VÀI CẢM NGHĨ NHÂN ĐỌC BÀI:
“DUYÊN NỢ HOÀNG TRIỂU CƯƠNG THỔ CỦA ĐỨC HOÀNG THÁI HẬU ĐOAN HUY” CỦA ÔNG NGÔ
TRỌNG ANH
Như
Thuyết
Liên tục từ mấy tháng nay, ông Ngô Trọng Anh (NTA) đã cùng với
những người nhân danh “trung kiên” với GHPGVNTN không tiếc lời xuyên tạc, mạ lị,
vu khống, chụp mũ chư tôn đức Tăng Già trong và ngoài nước trong đó có Cố Đại
lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ là “tay sai, thỏa hiệp, bán đứng GHTN cho Cộng Sản”.
Nhưng giờ đây, trong bài viết này người đọc có thể nghĩ rằng ông NTA có vẻ như
là đã thấy được phần nào sự thật về những gì Cố Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ
đã một lòng phụng sự và hy sinh cho Đạo Pháp và Dân Tộc. Tôi nói có vẻ như là,
vì thật ra đọc kỹ toàn bài viết, người đọc mới thấy được những quan điểm nhuốm
màu tư kiến và những nhận định đầy chủ quan một chiều mà ông NTA đã từng phạm
phải trước đây vẫn còn nguyên vẹn. Để chứng thực điều đó, tôi xin nêu ra một số
sai lầm tiêu biểu để cho ông NTA và quý độc giả tham tường.
1.- Trong bài viết, ông NTA cố ý để cho người đọc thấy được sự
kính trọng của ông đối với Cố Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ, nhưng tôi thấy
ông chỉ nói bằng miệng mà không thành tâm thành ý. Tại sao ? Ông NTA đã viết :
“Âu cũng nhờ tiền duyên túc trái may mắn thế nào mà tôi (NTA)
gặp ngay HT Thích Trí Thủ (HTTTT viết tắt Ngài
HT3)
nhiều lần ở Đà Lạt, NhaTrang, Buôn Mê Thuột, Huế, Đà nẳng và Saigon.”
Tại sao quý danh của một vị Cố Đại lão Hòa Thượng đạo cao đức
trọng là thạch trụ tòng lâm của Phật Giáo Việt Nam mà ông NTA đã không đủ kiên
nhẫn viết ra từng chữ để xưng danh ngài, đến nỗi ông NTA phải dùng cách viết gọn
nhất trong cách viết tắc (HT3) để viết quý danh của ngài ? Ông NTA là một cư
sĩ Phật tử tôi không biết ông có tu tập, có niệm Phật mỗi ngày hay không ? Nếu
ông có tu tập, có niệm danh hiệu chư Phật, chư Bồ tát, chư tổ sư thì ông đã hiểu
rằng mỗi khi niệm danh hiệu của quý ngài chúng ta phải niệm rõ ràng (dù mặc niệm
trong tâm), đầy đủ và nhất tâm. Việc niệm danh hiệu hay viết danh hiệu của một
vị cao tăng, như Cố Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ, ông còn không làm được
trọn vẹn thì nói gì đến chuyện quý trọng, chuyện thành tâm thành ý đối với ngài!
Thú thật, đọc mấy chữ “HT3” của ông NTA, sao tôi thấy nó giống một ký hiệu toán
học hay tên một hóa chất nào đó hơn là danh hiệu của một vị Cố Đại lão Hòa
Thượng tôn túc. Có lẽ ông NTA đã méo mó nghề nghiệp rồi đấy! Khi ông NTA viết
danh hiệu của một vị Hòa Thượng mà tâm trí ông cứ nghĩ đến mấy cái ký hiệu toán
học và hóa học đã theo ông từ thuở nhà trường đến khi làm công binh xây cầu cống
cho đến nay. Nhân tiện, tôi thật tò mò muốn biết, ông NTA có ý định sáng chế ra
cách viết tắt gọn nhất đối với danh hiệu của chư Phật, chư Bố tát và lịch đại tổ
sư để cho Phật tử có thể đọc tụng danh hiệu quý Ngài nhanh và gọn không ? Nếu
có thì xin phổ biến cho biết.
2.-
Bằng cái tâm hời hợt như vậy, cho nên, ông đã phạm phải nhiều sai lầm trong bài
viết là điều tất nhiên. Ông NTA đã viết :
“Những bậc Cao tăng hay Đại cư sĩ lãnh đạo, từ năm 1932 Hội An
Nam Phật Học cho đến năm 2008 Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đều có tổ
tiên trực tiếp với phong trào Cần Vương
(từ thời Vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân)
; tất cả các ngài đều sinh quán trong vùng Bình Trị Thiên, Lào ngoại trừ Bác Sĩ
Lê Đình Thám sinh quán Quảng Nam :
1.-
Bà Từ Cung, khuê danh Hoàng Thị Cúc, gốc Phú Lộc, Thừa Thiên Huế.
