật tử ấy.
“Có rất nhiều nhà sư Sri Lanka, Thái Lan, và
ngoại quốc, và rất ít Tăng Ni Việt Nam đến tham dự lễ tại Chùa Diệu Pháp,”
đài truyền hình nói như vậy trong bản tin là họ đã thừa biết thực trạng và lý do
tại sao Văn Phòng II tổ chức sau một tuần
(để đủ thời gian kêu gọi, vận động Tăng Ni
Phật tử tham dự), mà rồi cuối cùng vẫn chỉ thấy các nhà sư xa lạ nước
ngoài, không ai biết họ và họ cũng chỉ biết Ôn Tăng Thống một cách đại khái qua
tên và ngôi vị của Ngài mà thôi. Và đây là lời của người đầu tròn, áo vuông, có
tên đạo là CL[1] , trả lời
cho phóng viên truyền hình online vì sao Tăng Ni ở miền Nam California không đến
tham dự lễ tại Chùa Diệu Pháp :
“Những người đó theo giáo chỉ số 9 thì đó là những người đã xây lưng với giáo
hội… họ là tu sĩ mà họ lại xây lưng lại với giáo hội, họ đã bất kính đối với đức
Đệ tứ Tăng thống, và họ là người Việt Nam tị nạn cộng sản nhưng mà họ đã đánh
mất căn cước tị nạn, thành ra họ đã làm những việc không tốt… Họ cũng tổ chức lễ
tang nhưng theo Thầy nghĩ đó chỉ là cách
mị dân. Vì họ sợ những người Việt Nam tị nạn cộng sản nói chung, Phật tử nói
riêng, không ủng hộ, không bằng lòng họ, mà như không bằng lòng thì sự sống còn
của họ sẽ rất là mệt, do đó họ phải làm với tính cách
mị dân để mong rằng làm như vậy là họ
thương giáo hội, thương đức Tăng Thống, nên họ làm như vậy để che mắt, chứ thực
ra một con người mà đã không khâm tuân, không nghe lời cha mẹ mà còn chưởi bới
cha mẹ thì không thể nào khi cha mẹ nằm xuống mà làm thế này thế kia, chỉ là giả
dối, không thiệt tâm của họ…”
Phỉ báng và vu khống kẻ khác
là điều mà một tỳ kheo không bao giờ làm, huống gì tội phá hòa hợp tăng, dè bỉu
và sỉ nhục cả một tập thể Tăng, là điều mà ngay cả một Phật tử bình thường nhất
cũng không làm, không phải chỉ vì sợ phạm vào ngũ nghịch tội
[2], mà chính
vì thiện tâm, tín tâm của họ không cho phép. Nhưng trường hợp của CL thì không
thế qui chiếu nơi giới luật tỳ kheo (vì không xứng và không còn là tỳ kheo để
qui chiếu), cũng không thể qui chiếu nơi hành xử của người tại gia ngũ giới bình
thường (vì thiện nam tín nữ thì không thể dấn sâu vào một trong năm tội đại
nghịch). Chỉ xét theo đạo lý làm người trong truyền thống văn hóa Việt cũng đủ
thấy rằng một con người công khai hủy nhục, xúc phạm một ngàn người đang thành
tâm dự tang lễ, là một hành vi “vô học, thiếu văn hóa” (nhóm từ mà tôi đã dùng
để gọi những người biểu tình chống phá tang lễ trước chùa Bảo Quang ngày
6/7/2008). Nhóm từ này dùng cho ông CL cũng đúng, nhưng chưa đủ. Phải dùng chữ
“vô đạo” của nền văn hóa Việt mà Tổ Tiên Ông Bà chúng ta thường dùng để gọi một
con người vô luân, bất trị, không còn luân thường đạo lý và, nói nôm na theo
cách của thời nay là “hết
thuốc chữa”.
Có thể coi như CL đã nói
thay tiếng nói của VPII trong cuộc phỏng vấn nói trên. Còn nếu Văn Phòng II
không đồng quan điểm với CL hẳn là đã công khai ngỏ lời xin lỗi, sám hối với
Tăng đoàn miền Nam California về sự bất kính, vô lễ, xúc phạm tâm thành của hơn
hai trăm Tăng Ni
(chưa kể hơn bảy trăm Phật tử) tham dự lễ
tang Ôn Tăng Thống.
Quí vị
có thể bấm
vào đây để xem (littlesaigontv.com phát
hình vào Thứ Năm ngày 17/7/2008) để xác thực về những gì tôi trích dẫn ở trước, đồng thời cũng lắng
nghe vài câu trả lời của bên phía những vị Tăng mà ông CL gọi là "mị dân", để
thấy rằng, những vị này vì trong thời gian đang thọ tang, không muốn phát biểu
bất cứ điều gì đi ngược với tâm nguyện và đạo hạnh của Ôn Tăng Thống, nhưng cũng
phải miễn cưỡng trả lời phỏng vấn của đài truyền hình về tính cách "mị dân" do
CL phun vấy vào họ. Họ đã không chỉ trích hay tỏ một ý tiêu cực nào về lễ tưởng
nguyện tại Chùa Diệu Pháp, mà chỉ cho biết rằng sở dĩ họ không tham dự buổi lễ
ấy vì đã thọ tang Ôn Tăng Thống vào tuần lễ trước tại Chùa Bảo Quang rồi; hoặc
vì buổi lễ của Chùa Diệu Pháp trùng ngày với buổi lễ do môn đồ pháp quyến của Ôn
Tăng Thống là Thượng tọa Thích Minh Dung tổ chức tại Chùa Quang Thiện; hoặc vì
Chùa Quang Thiện gần hơn; hoặc vì không có người lái xe đưa đi.
Đó là những nhức
nhối, đau lòng của thời gian tang lễ, bao gồm các lễ tưởng niệm và thọ tang tại
hải ngoại.
Bây giờ hãy nhìn
về tương lai, những gì có thể xảy ra sau tang lễ Ôn Tăng Thống.
Trước ngày cung
nghinh kim quan nhập tháp, 11/7/2008, chúng ta thấy hình ảnh hai thế lực chính
trị (nhà
nước cộng sản và PTTPGQT)
cầm loa tố cáo qua lại với nhau, làm ầm ĩ, huyên náo, mất thanh tịnh cho lễ tang
của Ôn Tăng Thống, khiến cho một số Tăng Ni và Phật tử dù hết lòng quí kính Ôn,
cũng không muốn bị dây dưa phiền lụy, và thay vì thân hành đến cung tiễn kim
quan nhập tháp, họ đã thắp hương từ đạo tràng của chùa, tịnh xá, tư gia, từ các
địa phương, các tỉnh thành, các nước, hướng vọng về Nguyên Thiều, thành kính
đảnh lễ. 800 vị Tăng và gần 200 vị Ni dự lễ nhập tháp tại tu viện Nguyên Thiều,
đa phần thuộc các sơn môn, pháp phái tại Bình Định, một cái nôi to lớn của Phật
giáo miền Trung. Gia Đình Phật Tử cũng được huy động đông đảo, khoảng 2000 đoàn
viên đến hầu và phục vụ tang lễ suốt nhiều ngày. Cuối cùng, lễ cung nghinh kim
quan nhập tháp cũng diễn ra thật trang nghiêm, hùng tráng và hết sức cảm động.
Đây chính là do nơi đạo lực của Ôn, một bậc cao tăng mà ngay nơi đạo hiệu đã nêu
đủ hành trạng và tâm đức của Ngài : Như
An (Dũng), Giải Hòa (Bi), Huyền Quang (Trí); và cũng do nơi đạo lực của hiện
tiền Tăng có mặt, trên một nghìn tỳ kheo, tỳ kheo ni. Theo dõi hình ảnh được
đăng tải sớm và đầy đủ nhất từ các trang
Hải Triều Âm,
Pháp Vân,
Quảng Đức,
chúng ta thấy lễ nhập tháp thật vô cùng trang nghiêm, tịch mặc, và mọi người an
lòng, toại nguyện.