2.-
Hòa thượng Thích
Trí Thủ sinh quán làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong, Quảng Trị.
3.-
Hòa thượng Thích
Đôn Hậu, sinh quán làng Xuân An, tổng An Đồn, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Năm 1946 Ngài bị quân đội Pháp sắp sữa đem chôn sống thì có người chạy về cấp
báo với Đức Từ Cung kịp thời cứu Ngài.
4.-
Thượng Tọa Thích
Trí Quang sinh năm Giáp Tý (1924), tại làng Diêm Điền, tỉnh Quảng Bình.
5.-
Lê Mạnh Thát hay Thượng tọa Thích Trí Siêu sinh ngày 15 tháng 4 năm 1944 tại
Quảng Trị
6.-
Phạm Văn Thương
hay Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ sinh ngày 15-2-1943 tại Paksé, Lào, nguyên quán
Quảng Bình.
7.-
Cư sĩ Tâm Minh- Lê
Đình Thám sanh năm Đinh Dậu (1897) tại làng Đông Mỹ (Phú mỹ, phủ Điện Bàn, tỉnh
Quảng
Nam- Đà Nẵng). Thân sinh là Binh Bộ Thượng Thư Lê Đỉnh ở triều Tự đức. Khi ra
trường với danh hiệu Y sĩ, đúng lúc phong trào Duy Tân khởi nghĩa bị thất bại,
bào huynh Y sĩ Lê Đình Dương bị Pháp tù đày tại Buôn Mê Thuột. Năm 1932 Hội An
Nam Phật Học ra đời; chư Cao Tăng mời Bác Sĩ làm Hội trưởng.”
Ông NTA, sao lại có chuyện kỳ lạ như vậy ? Từ Hội An Nam Phật Học
năm 1932 cho đến GHPGVNTN năm 2008, Phật Giáo Việt Nam chỉ có vỏn vẹn 8 vị
(thêm ông NTA, vì ông
khiêm tốn không viết ra) vừa cao Tăng, vừa đại cư sĩ lãnh đạo
hay sao? Còn hàng trăm chư vị tôn túc Tăng, Ni và các vị đại cư sĩ khác ở khắp
Nam Trung Bắc đi đâu mất hết rồi ? Không lẽ bà Hoàng Thái Hậu Đoan Huy của ông
NTA là nhà lãnh đạo Phật Giáo còn đạo cao đức trọng hơn chư tôn túc Tăng, Ni
khác ? Xem ra cái “Hoàng Triều Cương Thổ” của ông NTA quả thật là thiên hạ đệ
nhất ! Chẳng trách gì suốt mấy tháng nay nhiều bài viết của nhóm ông VVA và
HTCL đã không ngừng xuyên tạc, vu khống, chụp mũ và mạ lị những ai có liên quan
đến cái địa danh “Hoàng Triểu Cương Thổ” ấy !
Nhưng chuyện này, tôi cho là chỉ có ông NTA và nhóm của ông VVA và
HTCL là coi trọng mà thôi, còn chư tôn túc như cố Đại lão Hòa Thượng Thích Trí
Thủ, cố Đại lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Quang,
Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám và Giáo Sư Trí Siêu Lê Mạnh
Thát thì quý ngài đã không quan tâm đến. Bởi vì với đại nguyện “tịnh Phật quốc
độ và thành tựu chúng sinh” thì quý ngài ấy đâu có chấp nhất và phân biệt địa
phương như vậy. Đối với quý ngài tôn túc và đại thiện tri thức ấy, chỉ có chủng
tánh Như Lai mới là cao quý, đáng trọng, đáng thành tựu, mà chúng tánh Như Lai
thì bình đẳng vô sai biệt.
3. Ông NTA đã nhầm lẫn một số sự kiện lịch sử mà ông đã đưa ra
trong bài viết của ông. Tôi xin nêu ra mấy sự kiện như sau :
Ông NTA viết :
“Tại Đại hội Phật giáo
Việt Nam Thống nhất kỳ 7, họp tại chùa Ấn Quang, Chợ Lớn, ngày 23.01.1977 gồm
160 đại biểu của 54 đơn vị trong Giáo Hội, mà HT Trí Thủ nhân danh Viện trưởng
tân nhiệm kỳ đã ký thông bạch 7 điểm trong đó có điểm thứ 6 nguyên văn như sau :
“Đại hội cẩn ủy Giáo hội Trung ương
(quốc doanh)
tiếp tục vận động thống nhất Phật giáo cả nước trong tinh thần Đạo pháp và
truyền thống Dân tộc”.
“Năm 1979, Đức Đệ Nhị Tăng Thống, Hòa
Thượng Thích Giác Nhiên, Chùa Thuyền Tôn, Huế viên tịch. Đại Hội kỳ VIII vì nhà
cầm quyền Cộng Sản không cho phép tổ chức suy cử Ngài Đôn Hậu
làm Đệ Tam Tăng Thống, Hội Đồng Lưỡng Viện cung thỉnh Ngài Trí Thủ
kiêm nhiệm chức vụ Xử Lý Viện Tăng Thống.”
“Năm
1983,
đắc cử
Ủy viên đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.”
Ở đoạn thứ nhất, ông NTA đã đưa ra một thông tin sai lầm tai hại
khi ông đồng hóa GHTN với GH Quốc Doanh. Tại sao ? Bởi vì Thông Bạch mà Hòa
Thượng Thích Trí Thủ công bố là Thông Bạch của GHTN trong Đại Hội của GHTN, thì
làm gì có chuyện : “Đại hội cẩn ủy Giáo hội Trung ương
(quốc doanh)…”
Trong đoạn thứ hai, ông NTA nói rằng “Hội Đồng Lưỡng Viện cung
thỉnh Ngài Trí Thủ kiêm nhiệm chức vụ Xử Lý Viện Tăng Thống.” Điều này hoàn
toàn sai. Bởi vì Hội Đồng Lưỡng Viện không cung thỉnh Hòa Thượng Thích Trí Trủ
làm Xử Lý Viện Tăng Thống mà chính là cung thỉnh Hòa Thượng Thích Đôn Hậu làm
Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống.
Trong đoạn thứ ba, ông NTA nói rằng “Năm 1983, đắc cử Ủy viên
đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam
.” Điều này là sai. Tại sao? Bởi vì, Hòa Thượng Thích Trí Thủ đâu có tình
nguyện ra ứng cử vào MTTQ đâu mà nói là “đắc cử.” Chức vụ của Hòa Thượng Thích
Trí Thủ trong MTTQ chỉ là chức vụ do Đảng Cộng Sản Việt Nam khiên cưỡng áp đặt
cho Hòa Thượng, chứ Hòa Thượng nào có ứng cử đâu mà đắc cử ! Chính Hòa Thượng
Thích Trí Thủ là người phản đối quyết liệt chuyện GHPGVN là thành viên của MTTQ,
trong đó để GHPGVN ngồi ngang hàng với các hội phụ nữ, hội đá banh, hội đua ngựa,
ngay từ những ngày đầu vận động và soạn thảo Hiến Chương. Ông NTA từng nói thân
cận với Cố Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ sao không biết chuyện này hay là ông
biết mà cố tình không nói đến ?
4.- Ông NTA viết :
“HT Trí Quang
(bị Tướng Nguyễn Cao Kỳ bắt đem về gởi dưỡng đường Duy Tân của BS Nguyễn Duy Tài
sau vụ chính biến Miền Trung 1966. Theo Hồ sơ giải mật CIA Declassified CIA
Documents on the Vietnam War thì Ngài không phải Công sản, mà muốn đem chủ nghĩa
Duy Thần lại cho miền Nam).”
Khi trích nguyên văn một đoạn như trên mà không có giải thích rõ
lập trường của mình đối với quan điểm của tác giả đoạn văn ấy, có nghĩa là ông
NTA đã đồng thuận với quan điểm của đoạn văn mà ông trích. Trong đoạn văn ấy,
nói rằng : “HT Trí Quang… không phải Cộng sản, mà muốn đem chủ nghĩa Duy
Thần lại cho miền
Nam
.” Hòa Thượng Thích Trí Quang tất nhiên không là Cộng Sản. Mấy chục năm qua,
Hòa Thượng Thích Trí Quang đã giữ im lặng và chuyên lo việc phiên dịch và trước
tác kinh sách Phật học để nêu cao giá trị tối thượng của Chánh pháp trong thời
mạt pháp. Gần đây một số người vì thiên kiến, tư kiến, thành kiến trong Phật
Giáo cấu kết với những phần tử ngoại đạo và các thế lực chính trị manh động bên
ngoài để chụp mũ và mạ lị nhiều vị tôn túc trong đó có Hòa Thượng Thích Trí
Quang, nhưng ngài vẫn im lặng. Những người chống phá Hòa Thượng Thích Trí Quang
vì tầm nhìn thiển cận và một chiều, họ không thấy rằng Phật Giáo Việt Nam còn có
những bậc Tăng bảo phạm hạnh thanh tịnh, giới đức và trí tuệ trang nghiêm là
thạch trụ trong chốn Tòng lâm, là ngọn đuốc sáng cho Tăng, Ni và Phật tử soi.
Chủ nghĩa Duy Thần là chỉ cho các các chủ nghĩa, các tôn giáo thần quyền. Phật
Giáo có phải là chủ nghĩa Duy Thần hay không, tôi nghĩ tự thân ông NTA chắc đã
có câu trả lời. Hòa Thượng Thích Trí Quang là một cao tăng của Phật Giáo Việt
Nam sao lại chấp nhận chủ nghĩa Duy Thần ? Tôi không biết ông NTA đã đọc hết
các dịch phẩm phiên dịch Kinh Luật Luận và các tác phẩm viết về Phật Học và Phật
Giáo của Hòa Thượng Thích Trí Quang chưa ? Nếu chưa tôi nghĩ ông NTA tốt nhất
hãy đọc những tác phẩm này để hiểu một cách chính xác Hòa Thượng Thích Trí
Quang muốn gì cho Phật Giáo Việt Nam .