Trong khi đó,
ông VVA, qua PTTPGQT lại thêm lần nữa bất kính với Ôn Tăng Thống, bất kính với
chư tôn đức Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN, và bất kính với Tăng Ni Việt Nam từ
các tỉnh, đặc biệt là Tăng đoàn Bình Định, khi cho rằng "Sự
kiện nhà cầm quyền Hà Nội đã không dám xâm lấn giành giật tổ chức lễ tang như
chiến dịch rầm rộ trên báo đài mấy ngày qua, là một thắng lợi lớn lao của
cộng đồng nhân quyền thế giới, và cũng là kết quả của những sự lên tiếng và áp
lực đồng tiến của các nhà ngoại giao, đại biểu Quốc hội và các xã hội dân sự
trên toàn cầu. Nhờ vậy, sự tập họp đông đảo chưa từng thấy của chư tôn đức
Tăng Ni và Phật tử thuộc GHPGVNTN trong cuộc tiễn đưa Đức Đệ tứ Tăng thống Thích
Huyền Quang về nơi an nghỉ, sau một đời Ngài tận tụy với nhân sinh, đất nước và
đạo pháp…"
Đây là một tuyên bố hỗn láo của một người tự tôn và nhiều hoang
tưởng. Đạo hạnh của Ôn Tăng Thống, đạo lực của Tăng đoàn Việt Nam bao gồm
GHPGVNTN, GHPGVN cùng chư sơn môn pháp phái không nằm trong tổ chức giáo hội nào,
không lẽ không tạo nên được một y báo trang nghiêm, thanh tịnh và hòa hợp cho lễ
tang một bậc cao tăng hay sao mà phải cậy nhờ đến can thiệp vu vơ và xa xôi của
các dân biểu và các chính khách sa-lông! Tăng đoàn Việt Nam
ngày nay không lẽ tan nát đến độ không giải quyết được những bất ổn ngoại tại và
nội tại cho một lễ tang một bậc trưởng lão tỳ kheo hay sao! Năm 1992, một mình
Ôn Huyền Quang tự động rời Chùa Hội Phước Quảng Ngãi
(nơi Ngài bị lưu đày, quản thúc),
một mình thân lâm dự lễ tang Ôn Linh Mụ, lúc đó không có Hội Đồng Lưỡng Viện,
không có Viện trưởng VHĐ, không có Tăng Thống, không có bất cứ một Tổng vụ
trưởng hay Chánh Đại Diện Miền, Chánh Đại Diện Tỉnh nào tháp tùng cả; vậy mà Ôn
ứng khẩu tuyên bố trùng quang giáo hội giữa hàng ngàn Tăng Ni và Phật tử qui
phục, và giữa vòng vây của công an (thời ấy hãy còn khắt khe gấp trăm lần bây
giờ), có cần phải nhờ đến bất cứ một thế lực quốc tế nào không ! ? Đã vậy, khi
Ôn dõng dạc cất lời nguyện phục hoạt giáo hội trước kim quan Ôn Linh Mụ, lại bị
một Thượng tọa cắt điện, cúp âm thanh
(vị này bây giờ là một Hòa thượng ngồi trong
VTT), khiến Ôn phải gắng
hơi sức để nói to trước hàng vạn người. Hãy ôn lại cảnh ấy, để thấy rằng đâu là
sức mạnh của Tăng đoàn. Tăng đoàn, sơn môn Huế đã phủ phục lắng nghe Ôn, biểu
đồng tình với Ôn, tạo nên không khí trang nghiêm của lễ tang mà không ai, ngay
cả chính quyền lúc đó, có thể quấy phá can thiệp được. Bây giờ, Tăng đoàn toàn
quốc và Tăng đoàn Bình Định ở đâu, Hội đồng Lưỡng Viện ở đâu, các vị Chánh Đại
Diện tỉnh thành ở đâu, mà theo ông VVA, mọi việc êm đềm thuận lợi của lễ tang
đều nhờ sự lên tiếng can thiệp của quốc tế! Thật là vọng ngoại và tha hóa một
cách lố bịch, ngông cuồng.