5.- Trong một đoạn khác, ông NTA đã viết :
“Vụ tự thiêu 12 Tăng Ni tại Thiền Viện Dược Sư tỉnh Cần Thơ ngày 02
tháng 11 năm 1975
(ngày 29 tháng 9 Ất Mão)
là ngòi nỗ đầu tiên làm bùng lên cao trào Pháp Nạn cộng sản, từ đó lại lan rộng
ra khắp nơi tiếp tục tranh đấu bằng phương pháp tự thiêu, một phương pháp quá
khích chỉ có giá trị thời đệ nhất Cộng hòa mà thôi.”
Ông NTA gọi việc tự thiêu của chư tôn đức Tăng, Ni và Phật tử
Việt
Nam
là “phương pháp quá khích chỉ có giá trị thời đệ nhất Cộng hòa mà thôi.”
Đã là “phương pháp quá khích” sao lại còn “có giá trị thời đệ nhất
Cộng hòa” ? Việc tự thiêu trong Phật Giáo không giống việc tự sát hay việc
ôm bom tự sát mang tính cách bạo động của những người cuồng tín, cực đoan và quá
khích bên ngoài thế gian cho nên, việc tự thiêu không phải là hành động, là “phương
pháp quá khích”. Việc tự thiêu trong Phật Giáo là một phương thức cúng
dường Tam Bảo bằng tâm niệm từ bi và trí tuệ vô ngã. Trong Kinh Pháp Hoa, Phẩm
Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự, thứ 23, Bồ Tát Dược Vương sau khi nghe Kinh Pháp Hoa,
tu tập và thành tựu Tam muội, vì muốn cúng dường đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh
Đức mà tự thiêu để dùng thân làm đuốc. Hạnh nguyện vô ngã cao cả ấy đã làm chấn
động cả tam thiên đại thiên thế giới, khiến cho chư Phật trong mười phương đều
tán thán :
“Hay thay ! Hay thay !
Thiện nam tử ! Đó là chân thực tinh tấn gọi là chân pháp cúng dường Như Lai.”
Bồ Tát Quảng Đức cũng
trong hạnh nguyện ấy đã làm chấn động lương tâm nhân loại đối với pháp nạn 1963
của Phật Giáo Việt
Nam . Tất nhiên, trong Phật Giáo không ai khuyến tấn làm việc ấy, mà chỉ có
những ai liễu ngộ lý vô sinh mới tự mình phát nguyện tự thiêu.
6.- Ông NTA trích lại đoạn văn mà ông đã viết trước đây để nêu
ra cái mà ông gọi là “bốn đường hướng của Phật Giáo.” Ông viết :
“Bốn Đường Hướng Của Phật Giáo gồm Thầm lặng, Hòa hợp, Bùng nổ và
Bình phong 1-
Thầm lặng
gồm tất cả mọi xu hướng Phật Giáo chống cộng sản, tạm chia a) vì thiếu chữ Dũng,
như HT Trí Quang. b) sợ liên lụy đến gia đình, c) nương tựa Cao Tăng làm bình
Phong để tu học lo giải thoát bản thân d) Âm thầm nấp sau Bình Phong gặp thời cơ
thì bùng nổ. 2-
Hòa hợp
là lẽ đương nhiên, trên căn bản dung hóa của Phật giáo, nhưng không thể nào hòa
hợp, với ác đạo đấu tranh giai cấp. 3-
Bùng nổ
chống đối Việt cộng như Chư Tăng Ni và Phật tử
(trong đó có một số nguyện làm Pháp đăng tự thiêu, hoặc chống đối bằng Trí tuệ
Bát Nhã với Chư Cao Tăng dày kinh nghiệm như Chư HT Đức Nhuận, Huyền Quang,
Quảng Độ, ngoại trừ HT Đôn Hậu ban đầu chống HT Trí Thủ (vì lầm tưởng hòa giải
thật),
đặc biệt HT Thiện Siêu bị ép tháp tùng Nông Đức Mạnh ngày 21-2-1995 sang Âu Châu
lo giải độc cho Vụ Đàn Áp Phật Giáo Thống Nhất. Ngài im lặng hoàn toàn vô ngôn
bất động như ở quê nhà, không trả lời ký giả. 4-
Bình phong phải hòa hợp với Giáo Hội quốc doanh
bề ngoài, nhưng rất dễ bị lộ vô cùng nguy hiểm. Ngoài Bi và Trí phải có Dũng hy
sinh thân mạng đứng mũi chịu sào. Ngài Trí Thủ theo con đường của HT Thiện Hoa
tiền nhiệm vạch ra.”
Những tiêu đề mà ông NTA đặt ra để định danh cho “bốn đường
hướng của Phật Giáo” thực chất không nói lên được các đặc tính của Phật Giáo.
Vì sao ? Hành trạng của chư tôn túc Hòa Thượng làm gì có chuyện gọi là “bùng
nổ” hay “bình phong” ? Ông NTA làm như thể công cuộc vận động đòi quyền sinh
hoạt bình thường của Phật Giáo là một cuộc chiến tranh tuyên chiến bằng bạo lực
đối đầu mãnh liệt với một cơ chế chính trị đang cầm quyền không hơn không kém.
Trong khi thực chất đó chỉ là nguyện vọng ôn hòa, từ bi, bất bạo động của chư
tôn túc Hòa Thượng muốn được sinh hoạt đạo giáo bình thường để tiếp tục sứ mệnh
hoằng dương Chánh Pháp và phổ độ quần sinh. Nói đến “bình phong” là nói đến thủ
đoạn trong hành động nhằm che mắt đối phương để dễ bề thực hiện ý đồ của mình,
hoặc nặng nề hơn là hành động đánh lừa và dối gạt đối phương để có thể thực hiện
âm mưu không công khai của mình. Chư tôn túc Hòa Thượng làm Phật sự, bảo vệ đạo
pháp, bảo vệ Tăng, Ni, chống lại sự tàn hại của cái ác, của thế lực vô minh,
bằng cái tâm chính trực, bằng hạnh nguyện Bồ tát, bằng hành động quang minh
chính đại, sợ gì và sợ ai mà phải dùng đến chiêu thức “bình phong” ?
Ông NTA nói Hòa Thượng Thích Trí Quang “thiếu chữ Dũng”.
Nếu Hòa Thượng Thích Trí Quang thật sự “thiếu chữ Dũng” như ông NTA nói, thì Hòa
Thượng đã bị Cộng sản hoặc là tiêu diệt, hoặc là làm tay sai cho họ từ lâu rồi,
Ngài đâu còn ngồi đó vững như bàn thạch ! Ông NTA có nghe qua câu “mặc như lôi”
trong Phật Giáo? “Im lặng như sấm sét” ! Sự im lặng của Hòa Thượng Thích Trí
Quang mấy chục năm qua là sự im lặng như sấm sét đã làm cho Cộng Sản và các thế
lực manh động lo sợ !
Ông NTA hãy tự quán xét lại xem ai “thiếu chữ Dũng” ? Ông NTA
viết :
“Vì bà con thân quyến nội ngoại Nguyễn Khoa quá đông nên tôi
phải tránh né vì biết thế nào công an mật vụ cũng có mặt tại hiện trường trong
khi mình đang làm thủ tục đi theo diện ODP nay mai.”
Ông NTA phê bình và chê trách vị này vị kia là “thiếu chữ Dũng”,
trong khi ông không dám công khai ra mặt dự lễ cầu siêu cho một vị tướng của
quân lực VNCH đã tuẫn tiết khi miền Nam lọt vào tay chế độ Cộng Sản, tháng 4 năm
1975. Ông NTA vì chuyện đi ODP hay vì sợ công an mật vụ mà không dám ra mặt ?
Chuyện này chỉ có ông NTA mới biết! Nhưng ông NTA sơ cái gì ? Bất quá ông chỉ
đến tham dự một buổi lễ cầu siêu và tưởng niệm cho cố Trung tướng Nguyễn Khoa
Nam, như bao nhiêu Thầy, Phật tử và thân nhân khác. Tại sao những người khác
không sợ mà ông NTA sợ? Nếu ông NTA sợ thì tại sao còn đến đó làm gì? Đã đến
rồi tại sao ông NTA không dám ra mặt ? Sau khi cao bay xa chạy ra hải ngoại,
ông NTA mới dám lên tiếng, mới dám ra mặt và lớn tiếng chống Cộng !
Trên bình diện tự do ngôn luận và thao tác của tâm phân biệt, ông
NTA có quyền riêng của ông để muốn nói gì thì nói, muốn nhận định thế nào thì
nhận định. Nhưng, khi ông NTA đem cái tư kiến và tư dục của mình để nhận định
về hành trạng của chư vị tôn túc Hòa Thượng thì những nhận định đó không nói lên
được một phần hay toàn phần của bản nguyện độ sinh của quý ngài đâu. Vì sao?
Chư
vị tôn túc Hòa Thượng lấy thượng cầu Phật đạo và hạ hóa chúng sinh làm hành
trạng, cũng tức là mọi hành trạng của quý ngài đều bắt nguồn từ tâm bồ đề. Hay
nói cách khác, quý ngài dấn thân trên con đường của Bồ tát đạo. Hạnh nguyện của
Bồ tát không thể đem ra phân biệt theo tư kiến và tư dục của thế gian là “thầm
lặng”, là “hòa hợp”, là “bùng nổ”, là “bình phong”, như ông NTA đã làm trong
đoạn văn trích ở trên.