Bây giờ hãy
nói đến chuyện Chúc Thư của Ôn Tăng Thống. Trước khi viên tịch, Ôn có chính thức
để lại Chúc Thư hay không thì chỉ vài người, hoặc một người biết mà chưa tiện
công bố. Những người quan tâm đến hiện tình và tiền đồ Phật giáo, mong Ôn
nhắn gửi đôi điều may ra đánh thức và khích lệ những người ở lại hòa hợp, đoàn
kết để cùng chỉnh đốn, xây dựng, phục hoạt giáo hội. Những người quan tâm đến
địa vị của mình trong tổ chức giáo hội thì mong rằng Ôn không để lại Chúc
Thư gì cả, vì nếu có Chúc Thư sẽ có những lời ngay thật và góp ý của Ôn trong
việc xây dựng và sắp xếp nhân sự của giáo hội theo ý của Ôn; như vậy sẽ lộ hết
chân tướng những người từng lạm dụng danh nghĩa của Ôn để ra giáo chỉ này, thông
bạch nọ.
Cho nên, trong
khi những môn đồ pháp quyến "thực thụ" của Ôn thương tiếc và bận bịu bối rối với
lễ tang, cũng như việc cư tang, thì một thiểu số người đang lo lắng không biết
Ôn có để lại chúc thư nào hay không, và đã trao chúc thư cho ai. Họ mong rằng Ôn
không để lại chúc thư gì cả, hoặc nếu để lại chúc thư thì chúc thư đó chỉ trao
riêng cho họ. Trong trường hợp Ôn không để lại chúc thư, họ sẽ quyền biến tạo ra
chúc thư thích hợp hoàn cảnh, tâm lý và kế sách của họ; còn nếu Ôn có để lại
chúc thư và chúc thư đó nằm trong tay họ thì họ sẽ "phương tiện thiện xảo" mà
thay đổi nội dung chúc thư, miễn sao nhắm đến mục đích bảo vệ giáo hội đúng theo
ý của họ là được rồi. Điều họ sợ nhất là Ôn có để lại chúc thư nhưng lại không
trao cho họ mà trao cho một môn đồ pháp quyến mà họ không kiểm soát được, hoặc
một vị giáo phẩm tín cẩn đặc biệt nào đó của Ôn. Không lường trước được có hay
không có chúc thư thật, họ múa chiêu thức "vũ lộng giả-chân", trước hết là phao
tin đồn sẽ có lễ suy tôn và danh sách Hội đồng lưỡng viện trong Lễ Tưởng Nguyện
và Thọ Tang tại Chùa Diệu Pháp ngày 13/7/2008. Tin đồn này nhằm xác định là chúc
thư "thật" đã có trong tay họ rồi. Tin ấy được đăng tải chính thức trên mạng
Calitoday suốt nhiều ngày, nói là tin từ Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
(PTTPGQT); nhưng mặt khác, cũng trang lưới này phỏng vấn Thượng tọa Viên Lý về
sự kiện suy tôn và danh sách mới này thì được trả lời là hoàn toàn không nghe,
không biết gì.
(Sau Lễ Tưởng Nguyện và Thọ Tang ở Chùa Diệu Pháp,
bản tin này đã được lấy xuống).
Cũng
có người nhận xét rằng sở dĩ PTTPGQT nói là sẽ có lễ suy tôn và danh sách mới
của Hội đồng lưỡng viện là vì ông VVA đã soạn sẵn danh sách này rồi, muốn công
bố sớm trước khi có chúc thư thật đưa ra; nhưng vì bên nhà muốn công bố Chúc Thư
vào dịp chung thất Ôn Tăng Thống nên VVA đành thuận theo. Một tuyên bố khác của
ông VVA trước phóng viên đài Little Saigon TV ngày 17/7/2008 cũng chứng minh
rằng ông VVA đã có sẵn "Chúc Thư" dù rằng VHĐ cho biết sẽ công bố vào dịp Lễ
Chung Thất Ôn Tăng Thống ở trong nước vài tuần nữa. Chúc thư của Ôn Tăng Thống
nếu có để lại thì chỉ có chư vị trưởng lão trong Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương
mới có thẩm quyền mở ra, một cách công khai, và công bố trước Hội Đồng Lưỡng
Viện. Ông VVA chỉ là một phát ngôn nhân đang ở ngoài nước, làm sao biết được nội
dung thế nào mà nói là "đã biết mà chưa được phép tiết lộ vì chưa có lệnh của
giáo hội"! Chẳng phải là ông đã có sẵn một chúc thư, một danh sách sắp xếp nhân
sự mới rồi hay sao! Ông nôn nóng muốn công bố "chúc thư" trên tay ông, nhưng
phải gắng nhẫn nại chờ đợi. Thời gian từ lễ nhập tháp đến ngày chung thất là
thời gian thử xem có chúc thư của Ôn Tăng Thống xuất hiện từ một người nào hay
không, cũng vừa đủ để nghe ngóng tình hình và quyết định đưa ra một chúc thư như
ý. Thời gian ấy đối với ông VVA như ngồi trên lửa, không biết được chúc thư thật
sẽ xuất hiện lúc nào, và từ đâu đưa ra. Nếu có một chúc thư thật, bất kể từ đâu
và lúc nào công bố, cả sự nghiệp và mọi toan tính của VVA và CL sẽ tiêu thành
tro bụi. Do đó, có thể sẽ có một chiêu đánh phủ đầu trước: tung ra chúc thư giả,
tạo một trận hỏa mù trước khi công bố chúc thư "thật giả" được soạn sẵn.r
Chiêu thức tung hỏa mù chúc thư giả này, vừa có cơ hội để tấn công
những kẻ đối lập mà họ rất thù ghét và hãi sợ, vừa khiến cho chúc thư thật nếu
có được đưa ra từ môn đồ pháp quyến hay từ những người tín cẩn của Ôn Tăng Thống
sẽ không được mọi người tin nữa. Sau khi trận hỏa mù Chúc Thư giả tung ra rồi,
VVA lập tức tuyên bố trong Thông cáo báo chí ngày 22/7/2008 là
"Vậy
từ đây đến đó, mọi văn kiện tiếm danh Đức cố Đệ tứ Tăng thống đều là tài liệu
giả".
Từ đây đến đó tức là đến lễ chung thất,
ngày sẽ công bố "Di chúc và Giáo chỉ sắp đặt việc Phật sự tại hai Viện Tăng
thống và Viện Hóa Đạo" theo tuyên bố của Thượng tọa Thích Viên Định vào ngày
11/7/2008 mà ông VVA trích dẫn. Với lời tuyên bố trên, họ xem như đã tạm thời
yên tâm trong việc triệt hủy chúc thư thật trước khi nó xuất hiện.
Theo hướng đó,
người ta thấy trước những chi tiết sau đây sẽ xuất hiện trong Chúc Thư "được coi
là thật", được soạn từ Paris và công bố vào Lễ Chung Thất của Ôn Tăng Thống sắp
tới, trong nước và hải ngoại:
*-.
Suy tôn HT VT VHĐ lên ngôi vị Tăng
Thống hoặc Xử lý Thường Vụ VTT (thực ra, đúng theo Hiến chương, Đức Tăng Thống
không có thẩm quyền trao ngôi vị Tăng thống kế nhiệm cho vị khác mà phải do Đức
Phó Tăng Thống trong vòng 100 ngày kể từ khi Đức Tăng Thống viên tịch, triệu tập
Hội đồng Giáo phẩm Trung Ương để suy tôn tân Tăng thống);
*-.