Bồ tát hành Phật đạo không cần danh, không cần tướng, không cần
quyền, không cần lợi. Bồ tát hành Phật đạo dựa trên nền tảng của Sáu Ba La Mật
và Bốn pháp nhiếp sự là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự cho nên, thường
hành đa thân hay đa phương thị hiện, không nhất định đóng kín trong một hình
thức nào đó. Bồ tát hành Phật đạo đa phương như ngài Quán Thế Âm đã thị hiện
trong thân tướng của Tiêu Diện Đại Sĩ thống lĩnh các loại cô hồn, ma quỷ. Không
lẽ với tâm phân biệt vì tư kiến và tư dục, ông NTA cũng cho rằng Bồ tát Quán Thế
Âm đã bị cô hồn ma quỷ mua chuộc? Bồ tát hành Phật đạo trong thời ngũ trược ác
thế và mạt pháp đa phần thị hiện mật hạnh, không nêu danh tánh, không phô trương
thanh thế, miễn sao có thể làm lợi lạc cho chúng sinh bằng cách này hay cách
khác. Chính vì vậy, đừng thấy vị Hòa Thượng này hay vị Tỳ kheo kia không làm
theo đường lối và tổ chức của mình thì liền vội vàng phê phán, vu khống, chụp mũ,
áp đặt bởi những danh xưng, phần loại, màu sắc thế này hay thế khác. Trong Kinh
Pháp Hoa, phẩm Tùng Địa Dõng Xuất, đã nói đến hàng vô lượng vô số chư Bồ tát đã,
đang và sẽ xuất hiện ở thế gian để hành Phật đạo, để truyền trì Chánh pháp và
giáo hóa chúng sinh. Trong vô số chúng sinh đang có mặt trên hành tinh này, làm
sao và lấy cái gì để ông NTA có thể chỉ định ra ai là Bồ tát, ai không là bồ tát?
Ông NTA đã biết chắc mình là ai chưa mà dám lớn tiếng cho người này là bồ tát,
người kia là ma quỷ ? Ma quỷ ở đâu, có phải đang ở trong chính cái tâm vọng
tưởng điên đảo của mình ?
Nhân đây tôi xin kể hầu độc giả và ông NTA một vài câu chuyện
liên quan đến Bồ Tát Quảng Đức và Pháp sư Thích Trí Độ. Về Bồ tát Quảng Đức, Cố
Đại lão Hòa Thượng Thích Đỗng Minh kể rằng, khi gặp Ngài Quảng Đức lúc sinh tiền,
Cố Hòa Thượng Thích Đỗng Minh, vì thấy thân tướng của Ngài Quảng Đức trông có vẻ
ông Thầy quê, cục mịch chơn chất, nên sinh tâm xem thường. Vì vậy, sau khi Ngài
Quảng Đức tự thiêu thị hiện hạnh cúng dường tối thắng của Bồ Tát Dược Vương, Cố
Hòa Thượng Thích Đỗng Minh cảm thấy áy náy vì đã đem tâm phân biệt nhìn một vị
Bồ Tát hành mật hạnh. Về Pháp Sư Thích Trí Độ, một ngày trước khi viên
tịch, Ngài đã tắm gội thanh tịnh, mặc y hậu chỉnh tề, lên Chánh điện Chùa Quán
Sứ, thắp hương đi đảnh lễ tất cả các bàn thờ trong Chùa, từ bàn thờ Phật, bàn
thờ Bồ tát, cho đến bàn thờ ký linh. Khi đi phúng điếu, Cố Đại Lão Hòa Thượng
Thích Trí Thủ đã đi câu liễn: NHẬP BẤT NHỊ MÔN. Xưng tụng cảnh giới thực chứng
và hành trạng siêu việt của Pháp Sư Thích Trí Độ như Bồ Tát Duy Ma Cật.
7.- Bằng tư kiến và tư dục, ông NTA viết tiếp :
“Còn lại là 3 hậu sinh nguy hiểm do HT Trí Thủ che
chở (TT Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát và Ni Sư Trí Hải).
“Cộng sản phải dùng mọi thủ đoạn ác dộc : Dùng Tăng diệt Tăng,
dùng đệ tử được HT Trí Thủ yêu quí nhất để GIẾT CHẾT Hòa Thượng một lần thứ hai,
tức dùng các vị có uy tín này để thành lập GHPGVNTN
tiếm danh để giết hết GHPGVNTN
thực danh
ngay cả khi 2 Ngài Huyền Quang và Quảng Độ còn tại thế. Theo ý tôi thì 3 hậu
sinh này đang bị áp lực Quốc tế vô cùng nặng nề của Tư Bản Xanh mạnh về thông
tin lừa gạt, giúp ngầm Tư Bản Đỏ mạnh về Công an đàn áp.”
….
“Dùng phe thân Giáo Hội quốc doanh Nhà Nước Xã Nghĩa
(Phái Tiếp Hiện, Thân Hữu Già Lam, Tăng Ni Hải Ngoại)
hướng dẫn Phật Tử chiêm bái Đại Nam Quốc Tự thờ Bụt Bồ Chí Minh.”