HT QĐ có quyền quyết định trong
việc kiện toàn, chấn chỉnh, thay đổi, hoặc hoán chuyển nhân sự để đối ứng với
mọi tình huống
(nhằm bao che cho những hành động sai lầm phạm phải qua Giáo chỉ
số 2 và số 9) ;
*-.
HT Hộ Giác lên ngôi vị Phó Tăng Thống ;
*-.
HT CL làm Chủ tịch VPII ;
*-.
TT Thích Viên Định làm Viện trưởng
VHĐ ;
*-.
Sắp xếp những nhân sự khác của giáo hội trong và ngoài nước theo đề nghị của Ôn
(mà thực ra là ý của ông VVA – vì chính HT VT
đã có lần thưa với Ôn Tăng Thống là phần hành chánh và nhân sự thuộc về VHĐ,
không phải phần việc của Tăng Thống. Cho nên các giáo chỉ lưu nhiệm hay chúc thư
sắp xếp nhân sự phải biết là không phải phần việc của Tăng Thống. Ngài chỉ có
thể đề nghị, yêu cầu quan tâm điều này điều kia mà thôi) ;
*-.
Giáo chỉ số 2 và số 9 do Tăng thống
ban hành rất là cần thiết, nếu chưa khâm tuân thì hãy khâm tuân; xin khen ngợi
những vị chí thành khâm tuân
(lại cố gắng chứng minh và gán cho Ôn Tăng Thống hai
quyết định sai lầm trầm trọng này đối với lịch sử giáo hội) ;
*-.
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế lâu nay làm việc rất tích cực và hữu hiệu,
giáo hội ta nhờ PTTPGQT mà phát triển mạnh, được quốc tế biết đến, và được tồn
tại đến hôm nay, cho nên cần duy trì và phát triển cơ quan thông tin và vị phát
ngôn nhân này
(đây là chi tiết quan trọng mà bất
cứ văn kiện nào của Giáo hội cũng phải nêu ra, nếu không thì Giáo hội sẽ bị tiêu
diệt ngay, không còn ai bảo vệ được !)…
Đó là những điều
mà người ta muốn đưa vào Chúc Thư, không màng đến tâm nguyện và hoài bão thực sự
của Ôn Tăng Thống đối với giáo hội và Phật giáo như thế nào. Và nếu Chúc Thư,
giả giả, thật giả, mạo danh Ôn Tăng Thống, được một số người sử dụng để làm bàn
đạp tiến thân, hoặc để làm vững mạnh thêm vây cánh của mình, tôi thật là không
còn gì để nói.
Họ đã tán tận
lương tâm: lạm dụng danh nghĩa của Ôn Tăng Thống khi Ngài còn sinh tiền, và cho
đến khi Ngài viên tịch, họ vẫn không buông tha. Lịch sử mai sau không biết sẽ
ghi như thế nào về những hư ngụy gian trá của hôm nay nếu Ôn nhẫn nhục không lên
tiếng, không để lại chúc thư với thủ bút của Ôn. Nhưng tôi biết một điều: nhân
quả sẽ không sai chạy, và ác báo trước sau gì cũng sẽ đến với những người phạm
ngũ nghịch tội. Dù họ là những người "hết thuốc chữa", tôi vẫn cố gắng cầu
nguyện cho họ, ít ra là vào những giây phút cuối đời, sẽ thức tỉnh và sám hối
với Ôn Tăng Thống, với Tăng đoàn, và với giáo hội mà họ đang tâm phá nát.
Vancouver,
ngày 22 tháng 7 năm 2008.
Thích Siêu Phương
[1]
Tôi xin phép phải lược bỏ giới phẩm và họ Thích ở đây, vì thực tâm tôi thấy vị
này không xứng đáng được sử dụng bất cứ danh xưng hay phẩm vị nào của Phật giáo.
[1]
Năm tội cực ác mà người phạm phải có thể đọa vào địa ngục Vô gián, cho nên còn
gọi là Ngũ Vô gián tội, gồm có: giết cha, giết mẹ, giết a-la-hán, làm thân Phật
đổ máu, và phá hòa hợp tăng.