Ông NTA vì vọng động phân biệt quá cho nên đã bị tán tâm không còn
sáng suốt để nhận định đúng sai. Ông nói “thành lập GHPGVNTN tiếm danh để
giết hết GHPGVNTN thực danh.” Thứ nhất, nếu quả thật là “tiếm danh’ thì làm
gì có thể “giết hết” được cái “thực danh.” Tôi chưa bao giờ nghe trên thế gian
này có lối lý luận kỳ lạ như vậy rằng, cái giả có thể tiêu diệt cái thật, hay
nói rõ hơn, cái danh tức là tướng có thể tiêu diệt cái thật tức là thể. Người
ta nói “vàng thật không sợ lửa” là vậy. Thứ hai, ông NTA thử nêu ra cụ thể hiện
nay ở trong và ngoài nước cái nào là cái mà theo ông gọi là “GHPGVNTN tiếm danh”
và cái nào là cái “GHPGVNTN thực danh”? Ở trong nước từ trước đến nay chỉ có
một GHTN chứ chưa bao giờ có 2 GHTN. Ở hải ngoại, tại Úc Châu, Âu Châu và
Canada xưa nay chỉ có một GHTNHN không có GH nào khác lấy tên đó cả. Tại Hoa Kỳ,
sau khi Giáo Chỉ số 9 và Thông Bạch số 9 ra đời, 11 vị trong Văn Phòng II VHĐ
mới, dù chưa đủ quá bán thành viên trong hai Hội Đồng Giáo Phẩm và Điều Hành, đã
triệu tập Đại Hội Bất Thường rất bất thường tại Texas vào tháng 11 năm 2007 để
vội vã giành lấy cái tên GHTNHN/HK. Từ đó đến nay đâu có ai giành giựt gì cái
tên GHTNHN/HK đó đâu mà ông NTA nói là “tiếm danh” ?
Ộng NTA thật là hồ đồ khi viết rằng: “Còn lại là 3 hậu sinh
nguy hiểm do HT Trí Thủ che chở (TT Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát và Ni sư Trí Hải)”
Ông NTA viết như vậy thì thật là sai lầm. Thứ nhất, ông NTA tự mình chà đạp lên
tất cả những gì ông viết trong bài để cố gắng trả lại sự trong sạch (nếu thật sự
ông có thiện tâm này) cho Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ. Bởi vì, viết
như vậy, ông NTA cố tình tố cáo rằng Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ là
người bất minh nuôi ong tay áo mà không biết để đem thân ra che chở cho 3 vị hậu
sinh nguy hiểm! Thứ hai, ông NTA không sống đúng với tinh thần chân thật của
một cư sĩ Phật tử. Ông NTA dàn dựng bài viết như là biện minh cho Cố Đại Lão
Hòa Thượng Thích Trí Thủ, nhưng đó chỉ là sự lừa dối người đọc, vì thực chất ông
NTA muốn đổ trách nhiệm lên Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ về việc Ngài đã
che chở và nuôi dưỡng 3 vị hậu sinh nguy hiểm này để cho họ ngày nay “giết
hết GHPGVNTN thực danh”.
Ông NTA lấy chứng cứ gì để nói rằng :
“Dùng phe thân Giáo Hội quốc doanh Nhà Nước Xã Nghĩa
(Phái Tiếp Hiện, Thân Hữu Già Lam, Tăng Ni Hải Ngoại)
hướng dẫn Phật Tử chiêm bái Đại Nam Quốc Tự thờ Bụt Bồ Chí Minh”
?
Ông NTA hãy đưa ra bằng chứng cụ thể rằng Thân Hữu Già Lam, Tăng
Ni Hải Ngoại đã “hướng dẫn Phật Tử chiêm bái Đại
Nam Quốc Tự thờ Bụt Hồ Chí Minh.” Nếu ông NTA không đưa
ra được bằng chứng thực sự về điều mà ông tuyên bố trên thì ông NTA chính là
người vu khống, chụp mũ không bằng chứng đối với Thân Hữu Già Lam và Tăng Ni Hải
Ngoại !
Ông NTA đã viết :
“Những ngày tháng đáng ghi nhớ :
01-10-2003: Đại Hội Bất Thường đã họp Tiền Hội Nghị tại Tu Viện
Nguyên Thiều cung thỉnh thành viên Viện Tăng Thống và Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo
12/10/2003: Lễ Suy Tôn Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN tại Hải Ngoại (
Melbourne
)
26/3/2004: NGHỊ QUYẾT số 36/NQ-TW của Bộ Chính trị về công tác
đối với người Việt
Nam ở nước ngoài.
Hội Thân Hữu Già Lam thành lập từ tháng 3 năm 2004, khởi đi từ
cuộc họp mặt thân tình của các cựu học tăng chương trình đào tạo đặc biệt (hậu
đại học) tại Tu viện Quảng Hương Già Lam (1980-1984).”
Ông NTA viết như trên để cố tình làm cho người đọc nghĩ rằng việc
Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam công bố Nghi Quyết 36 và việc Hội Thân Hữu Già
Lam thành lập là hai sự kiện có liên quan với nhau. Đây là ác tâm của một người
chuyên môn sử dụng các thủ đoạn thâm độc trong những đảng phái chính trị bá đạo
để tàn hại đối thủ của mình. Đây tuyệt đối và hoàn toàn không phải là tâm lượng
từ bi bao dung và trí tuệ của một người Phật tử !
8.- Ông NTA dù quen biết với ông Hoàng Hải Thủy vẫn không học được
đức tánh trung thực và lương tâm chính trực của một người cầm bút: biết thì
viết, không biết thì không viết. Vì biết rằng những gì mình viết ra không đúng
sự thật sẽ không những tổn hại tư cách của mình mà còn gây tai họa cho người
khác. Chính vì với một tấm lòng trung hậu và ý thức rất rõ như vậy cho nên, ông
Hoàng Hải Thủy đã viết :
“Mới đây có tin hai Tu sĩ Tuệ Sĩ, Trí Siêu nay cộng tác với
chính quyền cộng sản. Có người thấy tôi từng ở tù với hai vị tu sĩ, muốn tôi
viết về hai ông. Tôi không biết gì về việc hai ông làm hiện nay. Tôi không thể
viết về hai ông được. Tôi đăng lại bài này để ghi lại một thời hai vị tu sĩ Già
Lam chống đối quyết liệt bọn cộng sản và hai ông đã bị bọn cộng sản đàn áp đến
như thế nào.. . . . .”
(Trích theo bài của ông NTA).
Ông NTA tự xưng là người đã có cơ duyên gần gũi và làm việc Phật sự
với nhiều vị Tôn túc Hòa Thượng, như trong bài ông đã nói, nhưng ông NTA đã
không học hỏi được gì nơi chư vị Hòa Thượng tôn túc đó. Từ đầu chí cuối ông chỉ
đến với đạo Phật để, như ông nói là: “(1955-2008
Từ Paris tôi vê Việt Nam đúng lúc gặp Ngài HT3 để lãnh Nghiệp (công quả Phật Sự)
từ đấy mãi đến giờ).”
Làm Phật sự mà theo ông NTS là “để lãnh nghiệp”. Như vậy, ông NTA đến với đạo
Phật là để tạo nghiệp chứ không phải để trợ giúp quý Hòa Thượng làm Phật sự, hay
không phải để học và tu theo giáo pháp của đức Phật để giải nghiệp.
9.- Thay lời kết.
Khi những người như ông NTA sử dụng cái tâm vô minh vọng động chứa
đầy tham, sân, si, mạn, nghi, thiên kiến, biên kiến để nhận định, phê bình, xét
đoán, vu khống, chụp mũ và kết tội chư tôn đức Tăng, Ni và các cư sĩ Phật tử
không theo lề lối suy tư, đường lối hoạt động của họ, cho rằng vị Hòa Thượng này,
vị Thượng Tọa kia, ông cư sĩ nọ, là đầu hàng, là hòa hợp, là thân Cộng, là Cộng
Sản, thì điều đó chứng tỏ một sự kiện minh bạch là, chính những người như ông
NTA đã hoàn toàn chưa bao giờ thấy được chân giá trị lợi lạc và siêu việt của
Phật Pháp, chưa bao giờ nếm được Pháp Vị của Phật Pháp. Tại sao?
Bởi vì, nếu những người như ông NTA mà đã từng một lần nhận chân ra
được giá trị lợi lạc và siêu việt của Phật Pháp hay một lần nếm được Pháp vị thì
dứt khoát hiểu ra được rằng những ai đã nếm được Pháp Vị của chư Phật thì những
người đó sẽ không bao giờ vì bất cứ lợi lạc giả tạm nào trên thế gian này mà
chối bỏ hay làm tổn hại đến Phật Pháp, mà cam tâm chạy theo bã danh lợi phù
phiếm của thế gian! Điều này giống như khi một người biết được mình đang có
trong tay viên bảo ngọc vô giá thì người đó chắc chắn sẽ không bao giờ chịu bỏ
viên bảo ngọc để đổi lấy những hòn sỏi đá !
Ông NTA và những ai đó đánh giá quý Hòa Thượng, Thượng Tọa và cư sĩ
Phật tử dễ dàng từ bỏ Chánh pháp, xoay lưng lại với Đạo Pháp, cam tâm cuối đầu
trước các thế lực thế gian, vì ông NTA và những ai đó chưa bao giờ biết tu tập,
biết nếm Pháp vị của Chánh pháp là gì. Ông NTA và những ai đó vì không có một
chút chánh tín nào với chính mình cho nên “lấy bụng mình suy bụng người” !
Ôi, như vậy mà làm sao Chánh pháp không suy vi, Giáo Hội không
nghiêng ngửa!
Please press HOME to go back to the main web page
HOME